Từ khi BHXH Việt Nam chính thức hoạt động(tháng 10/1995) đến nay, tổng số
tiền mà cơ quan BHXH đ• thu được từ người lao động là 4.921.896 triệu đồng,
trong đó:
- Quý IV/1995 : 98.750 triệu đồng.
- Năm 1996 : 642.433 triệu đồng.
- Năm 1997 : 861.403 triệu đồng.
- Năm 1998 : 968.989 triệu đồng.
- Năm 1999 : 1.046.513 triệu đồng.
- Năm 2000 : 1.303.808 triều đồng.
3.1.3. Nguồn đóng và hỗ trợ thêm từ Ngân sách Nhà nước
Trong thời gian từ tháng 10/1995 đến hết tháng 12/2000, tổng số tiền hỗ trợ từ
Ngân sách Nhà nước cho quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng nghỉ chế độ
BHXH có thời gian tham gia BHXH từ năm 1995 trở về trước là 26.966.679 triệu
đồng, cụ thể như sau:
- Quý IV/1995 : 1.112.030 triệu đồng.
- Năm 1996 : 4.387.903 triệu đồng.
- Năm 1997 : 5.163.093 triệu đồng.
- Năm 1998 : 5.128.425 triệu đồng.
- Năm 1999 : 5.025.620 triệu đồng.
- Năm 2000 : 6.159.608 triệu đồng.
Qua bảng 6 cho ta thấy, kết quả nổi bật trong công tác thu nộp BHXH từ
1/10/1995 đến năm 2000 là số lao động tham gia và số thu BHXH mỗi năm một
tăng lên, năm sau cao hơn năm trước. Phân tích các chỉ tiêu cho ta thấy như sau:
- Chỉ tiêu số 1 và 2 là: nếu cuối năm 1995 cả nước có 2,2 triệu lao động tham gia
BHXH thì đến năm 2000 con số này đ• lên tới 3,8 triệu lao động, tăng 1,6 triệu lao
động (chưa kể mỗi năm có khoảng 15 vạn người nghỉ việc) và bằng khoảng 10%
lực lượng lao động x• hội. Điều đó cho thấy, việc mở rộng đối tượng tham gia
BHXH đến các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có từ 10
lao động trở lên cùng với chính sách thu BHXH phù hợp nên số các đơn vị sử
dụng lao động lẫn người lao động tham gia BHXH đ• ngày một tăng. Tuy nhiên,
con số 10% lực lượng lao động tham gia BHXH so với các nước còn ở mức rất
BHXH phải nộp của các đơn vị sử dụng lao động từ 73 ngày năm 1995 (ứng với
20,1% số nợ so với tổng số phải thu) xuống còn 38 ngày năm 2000 (ứng với
10,4% số nợ so với tổng số phải thu theo số liệu báo cáo nhanh của BHXH Việt
Nam). Mục tiêu trong những năm tới là phải phấn đấu tiếp tục làm giảm số chiếm
dụng này xuống mức thấp hơn nữa.
- Chỉ tiêu số 4 đ• khẳng định rõ hơn những kết quả đạt được trong công tác thu
nộp BHXH thời gian qua, đó là tỷ lệ thu BHXH từ sự đóng góp của người lao
động và người sử dụng lao động so với tổng chi ngày càng tăng từ 34,2% của quý
IV/1995 lên 70,5% năm 2000. Điều đó nói lên rằng, công tác thu nộp BHXH đ•
góp phần quan trọng vào việc hình thành được quỹ BHXH tập trung, hạch toán
độc lập với Ngân sách Nhà nước, làm giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước
trong việc chi trả các chế độ BHXH đồng thời tạo điều kiền cho cơ quan BHXH
Việt Nam chủ động trong việc số tiền tạm thời nhàn rỗi chưa được sử dụng trong
quỹ BHXH vào đầu tư tăng trưởng quỹ. Số tiền này được hình thành từ khoản
chênh lệch thu - chi quỹ BHXH hàng năm thể hiện ở chỉ tiêu số 5 và được phản
ảnh rõ nét trong đồ thị dưới đây:
Đồ thị chênh lệch thu – chi quỹ BHXH
(từ quý IV/1995 đến năm 2000)
Qua đồ thị chênh lệch thu - chi quỹ BHXH ở trên ta thấy, khoản chênh lệch này
tăng lên qua các năm từ 2.186,5 tỷ đồng năm 1996 lên 3.974,7 tỷ đồng năm 2000,
tăng bình quân hàng năm là 447,1 tỷ đồng. Đây là kết quả rất đáng mừng trong
thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý BHXH Việt Nam, nó đ• tạo cho quỹ BHXH một
khoản tiền tạm thời nhàn rỗi ngày càng lớn, một phần trong đó sẽ được đem vào
đầu tư sinh lời và lại tạo ra một nguồn thu mới cho quỹ BHXH.
