BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BÙI VĂN KIÊN
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ
BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ
QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2013 LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK.60720412
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Song Hà.
Nơi thực hiện: - Trường đại học Dược Hà Nội
- Trung tâm Y tế quận Long Biên – TP. Hà Nội
Thời gian thực hiện: năm 2014
HÀ NỘI 2014
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
1.4 Vài nét về Trung tâm Y tế quận Long Biên 16
1.4.1 Vị trí, chức năng 16
1.4.2 Tổ chức bộ máy 17
1.4.3 Nhiệm vụ, quyền hạn 19
Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.4 Kỹ thuật thu thập số liệu 21
2.5 Xử lý số liệu 21
2.6 Phương pháp trình bày số liệu 21
2.7 Phương pháp chọn mẫu 21
2.8 Nội dung nghiên cứu 23
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
28
4.1.2 Cơ cấu thuốc đái tháo đường theo nguồn gốc, xuất xứ 46
4.1.3 Cơ cấu thuốc đái tháo đường theo tên gốc, tên biệt dược 46
4.1.4 Thuốc chủ yếu trong danh mục thuốc Trung tâm 47
4.1.5 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo phương pháp ABC 47
4.2 Về hoạt động kê đơn thuốc điều trị bệnh đái tháo đường 48
4.2.1 Phân tích các chỉ tiêu thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú 48
4.2.2 Các chỉ số sử dụng thuốc 50
4.2.3 Tương tác thuốc 51
Kết luận
52
Kiến nghị
54
Tài liệu tham khảo
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các thuốc điều trị bệnh đái tháo đường 11
Bảng 1.2 Cơ cấu lao động của Trung tâm 17
Bảng 2.1 Nhóm các chỉ tiêu về cơ cấu và chi phí thuốc 24
Bảng 2.2 Nhóm các chỉ tiêu thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú 25
Bảng 2.3 Nhóm các chỉ số sử dụng thuốc 26
Bảng 2.4 Tương tác thuốc trong đơn 27
Bảng 3.1 Cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm tác dụng dược lý 28
Bảng 3.2 Danh mục thuốc sử dụng cho bệnh nhân 30
Bảng 3.3 Tỷ lệ thuốc nội, thuốc ngoại 30
Bảng 3.4 Tỷ lệ thuốc nội, thuốc ngoại trong điều trị bệnh đái tháo đường 31
Bảng 3.5 Cơ cấu thuốc đái tháo đường theo tên gốc, tên biệt dược 32
Bảng 3.6 Thuốc chủ yếu trong DMT Trung tâm 32
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Chu trình sử dụng thuốc 3
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy TTYT quận Long Biên 17
Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu 23
ĐẶT VẤN ĐỀ
“Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và Rối loạn chuyển hoá” - Dự
báo của các chuyên gia y tế từ những năm 90 của thế kỷ XX đã và đang trở thành
hiện thực [5]. Trong đó, đái tháo đường là bệnh không lây nhiễm được WHO
quan tâm hàng đầu trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
Đái tháo đường là bệnh mang tính xã hội cao ở nhiều quốc gia bởi tốc độ
phát triển nhanh chóng, mức độ nguy hại đến sức khoẻ. Đái tháo đường còn trở
thành lực cản của sự phát triển, gánh nặng cho toàn xã hội khi mà mỗi năm thế
giới phải chi số tiền khổng lồ từ 232 tỷ đến 430 tỷ USD cho việc phòng chống và
điều trị [5].
Theo WHO, năm 1985 có khoảng 30 triệu người mắc đái tháo đường trên
toàn cầu, năm 2004 có khoảng 98,9 triệu người mắc, tới nay khoảng 180 triệu
người và con số đó có thể tăng gấp đôi lên tới 366 triệu người vào những năm
2030 [4]. Đây là một trong ba căn bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất và là một
trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển.
Việt Nam không xếp vào 10 nước có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao nhưng
lại là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh. Một nghiên cứu của Bệnh viện
Nội tiết Trung ương vào cuối tháng 10 - 2008 cho thấy, tỷ lệ mắc đái tháo đường
ở Việt Nam tăng nhanh từ 2,7% (năm 2001) lên 5% (năm 2008), trong đó có tới
65% người bệnh không biết mình mắc bệnh [5].
