Đánh giá thực trạng cung ứng vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng tại trung tâm y tế quận ngô quyền hải phòng năm 2013 - Pdf 29


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI



BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

BÙI KHÁNH HUY


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1. HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG VẮC XIN 3

1.1.1 Vài nét về chương trình Tiêm chủng mở rộng 3

1.1.2. Thực trạng cung ứng vắc xin tại Việt Nam 6

1.2. QUY TRÌNH CUNG ỨNG VẮC XIN 9

1.2.1. Lựa chọn vắc xin 10

1.2.2. Sử dụng vắc xin 11

1.2.2.1. Phác đồ TCMR 11

1.2.3.2. Phương tiện bảo quản vắc xin 16

1.2.3.3. Dụng cụ theo dõi dây chuyền lạnh ở cơ sở y tế 16

1.3. VÀI NÉT VỀ TTYT QUẬN NGÔ QUYỀN – HẢI PHÒNG 18

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 20


Chương 4: BÀN LUẬN 42

4.1. Hoạt động dự trù và sử dụng vắc xin 42

4.2. Hoạt động bảo quản vắc xin 46

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

1. Kết luận 48

2. Kiến nghị và đề xuất 49

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

LỜI CẢM ƠN
DPT Vắc xin phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván
HiB Viêm não mô cầu
OPV Vắc xin phòng Bại Liệt
TCMR Tiêm chủng mở rộng
TTYT Trung tâm Y tế
TYT Trạm Y tế
UNICEF Quỹ nhi đồng thế giới
UV Uốn ván
VG B Viêm gan B
VVM Chỉ thị nhiệt độ đông băng
WHO Tổ chức y tế Thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

1. Danh mục bảng biểu
Bảng 3.1. Số lượng dự trù và lĩnh vắc xin năm 2013
Bảng 3.2. So sánh số lượng vắc xin tính theo số trẻ mới sinh và số dự
trù thực tế
Bảng 3.3. Triển khai tiêm Vắc xin

giảm đi hàng chục đến hàng trăm lần. Sau 28 năm triển khai, chương trình
TCMR ở Việt Nam dự phòng cho 6,7 triệu trẻ em khỏi mắc 11 bệnh truyền
nhiễm và cứu 43 nghìn trẻ khỏi bị tử vong do các bệnh lao, bạch hầu, ho
gà, uốn ván, bại liệt và sởi.
Tuy nhiên trong thời gian gần đây đã xảy ra một số trường hợp phản
ứng phụ không mong muốn liên quan đến vấn đề tiêm chủng vắc xin. Phân
tích sâu các nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên chúng ta thấy có ba nguyên
nhân chính sau: Tỷ lệ trẻ dưới một tuổi tử vong hằng năm do nhiều nguyên
nhân; chất lượng vắc xin; quy trình tiêm chủng. Vì vậy để nâng cao chất
lượng và bảo đảm Chương trình TCMR tiếp tục được toàn dân ủng hộ và
tham gia nhằm giảm nhanh tỷ lệ mắc các bệnh cũng như tiến tới thanh toán
các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho trẻ em thì chất lượng tất cả các loại
vắc xin cần được bảo đảm bởi quy trình nghiêm ngặt từ nhà sản xuất đến
người sử dụng.
TTYT Quận Ngô Quyền Thành phố Hải Phòng là nơi trực tiếp quản
lý và tiến hành công tác TCMR tại các trạm Y tế phường trên địa bàn
Quận. Mỗi tháng có hàng nghìn trẻ em tới tiêm vắc xin phòng bệnh. Công
tác nâng cao chất lượng và bảo đảm tiêm chủng an toàn luôn là công việc
được đặt lên hàng đầu. Ngoài công tác giám sát các quy trình tiêm chủng
thì công tác cung ứng vắc xin cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Tuy nhiên hiện vẫn chưa có đánh giá sâu về công tác cung ứng, bảo quản

2
vắc xin tại TTYT.
Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Đánh giá thực trạng cung ứng vắc xin trong chương trình tiêm
chủng tại trung tâm y tế Quận Ngô Quyền – Hải Phòng năm 2013.
Mục tiêu của đề tài:
- Đánh giá thực trạng dự trù và sử dụng vắc xin tại TTYT Quận Ngô
Quyền năm 2013.

