Luận văn : KHẢO SÁT SINH TRƯỞNG MỘT CHỦNG NẤM VÂN CHI ĐEN TRAMETES VERSICOLOR L.:Fr Pilát CÓ NGUỒN GỐC TỪ TRUNG QUỐC part 5 - Pdf 19


18
(β1-6). Hầu hết các proteoglycan thường có một chuối chính, hoặc là chuỗi β1-3,
chuỗi β1-4 hoặc kết hợp hai chuỗi β1-3, β1-4 với một chuỗi phụ β1-6. Các glucan
gắn với protein là có tiềm năng miễn dịch lớn hơn rất nhiều so với các glucan tương
ứng không kết hợp với protein. Hình 2.2: Cấu trúc chuỗi beta-glucan trích từ nấm (Kidd, 2000)
2.4. Thành phần dược tính chính trích từ nấm vân chi
[25], [28], [33], [34]
Vào khoảng năm 1965, ở Nhật, một kỹ sư hoá học đã khám phá ra thành phần trị
ung thư của nấm vân chi sau khi ông này quan sát thấy người hàng xóm mắc bệnh ung
thư hiểm nghèo đã được chữa khỏi sau khi sử dụng vân chi. Điều này đã dẫn đến sự
khám phá ra PSK (polysaccharide Kureha). Sau đó, hợp chất PSP (polysaccharide
peptide) - chất có cấu tạo gần giống PSK cũng đã được phân lập lần đầu tiên tại Trung
Quốc năm 1983. Các chất này đều được xem là những chất kích thích hệ miễn dịch và
có hoạt tính kháng ung thư, thúc đẩy quá trình sản xuất tế bào miễn dịch, giảm nhẹ các
triệu chứng do hoá trị, xạ trị, giảm đau, chống viêm nhiễm (Altern Med Rev 2-2000).
Dịch trích polysaccharide peptide từ nấm (thuật ngữ gọi là proteoglycan) là những
chuỗi polypeptide hay những phân tử protein nhỏ gắn kết chặt với các chuỗi
polysaccharide β-D-glucan, là thành phần hiệu quả trong chữa trị các chứng ung thư:
dạ dày, thực quản, ruột kết và ung thư ngực… Polysaccharide được tìm thấy trong các
vách tế bào không tiêu hoá được của vân chi có cấu trúc 3 chiều với các chuỗi bên
(chuỗi đường mạch thẳng) mọc nhánh xung quanh cấu trúc trục chính (lõi protein hay
polypeptide), các chuỗi bên có chức năng sinh học hay hoạt tính miễn dịch cho phép
sự tương tác giữa các chuỗi nhánh bên với các thụ thể trên các tế bào miễn dịch khác
nhau. Thụ thể cho β-glucan được tìm thấy trên nhiều tế bào khác nhau: Tế bào tự sát

19
thương (NK), tế bào bạch cầu trung tính, tế bào bạch cầu đơn nhân to, đại thực bào và

xác nhận rằng phổ nguyên tử của nó được hấp thụ trong 24h sau khi đưa vào cơ thể

20
chuột. PSK không độc, liều LD
50
thấp và không xuất hiện các dị hình trong các thử
nghiệm độc tính cấp và bán cấp.
2.4.1.2. Dược tính [20],
[24], [27], [32], [33]
Năm 1971, hơn 200 dược chất hoá lý có khả năng kháng khối u được chọn lọc
bởi các nhà nghiên cứu Nhật, PSK là liệu pháp chữa trị tốt nhất vì nó bảo vệ hệ miễn
dịch bằng cách trung hoà các thuốc hoá trị và các quá trình gây độc của tế bào ung
thư.
PSK có khả năng tăng cường hoạt động miễn dịch tế bào và miễn dịch thể dịch.
Khi PSK được dùng kết hợp với phương pháp xạ trị thí nghiệm trên chuột, người ta
quan sát thấy có sự hồi phục hệ miễn dịch thể dịch đã suy yếu. Các nghiên cứu trên
động vật xác nhận thêm rằng PSK cảm ứng tế bào T diệt và phục hồi lại các thông số
miễn dịch bị suy yếu trong khi đó sẽ ức chế các hợp chất gây ức chế miễn dịch.
PSK ngăn chặn các phản ứng phụ khi dùng kết hợp với các tác nhân hoá trị như
5-FU (5-fluorouracil), doxorubicin, cyclophosphamide (CPA), tegafur, cis-Blastin và
mitomycin-C (MMC) để chữa trị ung thư, gia tăng khả năng sống còn của các bệnh
nhân ung thư dạ dày ở các giai đoạn III và IV (Kaibara et al, 1970).
PSK kích ứng sự biểu hiện cytokine trong các tế bào máu đơn nhân vùng ngoại
vi in vitro. Sự biểu hiện gen TNF-α (yếu tố gây hoại tử khối u) và interleukin-8 (IL-8)
được cảm ứng mạnh ở những người tình nguyện khoẻ mạnh và những bệnh nhân ung
thư dạ dày khi dùng PSK, mặc dù đáp ứng của mỗi người mỗi khác.
Có tác dụng ngăn chặn sự phát triển khối u in vitro. PSK gia tăng khả năng sống
còn, ức chế sự hình thành và di căn của các tác nhân gây ung thư hoặc các khối u tạo
ra do phóng xạ. PSK cũng ức chế sự phát triển trở lại sau hậu phẫu hoặc sự di căn các
tế bào khối u ở các mẫu động vật thí nghiệm, cơ chế có lẽ là ngăn chặn sự di chuyển,

