11
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BA 6-benzylaminopurine
NAA - naphthaleneacetic acid
MS Murashige và Skoog (1962)
TDZ 1 - phenyl 1 - 3 - (1,2,3 - thiadiazol - 5 - yl) - urea
ABA Acid Abscisic
DNA Deoxyribonucleotide acid
RNA Ribonucleotide acid
GA
3
Gibberellin
13
1.2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là xác định môi trƣờng nuôi cấy thích hợp để đạt đƣợc kết
quả nhân giống in vitro cao nhất trên 2 giống lan Cymbidium và Dendrobium.
1.3. Yêu cầu
Quan sát sự phát sinh phôi soma, protocorm và chồi của 2 giống lan
Dendrobium và Cymbidium.
Quan sát sự sinh trƣởng và phát triển của chồi lan in vitro.
lan mới nhƣ: Dendrobium ayaka, Dendrobium edians beauty, Dendrobium sungould
(Trích Nguyễn Thị Hồng Nhật, 2004).
2.1.1.2. Tình hình sản xuất lan ở Việt Nam
- Tại Việt Nam ngành sản xuất kinh doanh hoa kiểng nói chung và lan nói
riêng trong vòng 10 năm trở lại đây rất phát triển, với nhiều chủng loại. Tham gia sản
xuất gồm nhiều thành phần kinh tế (cá thể, tập thể, nhà nƣớc, liên doanh hoặc100%
vốn đầu tƣ nƣớc ngoài). Tuy nhiên sản xuất còn chƣa đƣợc áp dụng khoa học kỹ thuật
15
nên mặc dù đa dạng nhƣng không đạt về tiêu chuẩn, số lƣợng và chất lƣợng do đó tính
cạnh tranh còn thấp.
*Tại TP.HCM:
- Trong các chủng loại sản phẩm hoa kiểng, hoa lan xem là nhóm hoa có giá
trị kinh tế cao, trong đó lan cắt cành đem lại lợi nhuận khá cao
(có thể đạt 500 triệu – 1 tỉ đồng / ha / năm) nhƣng vốn đầu tƣ ban đầu vẫn còn cao
(600 – 800 triệu đồng / ha), chủ yếu là phần vốn đầu tƣ cho cây giống. Trong đó nhóm
Mokara và Dendrobium đƣợc trồng nhiều nhất.
- Theo Trung tâm Nghiên cứu khoa học kỹ thuật và khuyến nông TP.HCM,
trong thời gian qua diện tích trồng hoa lan trong thành phố tăng nhanh, từ 20 ha năm
2003 lên 50 ha năm 2004 và khoảng 80 ha năm 2005.
- Để đƣa hoa lan trở thành một trong những cây chủ lực trong cơ cấu kinh tế
nông nghiệp trong những năm tới, TP.HCM đề ra mục tiêu phát triển diện tích trồng
hoa lan lên 200 ha vào năm 2010 và một số giải pháp chính về giống, khoa học kỹ
thuật, thị trƣờng tiêu thụ, đào tạo nguồn nhân lực, chính sách hỗ trợ
(ĐCSVN, 27/6/2005).
*Tại Đà Lạt:
- Cây lan Cymbidium đã đƣợc nuôi trồng tại Đà Lạt từ rất lâu, chủ yếu để tiêu
khiển. Tại đây, ngoài những loài tự nhiên, các biến chủng, còn có nhiều giống nhập
nội nuôi trồng.
- Từ năm 1977, sau khi thành lập tổ Hoa Lan Xuất Khẩu, phong trào trồng lan
- Cymbidium erythrostylum Lindl. (bạch hồng).
- Cymbidium giganteum Wall. (hoàng lan).
- Cymbidium insigne Rolfe (hồng lan).
- Cymbidium lancifolium Hook. f.
- Cymbidium polanei Gagn (tử cán).
- Cymbidium munronianum King. et plant.
2.1.2.2. Đặc điểm hình thái
- Lan Cymbidium là loài thân thảo, đa niên, đẻ nhánh hàng năm tạo thành
những bụi nhỏ.
- Rễ: mọc bám trên vỏ cây, mặt đất hoặc ăn sâu trong bọng cây, trong đất mùn.
