Đề tài: “Bước đầu nghiên cứu hiệu quả kinh tế cho giảm thiểu ô nhiễm tại Công ty phân lân Văn Điển” - Pdf 19

Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường
ĐHKTQD
Luận văn
Đề tài: “Bước đầu nghiên cứu hiệu
quả kinh tế cho giảm thiểu ô nhiễm
tại Công ty phân lân Văn Điển”
1
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường
ĐHKTQD
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Để đưa đất nước phát triển sánh kịp cùng với các nước trong khu
vực và trên thế giới, tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu của nhiều
nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Cùng với sự phát triển nhanh
chóng của các ngành kinh tế là vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang trở
thành thách thức và mối quan tâm của toàn nhân loại. Vì vậy, phải vừa
phát triển kinh tế nhưng vẫn đảm bảo bảo vệ môi trường. Phát triển bền
vững là một yêu cầu và đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường luôn là ba nội
dung không thể tách rời trong mọi hoạt động nhằm bảo vệ môi trường.
Phát triển bền vững là sự cân đối cả ba phương diện: Kinh tế, xã hội, môi
trường.
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế Việt Nam
từng bước đổi mới, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra
hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội đã có những bước biến đổi tích cực,
tăng trưởng kinh tế của nước ta liên tục tăng vào khoảng 7%. Với tốc độ
tăng trưởng này đã dần thay đổi toàn cảnh kinh tế, xã hội đất nước. Các
khu công nghiệp ngày càng một nhiều và mở rộng. Sự nghiệp công nghiệp
2
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44

3
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường
ĐHKTQD
Vì vậy, sau một thời gian tìm hiểu và phân tích thực tế em quyết định
lựa chọn đề tài: “Bước đầu nghiên cứu hiệu quả kinh tế cho giảm thiểu ô
nhiễm tại Công ty phân lân Văn Điển”.
Đối tượng nghiên cứu
Chuyên đề tập trung vào nghiên cứu thực trạng hoạt động sản xuất,
lợi ích của công nghệ xử lý nước thải đem lại cho công ty, cho môi trường
và cho dân cư quanh vùng.
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tính toán lợi ích thu được từ công nghệ xử lý nước thải
đối với công ty, với môi trường, đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế xã hội,
môi trường của phương án xử lý nước thải.
Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chếvề trình độ và thời gian tiếp cận nên em chỉ tập trung
phân tích chi phí- lợi ích của phương án xử lý nước thải, phân tích chi phí
để xử lý nước thải và phân tích các lợi ích về sức khoẻ của những người
lao động trực tiếp sản xuất và khu dân cư lân cận.
Kết cấu đề tài
Đề tài gồm 3 phần:
Chương I- Cơ sở khoa học của phương pháp phân tích chi phí- lợi ích
(CBA ) đối với giảm thiểu ô nhiễm
Chương II- Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và phát thải gây ô
nhiễm tại Công ty phân lân Văn Điển
Chương III- Phân tích hiệu quả kinh tế cho giảm thiểu ô nhiễm ở Công ty
phân lân Văn Điển.
4
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44

sinh lợi về mặt tài chính là thước đo chủ yếu quyết định đầu tư, sinh lợi
càng cao thi càng hấp dẫn các nhà đầu tư. Tuy nhiên không phải dự án nào
có khả năng sinh lời về mặt tài chính đều tạo ra những tác động tích cực tới
môi trường và xã hội.
Nếu đứng trên góc độ nhà hoạch định chính sách thì phải xem xét một
cách toàn diện theo cả ba mặt kinh tế,xã hội và môi trường. Mọi phân tích
đối với họ phải là nhìn thấy hoặc phải chứng minh được để từ đó họ mới
quyết đinh cho phép đầu tư hay không. Nhưng trong thực thế, đối với các
CBA mang tính xã hội có những vấn đề có thể tính toán được nhưng có
những vấn đề không thể tiên đoán được, vì vậy thuyết phục được họ là rất
khó.
Dứng trên phương diện là các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực xã hội
như các nhà triết học, kinh tế chính trị, xãhội học thường ranh luận về cơ
sở vị lợi của CBA họ cho rằng mọi hoạt động là không thể tiền tệ hoá như
uy tín của doanh nghiệp, lòng chung thành của khách hàng… Trong trường
hợp này, đòi hỏi các nhà làm CBA phải có những phân tích đầy đủ, chính
xác và có tính thuyết phục.
1.2. Nội dung của phương pháp phân tích chi phí- lợi ích:
1.2.1-Các bước tiến hành:
Bao gồm 9 bước
Bước 1: Quyết định lợi ích- chi phí thuộc về ai.
Trong quan điểm thực hiện phân tích chi phí- lợi ích có tính xã hội và
môi trường, vấn đề phân tích chi phí- lợi ích là bước đầu tiên có một vai
trò hết sức quan trọng vì đây là cơ sở để ta có cách nhìn khá toàn diện đối
với phân bổ nguồi lực và mỗi một sự phân định đều có sự thay đổi về chi
phí và lợi ích.
Tuỳ thuộc là đứng trên quan điểm nào sẽ có cách nhìn nhận theo quan
điểm đó, nếu là các nhà hoạch định chính sách có quan điểm vĩ mô hơn
7
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44