Đái tháo đường đang là vấn đề thời sự cấp bách của sức khoẻ cộng đồng.
Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về đái tháo đường đã được tiến hành
trên phạm vi cả nước.
Biện pháp hữu hiệu để làm giảm tiến triển, biến chứng của bệnh và giảm
chi phí cho chữa bệnh là phải phát hiện sớm, điều trị kịp thời và sử dụng thuốc
hợp lý. Góp phần tìm hiểu vấn đề này tôi tiến hành đề tài: “Phân tích hoạt động
sử dụng thuốc điều trị bệnh đái tháo đường tại Trung tâm Y tế quận Long
Biên – TP. Hà Nội năm 2013”.
3Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 Sử dụng thuốc trong bệnh viện
1.1.1Chu trình sử dụng thuốc
Sử dụng thuốc là một trong bốn nội dung của hoạt động cung ứng thuốc
trong bệnh viện. Vấn đề sử dụng thuốc trong bệnh viện bao gồm các nhiệm vụ kê
đơn, cấp phát thuốc, hướng dẫn sử dụng thuốc, các hoạt động giáo dục truyền
thông về sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, theo dõi ADR của thuốc.
Vấn đề sử dụng thuốc đã và đang là vấn đề quan tâm hàng đầu trong công
tác dược. Sử dụng thuốc không hợp lý tất yếu gây nên hậu quả nghiêm trọng như
làm tăng chi phí cho hoạt động chăm sóc sức khỏe, giảm chất lượng điều trị, tăng
nguy cơ xảy ra phản ứng có hại và sự lệ thuộc vào thuốc của bệnh nhân vì vậy
theo WHO thì: “Sử dụng thuốc hợp lý là phải đáp ứng được yêu cầu lâm sàng của
người bệnh ở liều thích hợp trên từng cá thể người bệnh (đúng liều, đúng khoảng
cách đưa thuốc và đúng thời gian đưa thuốc). Thuốc phải đáp ứng yêu cầu về chất
lượng, giá cả phù hợp nhằm giảm tới mức thấp nhất chi phí cho người bệnh và
cộng đồng”. Như vậy để đánh giá vấn đề sử dụng thuốc hợp lý cần thỏa mãn đúng
thuốc, đúng liều, đúng thời gian và đúng giá.
Quá trình sử dụng thuốc có thể được thể hiện theo chu trình sau:
- Bệnh nhân ngoại trú: kê vào đơn thuốc
Người kê đơn (người chỉ định)
- Bác sỹ;
- Y sĩ tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn (gọi chung là trạm y tế xã) và
bệnh viện huyện, quận, thị xã, thành phố (gọi chung là bệnh viện huyện)
chưa có bác sỹ chịu trách nhiệm về chỉ định dùng thuốc cho người bệnh;
- Lương y, y sĩ y học cổ truyền tại các trạm y tế xã và bệnh viện huyện
chịu trách nhiệm về chỉ định các thuốc đông y, thuốc từ dược liệu cho
người bệnh;
- Hộ sinh viên tại các trạm y tế xã khi không có bác sĩ, y sĩ được chỉ định
thuốc cấp cứu trong trường hợp đỡ đẻ.
Thuốc chỉ định cho người bệnh cần bảo đảm các yêu cầu sau:
- Phù hợp với chẩn đoán và diễn biến bệnh
- Phù hợp tình trạng bệnh lý và cơ địa người bệnh
- Phù hợp với tuổi và cân nặng
- Phù hợp với hướng dẫn điều trị (nếu có)
- Không lạm dụng thuốc.
Cách ghi chỉ định thuốc
- Chỉ định dùng thuốc phải ghi đầy đủ, rõ ràng vào đơn thuốc, hồ sơ bệnh án,
không viết tắt tên thuốc, không ghi ký hiệu. Trường hợp sửa chữa bất kỳ nội dung
nào phải ký xác nhận bên cạnh.