Rễ mới thƣờng chỉ mọc ở cây con, cây mẹ khó ra rễ mới mà chỉ thấy phân nhánh từ củ
rễ.
- Thân (căn hành): thƣờng ngắn, nối những củ lan với nhau. Các củ lan thực
chất là những cành ngắn của căn hành. Củ già, khi bị tách khỏi căn hành cũ, có thể
17
mọc ra đoạn căn hành mới, từ đó mọc lên những cây con. Do đó ngƣời ta xếp
Cymbidium vào nhóm lan đa thân (sympodial).
- Củ lan (giả hành): thƣờng có dạng con quay hay dạng hột xoài, đƣờng kính từ
1 cm đến 15 cm, củ thƣờng tƣơi và đƣợc bọc trong các bẹ lá.
- Lá: thƣờng có hai dạng: dạng vảy đính theo một đoạn căn hành và dạng thực
đính trên giả hành.
- Chồi hoa: thƣờng xuất hiện bên dƣới giả hành, trong các nách lá, tách các bẹ
già, đâm ra bên ngoài. Thông thƣờng, mỗi giả hành chỉ cho hoa một lần.
- Cọng phát hoa: không phân nhánh, dựng đứng hay buông thõng. Chiều dài
của phát hoa từ 10 đến hơn 100 cm. Cành hoa mang từ vài đến vài chục búp hoa xếp
luôn phiên theo đƣờng xoắn ốc.
- Hoa Cymbidium lƣỡng tính, nhị đực và nhụy cái cùng gắn chung trên một trụ
gọi là trục hợp nhụy, hình bán trụ hơi cong về phía trƣớc. Nhị ở trên cùng, mang
0
C liên tục từ
3 - 4 tuần.
Về ẩm độ: bộ rễ của Cymbidium khác xa bộ rễ của các loài lan ký sinh
(epiphyte). Chúng đòi hỏi rễ luôn luôn ẩm nên phải tƣới trong mọi thời gian trong
năm, chỉ cho giá thể vừa kịp khô giữa hai lần tƣới. Ẩm độ thích hợp từ 60-70%
(Trích Phan Thị Tuyết Hằng, 2005).
2.1.3. Giới thiệu chung về giống lan Dendrobium
2.1.3.1. Phân loại
Phong lan có vùng phân bố rộng lớn, trải dài từ đƣờng xích đạo cho đến Bắc
cực, từ đồng bằng cho đến các vùng núi băng tuyết. Họ phong lan (Orchidaceae) với
750 chi và hơn 25000 loài là họ lớn thứ hai sau họ cúc (Asteraceae) trong ngành hạt
kín (Angiospermae) và cũng là họ lớn nhất trong lớp một lá mầm.
Việc phân loại phong lan khá phức tạp. Theo truyền thống cổ điển các nhà
khoa học trƣớc đây phân loại Dendrobium thuộc tông Epidendreae, họ phụ Epiden
droideae, phân họ Orchidaceae (Trích Nguyễn Thị Hồng Nhật, 2004).
Theo Nguyễn Xuân Linh (1998) phân loại lan Dendrobium nhƣ sau:
- Dendrobium crassinode (Hoàng thảo u lồi).
- Dendrobium draconis (Hoàng thảo nhất điểm hồng).
- Dendrobium farmeri (Hoàng thảo thủy tiên).
- Dendrobium hercoglossum (Hoàng thảo tím huế).
- Dendrobium heterocrrpun (Hoàng thảo nhất điểm hoàng).
- Dendrobium (Hoàng thảo dẹt).
- Dendrobium parciflorum (Hoàng thảo xƣơng cá).
- Dendrobium parisshii (Hoàng thảo tím hồng).
- Dendrobium parishii (Hoàng thảo hạc vĩ).
- Dendrobium primulim (Hoàng thảo long tu).
- Dendrobium pumilum (Hoàng thảo phù dung).
2.1.3.2. Đặc điểm hình thái
- Rễ: thuộc loại rễ bì sinh, chung quanh rễ thật đƣợc bao bọc bởi một lớp mô
Hình 2.1: Hai giống lan Cymbidium và Dendrobium thực hiện trong đề tài. 20