mở rộng dần cả về địa bàn và đối tượng tiêm chủng. Từ năm 1985 tới nay
toàn bộ trẻ em dưới 1 tuổi trên toàn quốc đã có cơ hội được tiếp cận với
Chương trình TCMR. Đến năm 2010, đã có 11 vắc xin phòng bệnh truyền
nhiễm phổ biến, nguy hiểm cho trẻ em được đưa vào Chương trình bao
gồm vắc xin phòng bệnh Lao, Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Bại liệt, Viêm
gan B, Sởi, Viêm não Nhật Bản, Tả, Thương hàn, Viêm phổi/ Viêm màng
não mủ do Hib.
Ngay từ khi đi vào hoạt động, TCMR đã phải đối mặt với không ít
khó khăn. Đó là điều kiện giao thông từ huyện đến xã nhất là đến những
thôn bản vùng sâu, vùng xa, ảnh hưởng đến tiếp cận dịch vụ tiêm chủng
của phụ nữ và trẻ em, nhận thức của cộng đồng và bà mẹ về tiêm chủng,
phòng bệnh còn hạn chế… Cơ sở y tế xã thường bị quá tải bởi nhiều dịch
vụ y tế. Nguồn kinh phí cho tiêm chủng hoạt động còn thiếu… Mặc dù vậy,
chương trình TCMR của Việt Nam đã từng bước khắc phục khó khăn, đã
triển khai có kết quả và được cộng đồng Quốc tế thừa nhận là nước triển
khai công tác tiêm chủng mở rộng tốt nhất, hiệu quả nhất.
Đến năm 1985, chương trình TCMR được đẩy mạnh và được triển
khai ở 100% xã phường trong cả nước với 6 loại vắc xin phòng bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm là Lao, Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Sởi, Bại liệt. Từ năm

4
1993 đến nay tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi luôn đạt trên
90%. Từ năm 1995 cả nước không còn xã trắng về tiêm chủng. Việc xoá
được 8 xã trắng cuối cùng về tiêm chủng đã thể hiện việc triển khai nghiêm
túc chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta, chủ trương đảm bảo công
bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân của ngành y tế và thực hiện
nghiêm túc cam kết về quyền trẻ em của Việt Nam. Đây là thắng lợi của sự
kết hợp chặt chẽ giữa Quân - Dân y, đặc biệt với lực lượng bộ đội biên
phòng đảm bảo đưa dịch vụ tiêm chủng đến được từng bản làng trên khắp
mọi miền đất nước, đến mọi dân tộc, mọi gia đình.

bảo mạnh mẽ và bền vững về những chính sách ưu tiên của nhà nước. Đây
cũng là biểu hiện tốt đẹp của sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa ngành Y
tế và các Bộ, Ngành, Đoàn thể xã hội đối với công tác chăm sóc sức khoẻ
nhân dân. Thành công của công tác tiêm chủng cũng minh chứng rõ hiệu
quả của các hoạt động hợp tác Quốc tế với Chính phủ các nước, các tổ chức
Quốc tế đối với Ngành Y tế Việt Nam nói chung và dự án Tiêm chủng mở
rộng nói riêng.
Hạn chế:
Sau hơn 26 năm triển khai chương trình TCMR, kết quả đạt được là
rất lớn trong việc thực hiện mục tiêu thiên nhiên kỷ về chăm sóc sức khỏe
trẻ em. Song chương trình TCMR vẫn còn nhiều tồn tại và thách thức.
Bệnh Sởi, Bạch hầu, Ho gà chỉ được khống chế, nguy cơ bệnh phát triển,
đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, biên giới là khá cao. Nhiều loại vắc xin
phòng, chống các bệnh truyền nhiễm phổ biến và nguy hiểm ở trẻ em chưa
được triển khai trong chương trình tiêm chủng mở rộng hoặc chỉ triển khai
trong quy mô hẹp. Cùng với đó, việc xuất hiện các phản ứng, biến chứng
sau tiêm chủng dẫn đến người dân hoang mang khi mà trình độ cán bộ y tế
ở các trạm y tế xã phường còn hạn chế, điều kiện cơ sở vật chất thì còn
nhiều khó khăn.

6
1.1.2. Thực trạng cung ứng vắc xin tại Việt Nam
Chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) được ngành y tế triển
khai trên phạm vi cả nước từ năm 1984, phòng các bệnh truyền nhiễm cho
trẻ em. Hàng trăm triệu liều vắc-xin đã được tiêm miễn phí cho các cháu bé
để phòng 11 loại bệnh như: Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Sởi, Viêm não Nhật
Bản, Viêm gan B, Tả
Thống kê cho thấy, đến nay, tỷ lệ mắc bệnh Sởi giảm 23 lần, bệnh
Bạch hầu giảm 167 lần, bệnh Ho gà giảm 428 lần, ngoài ra bệnh Uốn ván
sơ sinh đã được loại trừ, bệnh Sởi dự kiến sẽ được thanh toán vào năm

