BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
“Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
ủy thác đầu tư tại Tổng công ty cổ phần
Tài chính Dầu khí Việt Nam”
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay cùng với những cơ hội mà hội nhập kinh tế quốc tế đem lại là
những thách thức mà nền kinh tế nói chung và thị trường ngân hàng tài chính
nói riêng của Việt Nam cần phải đối mặt. Trước sự phát triển không ngừng đó
các dịch vụ ngân hàng- tài chính ngày càng được đa dạng hóa và phát triển
linh hoạt với chất lượng ngày càng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Ngân hàng không còn chiếm vị thế độc tôn là trung gian trên thị trường tài
chính mà thêm vào đó còn có sự góp mặt của các công ty Tài chính cùng với
các dịch vụ tài chính truyền thống như tín dụng cá nhân,tín dụng doanh
nghiệp,chiết khấu giấy tờ có giá…bên cạnh những dịch vụ truyền thống đó,
các Công ty tài chính còn tung ra một số loại hình dịch vụ tài chính mới mẻ
nhằm cạnh tranh với các ngân hàng vào tạo chỗ đứng cho riêng mình. Đồng
thời khi nền kinh tế phát triển, ngày càng có nhiều cá nhân, tổ chức sở hữu
khối lượng tài sản lớn dẫn đến nhu cầu quản lý tài sản và đầu tư tài sản đó sao
cho hiệu quả nhất. Nắm bắt được những điều kiện và nhu cầu đó,Tổng công
ty cổ phần Tài chính Dầu khí(PVFC) đã đi tiên phong trong việc triển khai
một dịch vụ hoàn toàn mới: dịch vụ ủy thác đầu tư. Đây là dịch vụ hứa hẹn
nhiều tiềm năng phát triển nên việc này đặt ra cho Tổng công ty Tài chính
2
Dầu khí(PVFC) nhu cầu cấp thiết để có những giải pháp nhằm hoàn thiện và
nâng cao chất lượng dịch vụ.
Trong quá trình thực tập tại Tổng công ty cổ phẩn Tài chính Dầu khí, em
đã có cơ hội được tiếp xúc với các quy trình, văn bản hướng dẫn thực hiện
nghiệp vụ này .Đồng thời nhận thấy những nét mới lạ, tiềm năng, vai trò của
Theo Nghị định số 79/2002/NĐ-CP, Công ty Tài chính là loại hình tổ
chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy
động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn
về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp
1 Federic S. Minskhin
4
luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi
dưới 1 năm.
• Đặc trưng cơ bản của công ty tài chính:
- Tuy cũng là một trung gian tài chính nhưng hình thức thu hút vốn của
công ty tài chính khác với các ngân hàng thương mại, hình thức thu hút
vốn chủ yếu là thông qua việc phát hành các loại chứng khoán (trái
phiếu, cổ phiếu, tín phiếu), đặc biệt là không nhận tiền gửi của các tổ
chức và dân cư.
- Công ty tài chính huy động các nguồn vốn lớn và cho vay chủ yếu là
các món tiền nhỏ, đặc biệt thích hợp với nhu cầu vốn của các doanh
nghiệp nhỏ và người tiêu dùng.
- Kỳ hạn của các khoản cho vay của các công ty tài chính chủ yếu là
trung và dài hạn.
- Công ty tài chính thực hiện các nghiệp vụ cho thuê và thuê
mua( leasing)
- Thực hiện cầm cố các giấy tờ có giá, kinh doanh tiền tệ
- Tư vấn tài chính, marketing, giám định các công việc chuẩn bị để ký
kết hợp đồng, thành lập các công ty liên doanh, tư vấn phát hành cổ
phiếu…
- Trợ cấp tài chính cho các dự án phát triển kinh tế ký thuật( các dự
án được xét duyệt bởi Nhà nước hay dự án của tập đoàn đối với các
công ty tài chính trực thuộc tập đoàn)
- Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh vàng bạc,đá quý, mua bán chuyển
nhượng các loại chứng khoán.
