động". Ngoài ra việc giải đáp những vướng mắc của người lao động trong quá
trình thực hiện các chế độ BHXH, việc phản ánh tâm tư, nguyện vọng, các kiến
nghị bổ sung sửa đổi những bất hợp lý về chế độ BHXH cũng hết sức cần thiết và
bổ ích.
Những nội dung nói trên cần phải được thể hiện bằng nhiều hình thức, phương
pháp phù hợp thì mới đạt được hiệu quả cao. Như chúng ta biết, đối tượng tuyên
truyền về BHXH là người lao động và chủ sử dụng lao động nên phải sử dụng
nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau mới có thể phù hợp với nhận thức tâm lý
và trình độ của họ. Đối với người lao động nên sử dụng nhiều hình thức trực quan
sinh động như truyền hình, tạp chí BHXH, sách hỏi đáp về BHXH, tờ gấp giới
thiệu về BHXH, các loại ấn phẩm tuyên truyền Đặc biệt, các nội dung tuyên
truyền cần được biên tập cô đọng, dễ hiểu, hấp dẫn. Các ấn phẩm tuyên truyền cần
được phổ cập một cách rộng r•i đến tận người lao động và đơn vị sử dụng lao động
dưới dạng tặng phẩm tuyên truyền, cần có các biện pháp tăng cường phát hành tạp
chí BHXH đến tận cơ sở nhằm góp phần nâng cao nhận thức của người lao động
và chủ sử dụng lao động về BHXH.
Nhìn chung, việc nhận thức đúng đắn của người lao động và chủ sử dụng lao
động về ý nghĩa, tầm quan trọng của BHXH đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa công
tác thông tin tuyên truyền về BHXH cả về bề rộng lẫn chiều sâu của hoạt động
này. Nó đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ có hiệu quả trong công tác tuyên truyền về
BHXH giữa BHXH Việt Nam với các cơ quan thông tin đại chúng, hệ thống tổ
chức công đoàn và các cơ quan có liên quan trong x• hội. Chỉ có như vậy chúng ta
mới có thể đạt được hiệu quả như mong muốn.
3.4. Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hiện đại hoá hoạt động ngành BHXH.
Việt Nam trên bước đường thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
cần nhanh chóng tích cực đổi mới hiện đại hoá mọi mặt công tác trong đó đặc biệt
đáng quan tâm là công tác đào tạo nguồn nhân lực. Đối với ngành BHXH, trong
thời gian tới cần cải tiến và đổi mới công tác đào tạo nguồn nhân lực theo các
hướng sau:
- Phương châm trong công tác cán bộ là giảm nhẹ về số lượng nhưng nâng cao
và nông thôn, lao động phi kết cấu theo các loại hình bảo hiểm x• hội bắt buộc
và tự nguyện.
- Để cùng với Đảng, Nhà nước và nhân dân thực hiện có hiệu quả chính sách
BHXH, thiết nghĩ ngành BHXH cần sớm ban hành luật BHXH Việt Nam với
những điều khoản áp dụng chung cho tất cả các đối tượng lao động, nhanh chóng
xây dựng một cơ chế gọn nhẹ thông thoáng, thuận tiện để người lao động làm việc
ở mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực, mọi tổ chức đều được tham gia BHXH. Đồng
thời từng bước hoàn thiện và bổ sung các chế độ BHXH, đa dạng hóa các hình
thức và loại hình tham gia bảo hiểm x• hội. Đặc biệt là việc xác định tuổi nghỉ hưu
giữa nam và nữ, tuổi nghỉ hưu giữa các loại lao động có ngành nghề khác nhau,
trong đó cần nghiên cứu tuổi nghỉ hưu của lao động "chất xám" của các nhà quản
lý và việc nghiên cứu triển khai 2 chế độ BHXH hưu trí, tử tuất cho người lao
động ở khu vực nông thôn, chế độ BHXH thất nghiệp cho người lao động trong
thời gian tạm thời mất việc nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho họ.
3.6. Nâng cao hiệu quả đầu tư nguồn quỹ nhàn rỗi.
Quỹ BHXH hoạt động theo nguyên tắc thu trước - chi sau, nên phải có trách
nhiệm bảo đảm an toàn và phát triển quỹ trong một cơ chế luật pháp ít rủi ro nhất.