Việc xảy ra ngày 20-7 tại Bệnh viện đa khoa huyện Hướng Hóa
(Quảng Trị) với ba trẻ tử vong sau tiêm vắc-xin viêm gan B cùng một điểm
tiêm chủng đã được Hội đồng tư vấn đánh giá phản ứng sau tiêm loại bỏ
nguy cơ tử vong do đột tử. Như vậy, chỉ còn hai nguyên nhân đang cần
được làm rõ là quy trình tiêm chủng và chất lượng vắc-xin. Ðây là vấn đề
phức tạp và vì vậy Bộ Y tế đã đề nghị Bộ Công an điều tra xác minh độc
lập.
Ðến nay, Bộ Y tế đã ban hành quy trình tiêm chủng an toàn cũng
như các quy định bảo đảm chất lượng vắc-xin trong bảo quản, vận chuyển
và sử dụng tại các bàn tiêm chủng. Như vậy, bảo quản vắc-xin không đúng
quy định, sử dụng sai quy trình, để lẫn vắc-xin với các thuốc và sinh phẩm
khác dễ có nguy cơ tiêm nhầm thuốc; không lưu lọ vắc-xin sau khi tiêm;
không khám sàng lọc trẻ để chống chỉ định các trường hợp nguy cơ tai biến
cao là những lỗi mà cán bộ tiêm chủng không được vi phạm.
Chất lượng tất cả các loại vắc-xin được bảo đảm bởi quy trình
nghiêm ngặt từ nhà sản xuất đến người sử dụng. Chất lượng vắc-xin được
đánh giá qua hai tiêu chuẩn quy định nghiêm ngặt là an toàn và hiệu lực,
bắt buộc cho mỗi vắc-xin muốn đăng ký lưu hành ở bất kỳ quốc gia nào.
Các quy định về an toàn được thể hiện qua các dấu hiệu phản ứng toàn thân

8
và tại chỗ như: sốt, đau tại chỗ tiêm, vã mồ hôi, dị ứng ; hầu hết các vắc-
xin đều có phản ứng tại chỗ hoặc toàn thân, từ nhẹ đến vừa và nặng, tùy
từng loại vắc-xin.
Hiệu lực của vắc-xin được nhà sản xuất thực hiện qua nhiều nghiên
cứu và phải vượt qua được các khâu kiểm định chất lượng từ cơ sở đến
quốc gia và quốc tế một cách nghiêm ngặt. Ðể vắc-xin có hiệu lực như
mong muốn, nhà sản xuất phải thực hiện thử nghiệm lâm sàng qua nhiều
giai đoạn với nhiều lịch tiêm chủng cho các đối tượng khác nhau ở nhiều
thời điểm khác nhau; nhiều khoảng cách giữa các mũi tiêm và có thể kéo

cán bộ tiêm chủng có đủ kỹ năng thực hành tiêm chủng an toàn trên cả
nước.
1.2. QUY TRÌNH CUNG ỨNG VẮC XIN
Theo WHO chu trình cung ứng thuốc được thể hiện qua các bước
sau:

Dòng lưu chuyển các hoạt động cung ứng
Đường phối hợp

Chu trình cung ứng thuốc theo 4 bước lựa chọn, mua thuốc, cấp phát,
sử dụng là chu trình khép kín, đó là quá trình đưa thuốc từ nơi sản xuất đến
người sử dụng là bệnh nhân và chính kết quả sử dụng trên bệnh nhân sẽ là
cơ sở vững chắc cho quá trình cung ứng tiếp theo. Chu trình cung ứng vắc
xin gồm 4 bước: lựa chọn, mua thuốc, cấp phát và sử dụng thuốc; do vắc
LỰA CHỌN
CẤP PHÁT
MUA THUỐC
SỬ DỤNG
Các lĩnh vực
quản lý khác

10
xin trong chương trình TCMR đều đã được lựa chọn và cấp phát miễn phí
đến tất cả các trạm y tế nên muốn nâng cao chất lượng vắc xin tại TTYT