5- Nội dung chỉ định thuốc bao gồm: tên thuốc, nồng độ (hàm lượng), liều
dùng một lần, số lần dùng thuốc trong 24 giờ, khoảng cách giữa các lần dùng
thuốc, thời điểm dùng thuốc, đường dùng thuốc và những chú ý đặc biệt khi dùng
thuốc.
- Ghi chỉ định thuốc theo trình tự: đường tiêm, uống, đặt, dùng ngoài và các
đường dùng khác.
- Công khai thuốc dùng hàng ngày cho từng người bệnh bằng cách thông báo
cho người bệnh trước khi dùng thuốc, đồng thời yêu cầu người bệnh hoặc người
nhà ký nhận vào Phiếu công khai thuốc. Phiếu công khai thuốc để ở kẹp đầu hoặc
cuối giường bệnh.
- Hướng dẫn, giải thích cho người bệnh tuân thủ điều trị.
- Kiểm tra thuốc so với y lệnh, kiểm tra hạn sử dụng và chất lượng cảm quan
của thuốc. Khi phát hiện những bất thường trong y lệnh như chỉ định sử dụng
thuốc quá liều quy định, đường dùng không hợp lý hoặc dùng nhiều thuốc đồng
thời gây tương tác, điều dưỡng viên phải báo cáo với thầy thuốc điều trị hoặc thầy
thuốc trực.
- Đảm bảo 5 đúng trong sử dụng thuốc.
- Trực tiếp chứng kiến người bệnh dùng thuốc và theo dõi phát hiện kịp thời
các bất thường của người bệnh trong khi dùng thuốc.
Sau khi người bệnh dùng thuốc
- Theo dõi thường xuyên để kịp thời xử trí các bất thường của người bệnh. Ghi
chép đầy đủ các diễn biến lâm sàng của người bệnh vào hồ sơ bệnh án.
- Bác sĩ điều trị có trách nhiệm theo dõi tác dụng của thuốc và xử lý kịp thời
các tai biến do dùng thuốc, ghi sổ theo dõi phản ứng có hại của thuốc.
- Ghi cụ thể số thuốc điều trị cho mỗi người bệnh, mỗi khi thực hiện xong một
thuốc phải đánh dấu thuốc đã thực hiện.
- Bảo quản thuốc còn lại (nếu có) theo đúng yêu cầu của nhà sản xuất.
- Xử lý và bảo quản dụng cụ liên quan đến dùng thuốc cho người bệnh theo
đúng quy định.
Như vậy việc tuân thủ hướng dẫn sử dụng thuốc phụ thuộc vào những hiểu biết
của người bệnh về bệnh, về thuốc cũng với sự hướng dẫn về thuốc của bác sỹ
khám bệnh, tư vấn và dược sỹ cấp phát hướng dẫn sử dụng.
7
phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số;
- Nếu có sửa chữa đơn phải ký, ghi rõ họ tên, ngày bên cạnh;
- Gạch chéo phần đơn còn giấy trắng. Ký, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê
đơn.
81.1.2.2 Kê đơn thuốc trong điều trị nội trú
- Với những bệnh nhân phải điều trị nội trú trong bệnh viện, bác sỹ điều trị ghi
y lệnh dùng thuốc trong phiếu điều trị hàng ngày của hồ sơ bệnh án. Việc kê đơn
thuốc trong điều trị nội trú thực hiện theo Thông tư số 23/2011/TT-BYT ngày 10
tháng 6 năm 2011 về việc hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có
giường bệnh
1.1.2.3 Các chỉ số kê đơn
- Số thuốc trung bình trên một lần khám
- Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê đơn gốc
- Tỷ lệ phần trăm lần khám có kê kháng sinh
- Tỷ lệ phần trăm lần khám có kê thuốc tiêm
- Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê trong danh mục thuốc thiết yếu hoặc danh mục
thuốc chủ yếu của đơn vị.