không gây hại đối với các tế bào bình thường. PSP có khả năng phân biệt giữa tế bào
thường và tế bào ung thư. Có thể tiêu diệt tế bào ung thư mà không gây bất cứ sự thay
đổi hay tạo độc tố trên tế bào (Mei-po Yang, Hongkong university). Tỉ lệ phần trăm
bệnh nhân trải qua thử nghiệm hiệu quả của PSP trong các giai đoạn II và III cho thấy
tỉ lệ sống còn gia tăng đáng kể so với nhóm đối chứng: 90 – 97 % đối với ung thư dạ
dày, 82 – 87 % đối với ung thư thực quản, 70 – 86 % đối với ung thư phổi. PSP là chất
đầy tiềm năng và hiệu quả trong điều trị ung thư. 22
9 PSP gia tăng chức năng miễn dịch của cơ thể bình thường.
Tăng sự biểu hiện của gen Interleukin-6 (IL-6) trong các tế bào lympho máu
ngoại vi (PBL) ở người và do đó sản xuất ra IL-6 và cũng hoạt hoá tế bào bạch cầu để
gia tăng quá trình sản xuất interferon α và γ lên gấp 2 – 4 lần.
Gia tăng mạnh mẽ chỉ số thực bào, trị số HC
50
, kháng thể ở chuột, tăng PBL từ
phase G1 đến phase S, thúc đẩy sự phát sinh PBL.
Thúc đẩy sự phát sinh tế bào lympho T và tế bào tiền tế bào T ở tuyến ức và lách,
tăng cường hoạt tính tế bào lympho B.
9 PSP trung hoà quá trình ức chế miễn dịch do khối u gây ra ở động vật.
Làm ngưng quá trình tiêu biến của tuyến ức ở chuột mang bệnh Sarcoma.
Trung hoà sự trương phồng của gan khi mắc bệnh ung thư cổ trướng Ehrlich.

Chống lại quá trình ức chế kháng thể của tế bào ung thư Sarcoma ở chuột.
Tăng giá trị bổ thể huyết thanh C
3
trong chuột mắc bệnh Sarcoma.
9 PSP trung hoà quá trình ức chế miễn dịch do tác dụng của các hoá dược trong
điều trị ung thư.

4
(IC50=6,25µg/ml), ức chế enzyme glycohydralase gắn với sự glycosic virus
và làm giảm độc tố tế bào. Do đó hướng sắp tới PSP sẽ được nghiên cứu để tạo thành
tác nhân kháng virus in vivo.
Ngoài ra, PSP còn được ứng dụng trong chữa trị các bệnh viêm nhiễm virus và
bệnh gan.
2.4.3. So sánh giữa PSK và PSP [28]
PSP và PSK là chuỗi proteoglycan, có trọng lượng phân tử khoảng 100 kDa, thành
phần polysaccharide đều không có N-acetylamino-hexose trong khi tất cả chuỗi
polysaccharide khác có. PSP và PSK đều được xem là những chất gây biến đổi các
đáp ứng sinh học có khả năng trị ung thư và làm tăng miễn dịch, nhưng những nghiên
cứu và thử nghiệm lâm sàn cho thấy PSP và PSK có một số khác biệt.
Bảng 2.2: So sánh giữa PSK và PSP
Đặc điểm so sánh Giống nhau Khác nhau
Chủng loại Vân chi Trametes versicolor
PSP: chủng COV-1 từ Trung Quốc.
PSK: CM-101 từ Nhật.
Dạng dược phẩm
PSP: dạng viên
PSK: dạng gói
Màu bột Nâu
PSP: nâu
PSK: nâu đậm
Dạng nguyên liệu thô Hệ sợi

24
Kỹ thuật lên men
Nguồn carbon chính là glucose
lên men ở 25
o

– 96 % (1mg/kg).
PSK: có tỉ lệ là 61 – 90 % (1mg/kg)
PSP: tỉ lệ ức chế sự tổng hợp RNA,
DNA của tế bào Ehrlich là 47%,
65%.
PSK: 39%, 34%.
- Phục hồi lại phản ứng mẫn
cảm bị ức chế bởi các dược
chất hoá học và bảo tồn lượng
bạch cầu.
Mức ngăn chặn của PSP, đối với b