6
nợ nhỏ. Các công ty tài chính người tiêu dùng là các công ty riêng
biệt hoặc do các ngân hàng sở hữu. Các công ty này cho người tiêu
dùng vay mà không có tín dụng từ những nguồn khác và thu lãi suất
cao hơn.
- Công ty tài chính kinh doanh: cung cấp các dạng tín dụng đặc biệt
cho các doanh nghiệp bằng cách mua những khoản tiền sẽ thu (các
hóa đơn của hãng) có chiết khấu. Việc cung cấp tín dụng này được
gọi là bao thanh toán. Ngoài việc bao thanh toán các công ty tài
chính kinh doanh cũng chuyên môn hóa trong việc cho thuê thiết
bị,là những thứ mà họ mua và cho các nhà kinh doanh thuê một số
năm( leasing).
• Phân loại theo quan hệ sở hữu
2
: theo điều 3 Nghị định 79/2002/NĐ-
CP.
- Công ty tài chính Nhà nước: là Công ty Tài chính do Nhà nước
đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh.
- Công ty tài chính cổ phần: là Công ty Tài chính do các tổ chức và
cá nhân cùng góp vốn theo quy định của pháp luật, được thành lập
dưới hình thức Công ty cổ phần.
- Công ty tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng: là Công ty Tài chính
do một tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình và làm
chủ sở hữu theo quy định của pháp luật, hạch toán độc lập và có tư
cách pháp nhân.
- Công ty tài chính liên doanh: là Công ty Tài chính được thành lập
bằng vốn góp giữa bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín
2 Điều 3, NĐ 79/2002/ NĐ - CP
7
dụng, doanh nghiệp Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hoặc
nhân trong và ngoài nước.
So với các ngân hàng, nguồn vốn huy động được của các công ty tài chính
phải chịu mức chi phí cao hơn do họ chỉ được phép huy động các nguồn vốn
trung và dài hạn. Bên cạnh đó, công ty tài chính không được phép vay từ cửa
sổ chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước dễ dàng như các NHTM. Ở Mỹ, các
công ty tài chính không được tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân
hàng nên họ không cần phải duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà chỉ cần trích lập
quỹ dự phòng rủi ro và duy trì tỷ lệ đảm bảo an toàn.
1.1.2.2.Hoạt động tín dụng.
Các công ty tài chính được phép hoạt động tín dụng dưới các hình thực
cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê (leasing) và bao thanh
toán( factoring). Hoạt động tín dụng của công ty tài chính cũng có những nét
khác biệt các NHTM, thể hiện qua 3 đặc điểm sau: Công ty tài chính chủ yếu
cho vay trung và dài hạn, họ chủ yếu thực hiện vay các món lớn rồi chia thành
các món nhỏ để cho vay- điều này hoàn toàn ngược lại so với các NHTM.
Đồng thời vì chi phí vốn vay lớn hơn các NHTM nên công ty tài chính thường
gặp khó khăn hơn trong việc tìm kiếm các hợp đồng cho vay hoặc phải chấp
nhận cho vay các hợp đồng hay dự án có rủi ro cao.
Công ty tài chính có các hình thức cho vay như: cho vay tiêu dùng, cho
vay trả góp, cho vay theo ủy thác của chính phủ, cá nhân và tổ chức đã phê
duyệt. Bên cạnh đó, công ty tài chính còn chiết khấu các giấy tờ có giá theo
quy định của pháp luật,thực hiện bảo lãnh bằng uy tín của mình….
1.1.2.3.Các dịch vụ tài chính khác
Bên cạnh hai hoạt động chủ chốt là huy động vốn và tín dụng - hoạt động
đặc trưng của một trung gian tài chính,các công ty tài chính còn thực hiện
thêm những hoạt động khác như đầu tư, nhận ủy thác,tư vấn tài chính, kinh
9
doanh vàng và ngoại tệ….Tất cả những hoạt động này đều tuân theo quy định
và giám sát của các cơ quan chức năng có thẩm quyền.
Trong tất cả các hoạt đông trên, hoạt động nhận ủy thác để đầu tư hoặc cho
Nam càng có nhiều các quỹ ủy thác đầu tư xuất hiện.