1.1.3 Danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện
- Danh mục thuốc bệnh viện là danh mục những thuốc cần thiết thoả mãn nhu
cầu khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của bệnh viện phù hợp
với mô hình bệnh tật, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng
bệnh viện và khả năng chi trả của người bệnh. Những loại thuốc này trong một
phạm vi thời gian, không gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn
có sẵn bất cứ lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích
hợp, giá cả hợp lý.
- Căn cứ vào Quyết định 17/2005/QĐ-BYT ngày 01 tháng 7 năm 2005 của Bộ
Y tế về việc ban hành danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam lần thứ V và danh
quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin [4].
Khái niệm khác, ĐTĐ là do thiếu hụt insulin về số lượng hoặc về chất lượng
dẫn đến tăng glucose máu, có thể có đường trong nước tiểu, kèm theo rối loạn
chuyển hoá lipid, protid và các tổn thương của hệ mạch [20].
Người bình thường, glucose máu dao động từ 4,4 – 6,1mmol/L hay 80 –
110mg/dL. Thông thường, nồng độ glucose máu vượt quá 10mmol/L là xuất hiện
glucose trong nước tiểu. Nồng độ glucose máu mà khi vượt quá giá trị này sẽ có
glucose trong nước tiểu gọi là ngưỡng thải đường – hay ngưỡng thận [8].
Sẽ được kết luận là ĐTĐ khi:
– Hoặc nồng độ glucose máu lúc đói 7,0mmol/L (hay 126mg/dL)
10- Hoặc nồng độ glucose máu thời điểm bất kỳ 11,1mmol/L (hay
200mg/dL) kết hợp với các triệu chứng lâm sàng của ĐTĐ (uống nhiều, tiểu
nhiều, có glucose trong nước tiểu, gầy sút…)
- Hoặc nồng độ glucose máu 11,1mmol/L (hay 200mg/dL) ở thời điểm 2h
sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống.
1.2.2 Phân loại bệnh đái tháo đường
Dựa vào sinh lý bệnh, ĐTĐ được chia thành hai nhóm cơ bản [3], [8]:
– ĐTĐ typ 1 (ĐTĐ phụ thuộc insulin): do tổn thương hoặc suy giảm chức
năng tế bào β nguyên phát của đảo Langerhans tụy. Tụy không bài tiết đủ insulin
nên phải điều trị bằng insulin bổ sung từ bên ngoài vào.
– ĐTĐ typ 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin): do kháng insulin kết hợp với
giảm khả năng bài tiết insulin, tổn thương tại receptor insulin (giảm số lượng hoặc
giảm tính cảm thụ của receptor). Insulin máu vẫn bình thường hoặc có khi còn
tăng.
1.2.3 Các yếu tố nguy cơ của đái tháo đường typ 2
Mặc dù nguyên nhân gây bệnh chưa thật rõ, song các yếu tố nguy cơ gây tỷ lệ
mắc cao đã được chứng minh [3], [20]
12Bảng 1.1 Các thuốc điều trị đái tháo đường
STT Nhóm thuốc Hoạt chất
Phenformin
Buformin
Metformin
3 Glitazon Thiazolidinedion
4
Các thuốc ức chế
–glucosidase
Acarbose
Iglibose
Miglitol
Moglibose
voglibose
5 Insulin Insulin tác dụng chậm
Insulin tác dụng nhanh
Insulin hỗn hợp
131.3 Thực trạng bệnh đái tháo và sử dụng thuốc điều trị bệnh đái tháo đường
tại nước ta trong những năm gần đây
Trong những năm gần đây, tỷ lệ đái tháo đường gia tăng mạnh mẽ trên toàn
cầu, WHO đã lên tiếng báo động vấn đề nghiêm trọng này trên toàn thế giới. Theo
tổ chức Y tế thế giới, năm 2010 số người bị đái tháo đường 243 triệu người,
nhưng đến năm 2030 con số này sẽ là 430 triệu người, trong đó chủ yếu là đái
đồng. Nghiên cứu của Lê Cảnh Chiến tại Tuyên Quang; Hoàng Thị Đợi, Nguyễn
Kim Lương tại Thái Nguyên cũng cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở nữ cao hơn nam, ở
nhóm ít hoạt động thể lực cao hơn nhóm hoạt động thể lực nhiều [18], [21].
