Chế độ dinh dưỡng chống stress
Bên cạnh những phương pháp tập luyện để kiểm soát cảm xúc, chế độ dinh dưỡng
là một kênh quan trọng để giúp chống stress, ổn định tâm lý và bổ sung năng
lượng.
Bên cạnh những phương pháp tập luyện để kiểm soát cảm xúc, chế độ dinh dưỡng
là một kênh quan trọng để giúp chống stress, ổn định tâm lý và bổ sung năng
lượng.
Trong cuộc sống ngày nay, nhịp sống nhanh, áp lực công việc và những va chạm
trong các mối quan hệ liên tục tạo ra cho mỗi người nhiều sự căng thẳng lo âu.
Bên cạnh những phương pháp tập luyện để kiểm soát cảm xúc, chế độ dinh dưỡng
là một kênh quan trọng để giúp ổn định tâm lý và bổ sung năng lượng. Sau đây là
một số nguyên tắc chung về một chế độ ăn uống giúp giảm sự căng thẳng.
Bảo đảm một nguồn năng lượng ổn định cho não.
Chất bột đường là nguồn năng lượng quan trọng cho mọi hoạt động của cơ thể,
nhất là các tế bào não. Tuy nhiên, việc ăn nhiều thực phẩm tinh lọc, hay ăn ngọt,
uống nhiều nước ngọt có thể làm tăng vọt đường huyết tạo được cảm giác thoải
mái nhất thời do não là tổ chức nhạy cảm nhất với chất đường. Cảm giác nầy cũng
chóng biến mất khi đường huyết hạ xuống. Những dao động lên và xuống xảy ra
thường xuyên dễ gây tình trạng “nghiện” chất ngọt, làm rối loạn hoạt động nội tiết,
gia tăng những stress oxy hoá và ảnh hưởng xấu đến hành vi và tâm lý của con
người. Do đó, để bảo đảm một nguồn năng lượng kéo dài và ổn định cần ăn những
carbohydrate phức hợp từ những loại ngũ cốc như gạo lức, bắp, hạt kê. Khẩu phần
hợp lý cần khoảng từ 65% đến 75% năng lượng từ ngũ cốc. Ngoài những vi chất
bổ ích khác, ngũ cốc và các loại hạt có nhiều chất xơ vừa giúp chuyển hoá mỡ vừa
điều tiết sự hấp thu chất đường, yếu tố quan trọng để điều hoà nội tiết, kiểm soát
cảm xúc.
Nguồn chất đạm dễ chuyển hóa cần thiết để làm dịu thần kinh.
Một nghiên cứu ở Nhật cho thấy những người bệnh thận phải ăn giảm chất đạm
trong khẩu phần hàng ngày dễ xuất hiện các triệu chứng trầm cảm, căng thẳng.
Hoạt động của tế bào não cần nhiều loại protein thiết yếu khác nhau, đặc biệt là
điều kiện stress, nhu cầu những loại vi chất nầy gia tăng nhiều so với bình thường.
Bác sĩ H.L. Newbold, MD, một nhà nghiên cứu về tương quan giữa dinh dưỡng và
hành vi đã đề cao B1 như là một loại sinh tố thống soái của tế bào thần kinh mà
thiếu nó có thể sẽ xảy ra tất cả những triệu chứng bệnh lý về thần kinh mà con
người có thể nghỉ ra như mệt mõi, trầm cảm, táo cấp, thiếu tập trung, mất định
hướng, ảo giác, tê tay[i] . . .Ông cho rắng, không giống như nhiều loại thuốc khác,
B1 có tác dụng điều hoá, bình thường hoá (normalize). Nó có thể gây hưng phấn ở
người mệt mỏi, trầm cảm nhưng cũng có thể làm êm dịu ở những người đang quá
kích thích. Hỗ trợ cho những hoạt động này còn phải tính đến vai trò của nhiều
sinh tố B khác như niacin (B3), riboflavin (B2), pyridoxin (B6), pantothenic acid
và B12. Các sinh tố nhóm B có nhiều trong ngũ cốc, các loại hạt đậu, mè, men
rượu bia, mầm lúa mì, tim, gan.
Sự thiếu hụt một số chất khoáng quan trọng như magnesium và calcium cũng dễ
gây ra những triệu chứng căng thẳng, lo sợ hoặc suy giảm trí nhớ. Ngoài ra, nhiều
thí nghiệm khoa học cho biết những đối tượng trải qua stress đều có biểu hiện sụt
giảm nghiêm trọng lượng các chất kẽm, sắt, selenium. Do đó, những khoáng chất
nầy cần được bổ sung trong chế độ ăn chống stress. Tôm, cua, yaourt, sò, hến có
nhiều khoáng chất nầy. Những loại hạt toàn phần cũng là nguồn tự nhiên chứa
những khoáng chất Mg, Ca, Zn và nhiều sinh tố nhóm B.
Cẩn thận với những chất kích thích.
Một nghiên cứu ở Nhật cho biết những người làm việc nhiều áp lực nhất thường
cũng là những người ít vận động tay chân, hay ăn bất thường, dùng trà và cà phê
nhiều và cũng là những người bị stress nhất! Với tác dụng kích thích thần kinh
trung ương, trà, cà phê, rượu, cacao hoặc những chất kích thích khác có thể tạm
thời gây ra cảm giác hưng phấn. Tuy nhiên khi được sử dụng nhiều, những kích
hoạt liên tục sẽ gây ra nhiều phản ứng độc hại. Vả lại, càng bị kích thích càng
thêm stress và lượng thức uống mà cơ thể cần sẽ càng cao. Vòng luẩn quẩn này
cần phải được chấm dứt.
Trong những lúc cuối của một giai đoạn căng thẳng hoặc những lúc phải đáp ứng
với những cao điểm của công việc, nhiều người dễ bị cảm, cúm vì stress làm suy