Qua hai khái niệm trên ta hiểu về bản chất ủy thác biểu hiện mối quan hệ
giữa hai hay nhiều bên tham gia, bao gồm:
- Người ủy thác: trustor
- Người nhận ủy thác: trustee
- Người thụ hưởng: beneficiary (người thụ hưởng thường là chính người
ủy thác)
Trong mối quan hệ này, người ủy thác phải giao quyền nắm giữ tài sản cho
người nhận ủy thác và “tài sản” được hiểu theo nghĩa rộng là tiền mặt, bất
động sản,giấy tờ có giá hoặc một công việc ý muốn nào đó cần được thực
hiện.
Ủy thác có 4 đặc điểm cơ bản sau:
- Ủy thác dựa trên cơ sở tin tưởng giữa người này với người khác, do đó
thuật ngữ Trust được sử dụng để chỉ nghiệp vụ này.
- Mang tính trung gian: người ủy thác không trực tiếp thực hiện quản lý và
kinh doanh tài sản.
- Là một loại hình dịch vụ vì nó không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu
tài sản mà vẫn mang lại lợi ích và cung cấp 1 giải pháp nào đó cho khách
hàng.
- Ủy thác không chỉ đem lại lợi nhuận cho khách hàng mà còn sinh lời cho
chính tổ chức hay cá nhân nhận ủy thác.
1.2.1.2.Các loại hình ủy thác.
1.2.1.2.1.Căn cứ vào chức năng của ủy thác:
11
• Ủy thác quản lý vốn và tài sản: đây là sản phẩm dịch vụ ủy thác mà
cá nhân hay tổ chức nhận quản lý và kinh doanh giúp sinh lời tài sản
mà bên ủy thác giao phó.
• Ủy thác thực hiện công việc: loại hình ủy thác này được hiểu là bên
nhận ủy thác có trách nhiệm phải hoàn thành một hay một nhóm các
công việc do bên ủy thác giao phó, ví dụ như: ủy thác ký hợp đồng,
Thực chât ủy thác đầu tư là một hình thức đầu tư gián tiếp, vậy lợi
ích của ủy thác đầu tư so với các hình thức đầu tư khác là gì? Khi một người
nắm giứ một khoản tiền nhàn rỗi, có có thể đứng trước nhiều chọn lựa đầu
tư:gửi tiết kiệm ngân hàng,mua trái phiếu chính phủ, chứng khoán hoặc trực
tiếp đem vốn đi đầu tư…Mua trái phiếu hay công trái chính phủ, gửi tiết kiệm
ngân hàng,đây là những giải pháp an toàn, mức độ rủi ro thấp nhưng tương
xứng với nó là mức lợi nhuận thu về không cao. Thông thường trong một vài
năm gần đây lãi suất trái phiếu chính phủ thường chỉ ở mức 8.5%/năm và tiền
gửi tiết kiệm khoảng 9%/năm. Trong điều kiện lạm phát ở Việt Nam đầu năm
2008, lãi suất là 11%-12%/ năm và hiện khoảng 15%/năm trong thời điểm
hiên tại. Trong khi đó đầu tư trực tiếp đem lại những mức lợi suất cao hơn
gấp nhiều lần nhưng bù lại độ rủi ro cũng cao hơn rất nhiều,đặc biệt đối với
những nhà đầu tư không chuyên nghiệp. Từ đây, sản phẩm ủy thác đầu tư ra
đời là sản phẩm trung hòa giữa 2 phương án đầu tư trên.
1.2.2.2.Hoạt động ủy thác đầu tư có những đặc điểm sau:
Dịch vụ ủy thác đầu tư là hình thức đầu tư gián tiếp trong đó, bên ủy
thác có thể lựa chọn một trong hai hình thức đầu tư: ủy thác đầu tư dự án, ủy
thác đầu tư góp vốn mua cổ phần.