Thực hiện Quyết định số 172/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) phòng chống bệnh ĐTĐ. Chương
Trình Quốc Gia Phòng Chống Đái tháo Đường diễn ra trên 5 thành phố lớn: Hà
Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh và Cần Thơ với nhiều hoạt động thiết
thực, phong phú nhằm thức tỉnh ý thức cộng đồng và xây dựng một xã hội tích
cực, khỏe mạnh hơn. Ngoài ra, chương trình còn ra mắt một website chuyên trang
dành cho bệnh đái tháo đường tại www.songkhoe.net.vn nhằm tạo thêm một kênh
truyền thông cho người dân về căn bệnh này. Dự án phòng, chống bệnh đái tháo
đường vừa được bổ sung các mục tiêu: phấn đấu đạt chỉ tiêu 50% người dân trong
cộng đồng hiểu biết về bệnh đái tháo đường và các yếu tố nguy cơ đối với sức
khỏe do bệnh đái tháo đường gây ra; giảm tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường không
được phát hiện trong cộng đồng xuống dưới 60%.
Mới đây nhất, ngày 29/5 tại Hà Nội, Bộ Y tế phối hợp với Đại sứ quán
Vương quốc Đan Mạch tại Việt Nam tổ chức Hội thảo “Bệnh đái tháo đường
trong mối quan tâm về y tế toàn cầu” với sự tham gia của các nhà quản lý, các
chuyên gia trong và ngoài nước về lĩnh vực này. Phát biểu tại Hội thảo, Thứ
trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Xuyên nhấn mạnh bệnh đái tháo đường đang gia tăng
toàn cầu và đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với y tế và sự phát
triển của các quốc gia trong thế kỷ 21. Việt Nam hiện nằm trong nhóm những
quốc gia thu nhập trung bình và thấp sẽ phải chịu nhiều tác động lớn của căn bệnh
này. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam đã và đang có chiều hướng
gia tăng nhanh chóng ở hầu khắp mọi miền của cả nước, đặc biệt là tại các thành
phố lớn và khu công nghiệp. Theo Tổ chức Y tế thế giới và Liên đoàn Đái tháo
đường, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ gia tăng bệnh đái tháo đường
nhanh nhất thế giới. Rất nhiều người bệnh và gia đình cũng như các cơ sở y tế
đang phải chịu những gánh nặng về kinh tế cho chi phí rất lớn trong điều trị căn
15161.4 Một vài nét về Trung tâm Y tế quận Long Biên
Trung tâm Y tế quận Long Biên là một đơn vị sự nghiệp được thành lập
theo Quyết định số 162/2003/QĐ-UB ngày 26 tháng 11 năm 2003 của UBND
thành phố Hà Nội.
Căn cứ Quyết định số 12/2008/QĐ-UBND ngày 19 tháng 9 năm 2008 của
UBND thành phố Hà Nội về việc đổi tên Trung tâm Y tế dự phòng quận/huyện và
tương đương thành Trung tâm Y tế quận/huyện và tương đương; Xác định vị trí,
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy, biên chế của Trung tâm
Y tế quận/huyện và tương đương. Trung tâm Y tế quận Long Biên có vị trí, chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy, biên chế như sau:
1.4.1 Vị trí, chức năng:
a, Trung tâm Y tế quận Long Biên là đơn vị sự nghiệp y tế, chịu sự chỉ đạo toàn
diện của Sở Y tế Hà Nội, và quản lý nhà nước trên địa bàn của UBND quận Long
Biên, có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại Kho bạc theo
quy định của nhà nước.
b, Trung tâm Y tế quận có chức năng triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên
môn kỹ thuật về y tế dự phòng, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống bệnh xã
hội, an toàn vệ sinh thực phẩm, chăm sóc sức khỏe sinh sản và truyền thông giáo
dục sức khỏe trên địa bàn quận Long Biên.