§Ò ¸n m«n häc
- 21 - thuật quản trị… tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế. Thông qua các
DNNN cho phép Nhà nước thực hiện các chính sách, các giải pháp thúc
đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Thứ ba, các DNNN tham gia tích cực và có hiệu quả vào sự phát triển
kinh tế bằng kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Đối với nước ta
hiện nay đóng góp của các DNNN trong GDP đang ở mức khá cao thì
hiệu quả hoạt động của các DNNN có tác động rất lớn đến sự tăng
trưởng của nền kinh tế. Hơn nữa hiện nay khu vực DNNN đang chiếm
giữ lượng vốn đầu tư lớn với những trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ
và nhân lực có trình độ cao thì hoạt động của các DNNN sẽ là một yếu
tố quyết định đến việc hoàn thành những chỉ tiêu kinh tế đã đề ra.
Thứ tư, các DNNN là những đơn vị đi đầu trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá theo hướng hội nhập với nền kinh tế thế giới. Trong
một nền kinh tế lạc hậu với lực lượng sản xuất còn yếu kém như Việt
Nam, thì các DNNN được sử dụng như những công cụ trực tiếp nhằm
huy động các nguồn lực kỹ thuật để tiến hành quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời
là nhân tố để nâng cao chất lượng sản phẩm hướng tới xuất khẩu nhằm
hoà nhập với nền kinh tế thế giới.
Tuy vai trò các DNNN là hết sức quan trọng, nhưng nhìn nhận một
cách khách quan thì DNNN chưa đủ tầm để cạnh tranh với nền kinh tế
khu vực.
§Ò ¸n m«n häc
- 22 -
12080 DNNN. Các doanh nghiệp trong thời kỳ này có quy mô nhỏ, vốn
ít và công nghệ lạc hậu. Sự dàn trải của các DNNN làm cho nguồn vốn
đầu tư của nhà nước không thể tập trung cho các ngành trọng điểm dẫn
tới sự thiếu hụt vốn thường xuyên, hiệu quả sử dụng vốn rất thấp.
Từ năm 1990 Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách như Nghị định
338/HĐBT, Quyết định 315/HĐBT, Chỉ thị 500/Ttg…nhằm sắp xếp và
tổ chức lại các DNNN. Qua nhiều lần sắp xếp, sát nhập và giải thể, đến
nay còn khoảng 5280 DNNN. Các DNNN đã nâng cao hơn trình độ
tích tụ và tập trung, tăng qui mô và kinh doanh có hiệu quả hơn. Tuy
nhiên hiện nay DNNN đang đứng trước thực trạng yếu kém về nhiều
mặt: sức cạnh tranh còn quá yếu kém, qui mô quá nhỏ, thiếu vốn
nghiêm trọng, lãi suất kinh doanh bình quân thấp hơn lãi suất ngân
hàng, hiệu quả sút kém. Hầu hết các DNNN đang trong tình trạng “đói
vốn” trầm trọng. Theo báo cáo tổng kết của Bộ thương mại năm 1998,
trên 90% số doanh nghiệp không đủ mức vốn pháp định theo quy định
tại Nghị định số 50/Chính phủ ngày 28/8/1996 của Chính phủ. Và ngay
tại TP HCM, trong số 169 doanh nghiệp thương mại Nhà nước có tới
70% doanh nghiệp đang trong tình trạng thiếu vốn. Xét chung các
DNNN hiện nay có tới 60% số DNNN không đủ vốn pháp định theo
qui định tại NĐ 50/CP. Nghiêm trọng hơn là do thiếu vốn nên các
DNNN không có khả năng đầu tư đổi mới trang thiết bị, hiện đại hóa
công nghệ, không có khả năng cạnh tranh.
§Ò ¸n m«n häc
- 24 - 2.2.Thực trạng về vốn và huy động vốn trong các DNNN.
Trong những năm gần đây vốn ở các DNNN đang có xu hướng tăng
vóc của nó.