Đạt được những kết quả trên trước hết là nhờ sự cố gắng nỗ lực của công nhân
viên chức toàn ngành, mà trước hết là những người trực tiếp làm công tác thu nộp,
ngoài ra còn do các nguyên nhân chính sau đây:
- Chỉ thị 15/CP ngày 26/5/1997 của Bộ Chính trị về tăng cường l•nh đạo thực hiện
các chế độ BHXH đ• có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy sự quan tâm của cấp
vậy trong những năm tới, nước ta cần có nhưng giải pháp để tăng nhanh số người
tham gia đóng BHXH, nhằm đảm bảo quyền lợi cho mọi người lao động.
- Mức thu BHXH ở nước ta còn thấp so với nhiều nước, cộng với tình trạng nợ
đọng tiền BHXH vẫn còn lớn, tính đến nay số nợ đọng lên tới gần 490 tỷ đồng
chiếm khoảng 10 - 11% so với tổng số phải thu. Nếu kéo dài tình trạng này sẽ làm
nẩy sinh nhiều vấn đề phức tạp và khó khăn, trước hết là thiếu nguồn chi trả cho
người hưởng BHXH, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của người lao động.
- Nhận thức về BHXH của mọi người dân nói chung và người lao động nói riêng
còn bị hạn chế, chưa thấy rõ bản chất ưu việt của BHXH, còn có nhiều người
nhầm lẫn giữa BHXH với BHTM.
- Trình độ của cán bộ, công nhân viên chức trong hệ thống BHXH Việt Nam nói
chung, cán bộ làm công tác thu nói riêng còn bất cập; còn hạn chế cả về chuyên
môn nghiệp vụ lẫn năng lực công tác; chưa năng động, sáng tạo; còn làm việc theo
lối hành chính, chưa quen với cách làm việc như hoạt động của một ngành dịch
vụ; còn thiếu cán bộ nghiên cứu, đề xuất chính sách và hoạch định chiến lược phát
triển lâu dài, nên chưa đáp ứng kịp với tiến trình đổi mới sự nghiệp BHXH.
- Chính sách BHXH trong thời gian qua còn thiếu đồng bộ, thay đổi nhiều lần và
vẫn còn một số nội dung chưa hợp lý cho nên cần được tiếp tục nghiên cứu và xây
dựng thành luật BHXH để tập trung thống nhất quản lý nhằm tổ chức thực hiện có
hiệu quả.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành còn nghèo nàn và thiếu thốn. Việc ứng dụng
công nghệ thông tin vào quản lý trong lĩnh vực này hiện nay chưa có, các công
việc thuộc nghiệp vụ chủ yếu vẫn làm thủ công là chính, máy vi tính được trang bị
còn ít, các công nghệ phần mềm đang còn trong giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm
chưa được áp dụng rộng r•i.
- Hệ thống BHXH Việt Nam chưa có mối quan hế chặt chẽ với các nước khác.
Điều này làm hạn chế khả năng phát triển, thiếu thông tin, khó khăn trong việc
hiện đại hoá ngành.
3.2. Công tác đầu tư tăng trưởng quỹ
Mục tiêu hoạt động của quỹ là tự cân đối thu - chi do đó quỹ BHXH luôn luôn
Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, BHXH Việt Nam đ• sử dụng tiền
sinh lời do đầu tư tăng trưởng đúng mục đích là xây dưng cơ sở vật chất của toàn
ngành và trích lập quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng. Ngoài các khoản chi trên, phần
còn lại của lợi nhuận đầu tư được nộp vào quỹ BHXH.
Bên cạnh những kết quả đ• đạt được của công tác đầu tư tăng trưởng quỹ, trong
thời gian qua cũng còn một số vấn đề tồn tại:
- L•i suất đầu tư chưa hình thành và vận động theo quy luật l•i suất của thị trường.
Hầu hết l•i suất được hình thành theo sự chỉ định của Chính phủ và thường là l•i
suất thấp. Theo em để đảm bảo việc đầu tư tăng trưởng quỹ có hiệu quả, vấn để
đầu tư quỹ nên phân ra 2 lĩnh vực như sau:
+ Nếu cho Ngân sách Nhà nước hoặc Quỹ Hỗ trợ Đầu tư Quốc gia vay theo sự chỉ
định của Chính phủ thì có thể thực hiện l•i suất thấp, ưu đ•i dưới mức cho vay trên
thị trường. Vì Ngân sách Nhà nước hoặc Quỹ Hỗ trợ Đầu tư Quốc gia vay không
phải là để kinh doanh, mà để đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế quốc dân,
hoặc chi tiêu cho mục đích của Chính phủ.
+ Nếu cho các ngân hàng thương mại vay thì phải theo l•i suất thị trường. Vì các
ngân hàng thương mại vay là để kinh doanh lấy l•i. L•i suất cho vay của các ngân
hàng thương mại theo thị trường, trong khi đó l•i suất đi vay của quỹ BHXH lại
theo l•i suất ưu đ•i thấp hơn l•i suất đi vay trên thị trường. Khoản lợi nhuận siêu