Sarcoma trên chuột là 43%, PS
K
28%.
Dược tính
Gia tăng hoạt tính đại thực
bào, hàm lượng globulin miễn
dịch, bổ thể C
3
, kháng thể
HC
50
, và IL-2 tế bào lympho-T
PSP có thể làm tăng hàm lượng α-
và β-ITF tạo bởi tế bào bạch cầu
gấp 2 – 4 lần.
Độc tính
LD
50

Quá trình hoà tan nhanh hay chậm phụ thuộc vào khả năng hòa tan của chất tan
trong dung môi, diện tích bề mặt tiếp xúc của chất tan với dung môi, nhiệt độ và sự
khuếch tán của chất tan trong dung môi. Nồng độ dung dịch phụ thuộc vào bản chất
của dung môi và của chất tan, số lượng của dung môi và của chất tan.
2.5.2.2. Quá trình khuếch tán
Quá trình khuếch tán xảy ra nhằm làm triệt tiêu sự chênh lệch nồng độ giữa dung
dịch ở những nơi dung môi tiếp xúc với chất tan và dung dịch ở những nơi dung môi
không hoặc ít tiếp xúc với chất tan. Sự khuếch tán thúc đẩy quá trình hoà tan và kéo
chất tan từ các tế bào vỡ ra khỏi tế bào đi vào dịch chiết. Các yếu tố ảnh hưởng đến
quá trình khuếch tán:
9 Sự chêch lệch nồng độ
9 Nhiệt độ
9 Độ nhớt của dung môi
2.5.2.3. Quá trình thẩm tích
Việc di chuyển chất tan phân tử nhỏ qua các kênh bào tương (Plasmodesmata,
ống trao đổi) trong quá trình chiết xuất được thực hiện bởi sự khuếch tán thụ động theo

26
gradient nồng độ. Sự thẩm tích làm cho quá trình hòa tan chiết xuất có tính chọn lọc
hơn. Các yếu tố ảnh hưởng: Cấu trúc vách tế bào, kích thước chất tan, nhiệt độ.
2.5.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình chiết xuất
2.5.3.1. Nguyên liệu
Bản chất của nguyên liệu: bề dày của vách tế bào, đường kính của ống trao đổi là
hai yếu tố quan trọng nhất.
Mức độ chia nhỏ của nguyên liệu: Nguyên liệu càng được chia nhỏ, quá trình
chiết càng nhanh. Tuy nhiên cách chia nhỏ phải phù hợp với từng loại nguyên liệu và
dung môi.
Chất tan: Độ tan trong dung môi của chất tan càng lớn, quá trình chiết xảy ra
càng nhanh. Kích thước phân tử chất tan càng lớn, tốc độ khuếch tán và khả năng qua
vách tế bào càng lớn.

9 Phương pháp ngâm nóng: Là phương pháp ngâm được thực hiện ở nhiệt độ cao
hơn nhiệt độ phòng nhưng dưới nhiệt độ sôi của dung môi. Do có sự gia nhiệt nên
quá trình chiết xảy ra nhanh hơn, dịch chiết thu được có nồng độ cao hơn và ít tốn
dung môi hơn.
9 Chiết bằng Soxhlet và Kumagawa: Là phương pháp ngâm nóng nhiều lần lần
với một lượng nhỏ dung môi. Kumagawa cho phép chiết ở nhiệt độ gần với nhiệt
độ sôi của dung môi còn Soxhlet gần với phương pháp ngâm lạnh hơn.
9 Chiết bằng dung môi ở nhiệt độ sôi: Là phương pháp ngâm được thực hiện ở
nhiệt độ sôi của dung môi. Ưu điểm của phương pháp là quá trình chiết xảy ra
nhanh; khuyến điểm là cần phải có dụng cụ, thiết bị thích hợp.
2.5.4.3. Chiết bằng phương pháp ngấm kiệt
Là phương pháp chiết liên tục trong đó dung môi được đi qua nguyên liệu theo
một hướng nhất định, với một tốc độ nhất định. Quá trình hoà tan xảy ra trong phương
pháp ngấm kiệt không giống nhau trong toàn bộ khối nguyên liệu mà theo gradient
nồng độ, dung môi /dịch chiết đi từ nơi nguyên liệu có lượng hoạt chất thấp tới nơi có
lượng hoạt chất cao hơn. Quá trình ngấm kiệt được tiến hành dưới nhiệt độ thường
hay ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ phòng nhưng dưới nhiệt độ sôi của dung môi. Bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status