Ủy thác đầu tư còn có đặc điểm riêng là:
13
- Tùy từng loại hình ủy thác đầu tư và tùy theo hợp đồng ủy thác mà
lợi tức bên ủy thác thu được có thể thay đổi hoặc cố định theo tình hình dự án
đầu tư, tình hình sản xuất kinh doanh. Đây chính là điểm khác biệt quan trọng
để phân biệt ủy thác đầu tư với cho vay hay gửi tiết kiệm vì trong 2 hình thức
này khách hàng thường chỉ thu được lợi tức cố định như đã thỏa thuận.
- Ủy thác đầu tư mang tính chất vô hình, không ổn định và khó xác
định chất lượng.
- Thời hạn của ủy thác đầu tư không chỉ phụ thuộc ý muốn chủ quan
của bên ủy thác mà còn phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh sản xuất,thời hạn
của dự án, do đó ủy thác đầu tư thường mang tính trung gian và dài hạn.
góp phần làm đa dạng hóa các dịch vụ tài chính của các công ty tài chính,tổ
chức tín dụng, đông thời giúp các tổ chức này mở rộng quan hệ với khách
hàng của mình.
1.2.2.4.Các nguyên tắc và quy trình của hoạt động ủy thác đầu tư.
1.2.2.4.1.Các nguyên tắc của hoạt động ủy thác đầu tư.
• Nguyên tắc tương hỗ cho hoạt động đầu tư:
Hoạt động ủy thác đầu tư là hoạt động hỗ trợ cho chiến lược đầu tư
của các tổ chức và cá nhân trong nước, nước ngoài cho danh mục đầu
tư của công ty. Đồng thời hình thành dịch vụ tài chính mới đảm bảo
tính an toàn, hiệu quả cho toàn bộ chiến lược đầu tư hay kinh doanh
của mình.
• Nguyên tắc đảm bảo an toàn pháp lý trong hoạt động nhận ủy thác
đầu tư.
Hoạt động ủy thác đầu tư của một công ty tài chính phải tuân thủ
các quy định pháp luật có liên quan như luật đầu tư, luật quy định hoạt
15
động của các tổ chức tín dụng….Đối với hoạt động nhận ủy thác đầu tư
từ các tổ chức và cá nhân trong nước phải tuân thủ các quy định của
pháp luật về tỷ lệ sở hữu của tổ chức và cá nhân nước ngoài trong một
doanh nghiệp cổ phần, quy định về quản lý ngoại hối và các quy định
có liên quan khác.
• Nguyên tắc minh bạch, rõ ràng, công khai.
Hoạt động ủy thác đầu tư phải đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng
trong quá trình cung cấp thông tin, tư vấn cho khách hàng cũng như các
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Trong quá trình tiến hành đầu tư từ
nguồn vốn ủy thác, bên ủy thác có quyền giám sát các kết quả đầu tư và
quá trình. Mọi thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của bên thụ thác và ủy
thác đều được làm rõ trong hợp đồng ủy thác đã ký.
• Nguyên tắc đảm bảo cam kết về quyền và lợi ích hợp pháp với bên
ủy thác vốn.
thuận cho bên ủy thác.
- Hoàn trả vốn ủy thác cho bên ủy thác khi thời hạn trong hợp đồng đã hết.
Như vậy, ủy thác đầu tư được xem như hoạt động ủy thác công việc mà
người thụ thác sẽ thay mặt người ủy thác đầu tư vào một trong hai hình thức sau:
- Ủy thác đầu tư dự án.
- Ủy thác đầu tư góp vốn mua cổ phần.
Sơ đồ quy trình(1.1)
……
17
21
Dự án được
ủy thác
Bên nhận
ủy thác
Bên ủy thác
4
3
(1) Giao vốn: người ủy thác và người nhận ủy thác ký kết hợp đồng ủy
thác và chuyển giao vốn.
(2) Đầu tư: người nhận ủy thác đầu tư vào dự án hoặc chứng khoán được
ủy thác.
(3) Thu kết quả kinh doanh: dự án hoặc chứng khoán được ủy thác sinh
lời.
(4) Thanh toán phí và lợi tức: người nhận ủy thác thanh toán lợi tức cho
người ủy thác và người ủy thác trả phí ủy thác và các phí liên quan cho
người nhận ủy thác.