Mặc dù qui mô vốn của các DNNN nhỏ bé như vậy, nhưng số vốn lại
không tập trung mà dàn trải, manh mún. Lượng vốn phân bổ trong từng
doanh nghiệp rất nhỏ bé và không đều. Xét riêng 82 DNNN hoạt động
trong lĩnh vực Thương mại do Bộ Thương mại trực tiếp quản lý. Đầu
năm 1996 tổng nguồn vốn của 82 doanh nghiệp này chỉ có 2.603 tỷ
đồng. Trong đó vốn cố định là 1.123 tỷ đồng, vốn lưu động là 1.480 tỷ
đồng, được phân bổ như sau:
Bảng phân bổ nguồn vốn của các doanh nghiệp
Thương mại Nhà nước năm 1996
ST
T
Số lượng vốn Số lượng
doanh nghiệp
Tỷ trọng
1 Dưới 1 tỷ đồng 2 2.4%
2 Trên 1 đến 3 tỷ đồng 10 12.2%
3 Trên 3 đến 10 tỷ đồng 43 52.4%
4 Trên 10 đến 50 tỷ
đồng
24 29.3%
§Ò ¸n m«n häc
- 26 - 5 Trên 50 tỷ đồng 3 3.7%
Nguồn: về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động kinh doanh của các
nhưng vẫn chiếm 65,45%, trong đó số DNNN có vốn dưới 1 tỷ đồng
chiếm gần 26%. Riêng số DNNN do địa phương trực tiếp quản trị, số
DNNN có vốn dưới 1 tỷ đồng (tương đương 70.000 USD) chiếm trên
30%. Số DNNN có vốn trên 10 tỷ đồng chiếm một tỷ lệ nhỏ chỉ khoảng
20% năm 1998 và tăng lên 20,89% năm 1999.
Quy mô vốn đã nhỏ bé, dàn trải, cơ cấu vốn kinh doanh lại có nhiều bất
cập. Năm 1997 vốn nhà nước mới chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu vốn
lưu động gây khó khăn cho doanh nghiệp. Trong năm 1997 vốn bình
quân mỗi DNNN khoảng trên 17 tỷ đồng, trong đó VLĐ chiếm 20%,
nhưng có tới 50% là vật tư ứ đọng, kém phẩm chất, công nợ khó đòi và
lỗ, chỉ còn lại 10% cho hoạt động. VCĐ chiếm 80%, nhưng phần lớn là
tài sản cố định cũ, lạc hậu năng suất thấp, thiết bị cũ kỹ.…Như vậy
VLĐ còn thiếu khoảng 20% mới đạt mức tối thiểu về VLĐ hoạt động.
VCĐ lại chiếm tỷ lệ quá lớn làm cho đồng vốn bị ứ đọng và quay vòng
chậm. Hiện nay vốn thực tế hoạt động của DNNN chỉ đạt 80%. Riêng
VLĐ chỉ có 50% được huy động vào kinh doanh, còn lại nằm ở tài sản,
vật tư mất mát, kém phẩm chất, công nợ chưa thu hồi được, lỗ chưa
được bù đắp.
§Ò ¸n m«n häc
- 28 - Thực tế hiện nay vốn ngân sách và vốn tự có của DNNN chưa được
một nửa mức VLĐ cần thiết. Để duy trì sản xuất kinh doanh, doanh
nghiệp phải huy động vốn từ bên ngoài, chủ yếu là vay của các tổ chức
tín dụng và chiếm dụng vốn lẫn nhau. Năm 1997 vốn đi vay của
DNNN đã chiếm tới 85%-90% VLĐ. Trong khi đó, nguồn vốn hỗ trợ
từ ngân sách chỉ bằng 8% so với GDP, vốn tự tích luỹ không đáng kể.
Ngoài nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, hiện nay các DNNN còn
W
TP TW TP TW
TP TW TP
1.DNcó
lãi
468
273
465 251 481 258 241
2.DNhoà
vốn
18 15 15 28 36 38 13
3.DN bị
lỗ
48 36 52 47 35 32 43
(Nguồn:Tạp chí kinh tế và phát triển số 38/2000)
Qua bảng trên cho ta thấy các DNNN do trung ương(TW) quản lý có
hiệu quả kinh doanh cao hơn các DNNN do Thành phố quản lý. Các
DNNN làm ăn thua lỗ có xu hướng giảm đối với các DNNN do TW
quản lý, nhưng lại có xu hướng tăng đối với các DNNN do Thành phố
quản lý.
Trong một số năm gần đây, hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung,
hiệu quả sử dụng vốn nói riêng có xu hướng giảm xuống. Năm 1995,
§Ò ¸n m«n häc
- 30 -
Tỷ trọng GDP của DNNN
trong toàn bộ nền kinh tế
- 40.4
8
40.07
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn
của DNNN
0.19 0.11 0.14
Tỷ suất nộp ngân sách trên 0.32 0.21 0.35