Để tính tổng số mũi tiêm hàng tháng, ta chia tổng số mũi tiêm của 1
năm cho 12.
• Bước 4: Tính số buổi tiêm chủng cần cho mỗi tháng ở điểm cố định
và ngoài trạm.
Một buổi tiêm chủng cố định tại trạm y tế có thể thực hiện được ít
nhất 100 mũi tiêm và buổi tiêm chủng ngoài trạm ít nhất 50 mũi tiêm.
Tuy nhiên con số này có thể thay đổi tuỳ thuộc vào số cán bộ y tế, số
vắc xin sẵn có và các phương tiện khác…
Tính số buổi tiêm chủng hàng tháng bằng cách:
Chia số mũi tiêm của mỗi tháng cho 100 đối với buổi tiêm chủng cố
định.
Chia số mũi tiêm của mỗi tháng cho 50 đối với buổi tiêm chủng
ngoài trạm.
1.2.2. Sử dụng vắc xin
1.2.2.1. Phác đồ TCMR
Thông tư số 26/2011/TT - BYT ngày 24/06/2011 của Bộ Y tế về việc
“ban hành danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng phải sử
dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc”

đã ban hành danh mục các bệnh
truyền nhiễm, đối tượng, lịch sử dụng vắc xin bắt buộc trong chương trình
TCMR như sau:
Lứa tuổi Loại Vaccin phòng bệnh

Lịch tiêm
Sơ sinh
Lao (BCG) Mũi 1: nhắc lại sau 4 năm

Viêm gan siêu vi B Mũi 1
1 tháng tuổi Viêm gan B Mũi 2


9 tháng Sởi Mũi 1
12 tháng tuổi
Viêm não Nhật Bản B

Tiêm 2 mũi: mỗi mũi
cách nhau 1 tuần,
1 năm sau tiêm nhắc lại
mũi 3 và cứ
3 năm tiêm nhắc lại 1 lần
cho đến 15 tuổi
15 tháng tuổi Sởi, Quai bị, Rubella Tiêm một mũi
Bắt đầu từ năm 2009 đến nay, chương trình TCMR đã đưa loại vắc
xin “5 trong 1” Quinvexem vào chương trình tiêm chủng mở rộng. Đây là
vắc xin phòng 5 bệnh: Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Viêm gan B và Viêm

13
màng não mủ Hib. Với loại vắc xin mới này, thay vì phải tiêm 5 mũi để
phòng 5 bệnh trên thì trẻ em Việt Nam sẽ chỉ phải tiêm một mũi là có thể
phòng chống được các bệnh truyền nhiễm trên. Lịch tiêm chủng 3 mũi vắc
xin Quinvaxem là 2, 3 và 4 tháng tuổi. Nếu liều vắc xin Quinvaxem nào bị
bỏ lỡ hoặc tiêm muộn thì cần được tiêm sớm vào thời gian sau đó mà
không cần phải tiêm lại từ mũi đầu. Chú ý khoảng cách giữa các mũi tiêm
tối thiểu là 4 tuần (1 tháng).
1.2.2.2. Quy trình sử dụng vắc xin trong TCMR
a. Trước khi tiêm
- Kiểm tra nhãn lọ vắc xin, dung môi. Nếu không có nhãn phải hủy
bỏ.
- Kiểm tra hạn sử dụng lọ vắc xin và dung môi. Nếu quá hạn sử dụng
phải hủy bỏ.

o
C) để dùng trước cho
buổi tiêm chủng sau.
- Các lọ vắc xin đã mở không được sử dụng nữa.
- Lưu giữ lọ vắc xin và dung môi đã sử dụng trong vòng 2 tuần.
- Lau khô và giữ sạch hòm lạnh, phích vắc xin.
1.2.3. Bảo quản vắc xin
Vắc xin nhạy cảm với nhiệt độ và đông băng do vậy phải bảo quản
vắc xin ở nhiệt độ cho phép từ nơi sản xuất tới khi sử dụng. Hệ thống bảo
quản, vận chuyển và phân phối vắc xin gọi là dây chuyền lạnh.
1.2.3.1. Nguyên tắc chung bảo quản văc xin
a. Vắc xin
Vắc xin phải được bảo quản trong dây chuyền lạnh từ +2
o
C đến
+8
o
C.
b. Dung môi
Nếu dung môi được đóng gói cùng với vắc xin thì bảo quản ở nhiệt
độ từ +2
o
C đến +8
o
C . Nếu dung môi không đóng gói cùng với vắc xin và
không có đủ chỗ trong dây chuyền lạnh thì có thể được bảo quản ở nhiệt độ
phòng nhưng phải được làm lạnh ít nhất một ngày trước khi sử dụng ở
nhiệt độ từ +2
o
C đến +8

Thời gian bảo quản vắc xin trong dây chuyền lạnh ở tuyến xã tối đa
là 1 tháng, tuyến huyện từ 1-2 tháng.
Cần lưu ý tới chỉ thị nhiệt độ lọ vắc xin (nếu có) và hạn sử dụng của
vắc xin, không bao giờ được dùng vắc xin đã hết hạn sử dụng hoặc chỉ thị
nhiệt độ lọ vắc xin cho thấy vắc xin cần phải hủy bỏ.