Với tư cách là quỹ của người lao động, quỹ tài chính tập trung, một tổ chức tài
chính vô vị lợi, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nguồn vốn của quỹ cần
được hoà vào dòng chảy của ngân sách Quốc gia, tham gia tích cực có chọn lọc
vào thị trường tài chính:
- Trước hết, cần tạo lập những quy định mang tính pháp lý và cơ chế tài chính
để ngân quỹ của BHXH có thể tham gia đầu tư tài chính theo phương thức an toàn,
ít rủi ro nhất và trong thị trường có sự bảo đảm, đặc biệt là việc duy trì và kiềm
chế lạm phát ở mức thấp nhằm tránh hiện tượng số tiền đầu tư từ ngân quỹ nhàn
rỗi lại nhận được mức l•i suất thấp hơn mức lạm phát hàng năm. Cần phân biệt
đầu tư tài chính của BHXH với đầu tư tài chính của BHTM, lợi nhuận thu được từ
đầu tư ngân quỹ BHXH hoàn toàn không mang tính lợi nhuận thương mại và được
dùng để bảo tồn, phát triển quỹ, không phải là đối tượng chịu thuế. BHXH có thể
mua bảo hiểm để bảo hiểm, bù đắp và chia sẽ rủi ro trong đầu tư tài chính.
dạn ứng dụng kỹ thuật hiện đại bằng việc quan tâm đầu tư trang bị máy móc, thiết
bị hiện đại cho toàn hệ thống, đào tạo đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu. Điều quan
trọng và cần làm trước hết là xây dựng cho được hệ thống các tiêu chuẩn trong các
nghiệp vụ BHXH. Chẳng hạn: chuẩn hoá các m• quản lý, danh mục các báo biểu,
các chỉ tiêu thống kê và phương pháp tính.
- Ngoài ra, còn phải đầu tư cho các phần mềm đáp ứng nhu cầu tự động hoá có
khả năng thích ứng với sự thay đổi về chế độ chính sách. Trong tương lai gần, hệ
thống thông tin BHXH Việt Nam cần được nối mạng toàn ngành, rút ngắn khoảng
cách về trình độ phát triển với các ngành nghề khác. Đồng thời thúc đẩy tiến trình
cải cách hành chính, nâng cao chiến lược hoạt động BHXH, góp phần đưa ngành
BHXH Việt Nam lên một tầm cao mới
3.8. Hợp tác trong nước và quốc tế về BHXH
Với đặc thù là hoạt động mang tính x• hội và nhân đạo nên việc hợp tác với
các tổ chức trong nước và quốc tế là hoạt động hết sức cần thiết đối với cơ quan
bảo hiểm x• hội. Trong điều kiện mới được thành lập của BHXH Việt Nam, cộng
với sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước còn lớn cho quỹ BHXH, chính vì vậy cần
tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế và đẩy mạnh hơn nữa hợp tác với các
cơ quan, đoàn thể trong nước tạo điều kiện cho thực hiện các hoạt động BHXH tốt
hơn. Đẩy mạnh hơn nữa quan hệ với các tổ chức BHXH, lao động quốc tế với mục
đích trao đổi, đào tạo cán bộ, chuyên gia để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ
làm về công tác BHXH.
Kết luận
Trong bối cảnh đất nước đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại
hoá như hiện nay thì vấn đề người lao động và các chế độ chính sách đối với
người lao động ngày càng trở lên quan trọng bởi nó không chỉ có ý nghía về mặt
kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị - x• hội sâu sắc. Hơn thế nữa, sự mở ra
của nhiều thành phần kinh tế đ• và đang gây không ít khó khăn cho các nhà quản
lý vĩ mô trong việc chăm lo cuộc sống và điều kiện làm việc của người lao động.
Để có thể giải quyết tốt vấn đề này, trong những năm vừa quan Đảng và Nhà nước
BHXH cũng là sự khẳng định trong tương lai không xa chúng ta có thể bắt kịp các
quốc gia khác trên thế giới không chỉ bằng thành tự kinh tế mà còn bằng những
giá trị đạo đức trong bảo vệ và tôn trọng quyền lơị của người lao động, một trong
những ưu việt của chế độ XHCN mà chúng ta đang quyết tâm xây dựng.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Kinh tế
bảo hiểm - trường Đại học Kinh tế Quốc dân, cảm ơn thầy giáo Nguyễn Văn Định
- Tiến sĩ, chủ nhiệm Bộ môn Kinh tế bảo hiểm - trường Đại học Kinh tế Quốc dân
và các cán bộ nhân viên Trung tâm thư viện - trường Đại học Kinh tế Quốc dân đ•
tận tình giúp đỡ em hoàn thành đề án này.
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Bảo hiểm - trường Đại học Kinh tế Quốc dân
; NXB Thống kê - Hà Nội - 2000 -
2. Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm - trường Đại học Kinh tế Quốc dân;
NXB Giáo dục - 1998
3. Giáo trình Thống kê bảo hiểm trường Đại học Kinh tế Quốc dân; NXB Thống
kê - Hà Nội 1996 -
4. Sách Hỏi - Đáp về BHXH; NXB Lao động - x• hội - 1999
5. Hệ thống các văn bản pháp quy về BHXH - BHXH Việt Nam.
6. Tạp chí BHXH - số 1, 4 năm 1999 và các số năm 2000