Sơ đồ trên cũng cho thấy để hình thành nên một quan hệ ủy thác đầu tư
cần có 5 yếu tố: người ủy thác, người nhận ủy thác, người thụ hưởng, vốn ủy
thác và hợp đồng ủy thác.
Trong đó:
- Chỉ tiêu lợi nhuận:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Ý nghĩa: phản ánh hiệu quả tuyệt đối của dự án.
- Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng
NPV là chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền thu
được trong từng năm thực hiện dự án với số vốn đầu tư bỏ ra
được hiện tại hóa tại mốc 0.
Phản ánh giá trị tăng thêm cho chủ đầu tư.
- Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư
Lợi nhuận năm i quy về thời điểm hiện tại
RR
i
=
Vốn đầu tư tại thời điểm hiện tại
19
RR
i
: tỷ suất sinh lời vốn đầu tư năm i.
Ý nghĩa: phản ánh lợi nhuận trên một đơn vị vốn đầu tư.
- Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn tự có.
W
i
R
Ei
=
E
i
Trong đó: r
Ei
Trong đó: B là lợi ích thu được
C là chi phí
- Thời gian thu hồi vốn đầu tư (PP):
Số vốn đầu tư còn lại cần được thu hồi
PP = n +
Dòng tiền ngay sau mốc hoàn vốn
20
n: là năm ngay trước năm thu hồi vốn đầu tư.
Ý nghĩa: phản ánh thời gian thu hồi vốn đầu tư vào dự án,nó cho
biết sau bao lâu thì dự án thu hồi đủ vốn đầu tư, do vậy PP cho
biết khả năng tạo thu nhập của dự án từ khi thực hiện cho đến khi
thu hồi đủ vốn. Phản ánh tương đối độ rủi ro của dự án.
- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ( IRR) : là trường hợp đặc biệt của lãi
suất chiết khấu tại đó NPV = 0.
Ý nghĩa:phản ánh tỷ suất hoàn vốn của dự án( chỉ tiêu tương đối)
- Điểm hòa vốn(BP): là mức sản lượng mà tại đó nhà đầu tư
thu hồi đủ vốn đầu tư.
Trên đây là một số chỉ tiêu thẩm định dự án mà bên thụ thác sử dụng
để đánh giá chất lượng dự án đầu tư nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất có thể cho
hoạt động ủy thác đầu tư.
• Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn đầu tư: hiệu quả vốn đầu tư là phạm
trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế- xã hội
đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các
kết quả đó trong một thời kỳ nhất định. Hiệu quả đầu tư được biểu
hiện bởi chính công thức:
Các kết quả mà DN thu được do đầu tư
E
tc
=
linh hoạt và có một danh mục đầu tư đa dạng để đáp ứng yêu cầu khách hàng
và bắt kịp xu hướng thị trường. Khách hàng( bên uỷ thác) sẽ chỉ hài lòng khi
hợp đồng uỷ thác đầu tư đem lại lợi nhuận cao như giá trị đã thoả thuận, thanh
toán đúng hạn số lợi nhuận và vốn uỷ thác. Ngoài ra một công ty tài chinh có
hiệu quả đầu tư tốt còn thoả mãn khách hàng nếu khi thanh toán hợp đồng uỷ
thác còn có phần giá trị tăng thêm của số lợi nhuận đã đề ra.
Quyền lợi khách hàng( bên uỷ thác) còn được đảm bảo tối ưu khi vốn hợp
đồng uỷ thác có tính thanh khoản cao,ức là có thể rút ra trước hạn nếu khách
hàng muốn thay đổi thời gian đáo hạn của hợp đồng hoặc trong trường hợp
công ty tài chính không đáp ứng được những yêu cầu trong hợp đồng uỷ thác
thì có thể chuyển nhượng hoặc cầm cố khi có nhu cầu.
1.2.4. Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động ủy thác đầu tư.
22
1.2.4.1.Nhân tố chủ quan.