16
1.2.3.2. Phương tiện bảo quản vắc xin
Ở các tuyến khác nhau cần các loại dụng cụ khác nhau để vận
chuyển và bảo quản vắc xin và dung môi ở nhiệt độ thích hợp.
1) Tuyến trung ương và khu vực bảo quản vắc xin trong buồng lạnh,
tủ đá. Tại tuyến này tủ lạnh, hòm lạnh, xe lạnh được sử dụng để vận chuyển
vắc xin.
2) Kho tỉnh, huyện tuỳ số lượng vắc xin cần buồng lạnh, tủ đá (để
làm đông băng bình tích lạnh), tủ lạnh, hòm lạnh.
3) Tại trạm y tế có thế sử dụng tủ lạnh, hòm lạnh và phích vắc xin.
1.2.3.3. Dụng cụ theo dõi dây chuyền lạnh ở cơ sở y tế
Mục đích của dụng cụ theo dõi dây chuyền lạnh là để kiểm tra nhiệt
độ của vắc xin và dung môi trong quá trình vận chuyển và bảo quản.
a. Chỉ thị nhiệt độ
Chỉ thị nhiệt độ (VVM) là nhãn được dán lên lọ vắc xin. Chỉ thị nhiệt
độ có thể thay đổi mầu khi lọ vắc xin tiếp xúc với nhiệt độ cao quá thời
gian cho phép.
Trước khi mở lọ vắc xin phải kiểm tra chỉ thị nhiệt độ xem vắc xin
có bị hỏng bởi nhiệt độ không.
Các nhà sản xuất đều có gắn VVM trên lọ của hầu hết các vắc xin.
VVM có thể in trên nhãn của lọ vắc xin hoặc trên nắp lọ. Đó là 1 hình
vuông nằm bên trong hình tròn. Khi lọ vắc xin tiếp xúc với nhiệt độ cao,
hình vuông sẽ chuyển màu sẫm.
Chỉ sử dụng lọ vắc xin khi hình vuông bên trong sáng hơn hình tròn

và phân phối vắc xin. Điều này giúp phát hiện nguy cơ khi vắc xin tiếp xúc
với nhiệt độ âm.
Để dụng cụ này cùng với vắc xin dễ bị đông băng trong tủ lạnh. Đối
với tủ lạnh mở cửa ở phía trước thì để ở giá giữa, nơi để các vắc xin dễ bị
đông băng và dung môi. Tủ lạnh cửa mở phía trên để ở giữa không để sát

18
thành tủ nơi có thể xảy ra đông băng.
* Chỉ thị nhiệt độ đông băng điện tử
Freeze-tag gồm có thiết bị đo nhiệt độ điện tử vòng tròn với hiển thị
trên màn hình. Nếu tiếp xúc với nhiệt độ dưới 0°C ± 0, 3°C trên 60 phút ±
3 phút thì hiển thị sẽ đổi từ tình tr
ạng tốt (√) sang tình trạng nguy hiểm (X)
hình ảnh dưới. Sử dụng chỉ thị nhiệt độ đông băng đóng gói cùng vắc xin
DPT, uốn ván và bạch hầu - uốn ván hay vắc xin viêm gan B. Chỉ thị nhiệt
độ đông băng điện tử có hạn sử dụng 5 năm.
1.3. VÀI NÉT VỀ TTYT QUẬN NGÔ QUYỀN – TP HẢI PHÒNG
Quận Ngô Quyền là một trong 7 quận của thành phố Hải Phòng, nằm
ở phía Đông Bắc thành phố. Diện tích 11,24km
2
; dân số của quận (đến năm
2013) gần 180.000 người, chiếm gần 10% dân số toàn thành phố Hải
Phòng. Quận Ngô Quyền có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội
và quốc phòng – an ninh của thành phố Cảng Hải Phòng; là nơi tập trung
các đầu mối giao thông quan trọng nối Hải Phòng với các địa phương khác
trong nước và giữa nước ta với các nước trên thế giới. Quận gồm 13
phường: Cầu Đất, Lạch Tray, Máy Tơ, Lê Lợi, Gia Viên, Lương Khánh
Thiện, Máy Chai, Lạc Viên, Cầu Tre, Vạn Mỹ, Đằng Giang, Đông Khê,
Đồng Quốc Bình.
TTYT Quận Ngô Quyền được thành lập vào năm 2007 với chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status