- Mục tiêu chiến lược phát triển của công ty tài chính: Mục tiêu chiến lược
là nhân tố định hướng cho tất cả các hoạt động hay nghiệp vụ của một tổ chức
hay một công ty bất kỳ. Nếu nghiệp vụ uỷ thác đầu tư được công ty tài chính
coi trọng và coi là loại hình dịch vụ mũi nhọn thì tất cả những yếu tố liên
quan đến nó sẽ được đầu tư và nâng cấp đúng mực, từ các yếu tố vật chất,
thiết bị, công nghệ, qui trình cho đến con người.
Nghiệp vụ uỷ thác đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của chiến lược phát triển
chung của một công ty tài chính bởi nghiệp vụ này vừa liên quan đến hoạt
động huy động vốn của công ty, vừa liên quan đến các lĩnh vực đầu tư – hai
mảng đầu ra và đầu vào chủ chốt. Nhờ có nguồn vốn từ ủy thác đầu tư mà các
dự án có nguồn tài trợ,ngược lại đầu tư vào chứng khoán và các dự án sẽ tạo
hàng hóa cho danh mục của dịch vụ ủy thác đầu tư. Chính vì vậy, dù công ty
tài chính có đẩy mạnh hoạt động đầu tư nhằm kiếm lời theo hướng nào thì
dịch vụ ủy thác đầu tư đều có những cơ hội tốt để phát triển.
Bên cạnh đó, để cạnh tranh với các ngân hàng thương mại thì ủy thác đầu
tư là chiêu bài chiến thuật giúp các công ty tài chính, giúp các công ty này
của dịch vụ ủy thác đầu tư nói riêng và hiệu quả đầu tư của toàn công ty nói
chung được nâng cao.
- Hoạt động marketing: trong một thị trường tự do cạnh tranh ngày càng
khốc liệt và gay gắt như ngày nay, một công ty hay một loại hình dịch vụ
muốn tồn tại được thì bản thân các công ty và loại hình dich vụ đó phải tiếp
thị mình đến với các khách hàng, nắm bắt được nhu cầu của khách hàng và
marketing đảm nhận nhiệm vụ đó. Bộ phận marketing có chức năng kết nối
mọi hoạt động của công ty tài chính nói chung và dịch vụ ủy thác đầu tư nói
24
riêng ra thị trường. Đối với loại hình dịch vụ tài chính như ủy thác đầu tư thì
phải coi thị trường làm chỗ dựa vững chắc nhất cho quyết định kinh doanh.
Chiến lược marketing tốt sẽ giúp các công ty tài chính xác định được thị
trường mục tiêu cho sản phẩm của mình từ đó hoàn thiện dịch vụ ủy thác đầu
tư để có thể đáp ứng nhu cầu thị trường tốt hơn các đối thủ cạnh tranh của
mình. Nâng tầm vị thế và uy tín của công ty, tăng sự nối tiếng của dịch vụ ủy
thác mà công ty cung cấp, tăng thêm mức độ trung thành của các khách hàng
hiện tại và thu hút các khách hàng tiềm năng chính là nhờ vào một công tác
marketing tốt.
1.2.4.2.Nhân tố khách quan.
- Sự phân cấp đầu tư: Hướng phát triển của dịch vụ ủy thác đầu tư của
công ty tài chính độc lập phụ thuộc vào mức độ ưu tiên đầu tư của toàn công
ty, đối với các công ty tài chính mà tập đoàn nắm phần vốn góp chi phối thì
dịch vụ đó phụ thuộc vào chính sách đầu tư chung của toàn khối tập đoàn,sự
phân cấp trong đầu tư. Với các dự án mà tập đoàn phê duyệt, là trong tâm
trong chiến lược đầu tư của tập đoàn( thường là các dự án trong ngành) thì
các công ty tài chính luôn phải dành một phần vốn nhất định ưu tiên cho các
dự án này. Vì vậy đối với các công ty tài chính 100% vốn của tập đoàn thì
dịch vụ ủy thác đầu tư còn bị hạn chế phát triển ra bên ngoài.
- Tình hình kinh tế- xã hội: Tình hình kinh tế xã hội là những nhân tố tác
động không nhỏ đến hoạt động đầu tư, hiệu quả của dịch vụ ủy thác đầu tư.