*
< Q
k
<
Π
Q
Đối với các mức lãi ròng thuộc mức hoạt động tương ứng với Q
i
8
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường
ĐHKTQD
chúng ta có thể hiểu: Nếu tiếp tục đầu tư lãi ròng sẽ tăng. Ngược lại nếu
mức lãi ròng thuộc Q
k
thì cứ tiếp tục đầu tư lãi ròng sẽ giảm
Bước 3: Liệt kê các ảnh hưởng tiềm năng và lựa chọn chỉ số đo
lường
Trong phân tích các dự án, đặc biệt là các dự án có liên quan đến môi
trường, đánh giá những ảnh hưởng tiềm năng và từ đó xem xét các chỉ số
để tính toán là vấn đề đòi hỏi một kỹ thuật cao. Để xác định các tác động
tới môi trường khi thực hiện một dự án và xác định các tác động đó một
cách đầy đủ là rất khó. Không chỉ việc xác định khó mà việc lựa chọn
những chỉ số để đo lường, định tính là việc vô cùng khó.
Nếu bước này không làm chính xác, không đảm bảo tính toàn diện thì
quá trình thực thi dự án dễ gặp phải rủi ro. Mặt khác, nếu tính không đầy
đủ xét về mặt dài hạn thì những tiềm năng mà chúng ta không dự đoán
được trước sẽ là nguyên nhân trong việc đưa ra những quyết định kinh
doanh sai lầm.
Bước 4: Dự đoán, tính toán những ảnh hưởng về lượng trong suốt

n
,
EC
n
thì tổng chi phí của dự án và chi phí môi trường là :

=
=+++
n
t
tn
CCCC
1
21


=
=++
n
t
tn
ECECECEC
1
21

Tổng quát ta có tổng chi phí cho hoạt động là:

0
11
CECC

, EB
n
, thì tương tự tổng lợi ích mà dự án đưa lại
là:
∑∑
==
+
n
t
t
n
t
t
EBB
11
Trong đó:
EB
t
: là lợi ích tính bằng tiền ở năm thứ t.
B
t
: là lợi ích dự án ở năm thứ t.
t: là thời gian hoạt động của dự án, t = 1,2,…,n năm.
Bước 6: Quy đổi giá trị tiền tệ.
10
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường
ĐHKTQD
Đây là việc bất cứ nhà phân tích nào cũng phải làm vì đối với tất cả
các dự án được triển khai trong thực tế không hoàn toàn theo đúng như

r)1(
1
+
Trong đó:
t: là thời gian hoạt động của dự án, t = 1,2,…,n năm.
r: là hệ số chiết khấu
11
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường
ĐHKTQD
Bước 7: Tổng kết các lợi ích và chi phí.
Bước này được thành lập sau khi đã tính toán quy đổi các giá trị tiền tệ.
Việc tổng kết các lợi ích và chi phí được căn cứ vào các chỉ tiêu IRR,
NPV, B/C nhưng trong thực tế các chỉ tiêu trên không phả ánh đúng giá trị
thị trường. Do đó, đòi hỏi các nhà phân tích phải có quan điểm giả thích
phù hợp đối với từng loại dự án một.
Bước 8: Tiến hành phân tích độ nhạy.
Là khả năng đối phó của dư án khi những diễn biến sau có thể xảy ra:
+ Thay đổi lãi suât ngân hàng.
+ Lạm phát.
Đối với nhà phân tích phải căn cứ vào sự biến thiên giá trị đồng tiền, thị
trường có liên quan đến lạm phát… để lựa chọn các chỉ số r phù hợp.
Bước 9: Tiến cử những phương án có lợi ích xã hội cao nhất.
Phương án được ưa thích nhất trong tiến cử là phương án đem lại lợi ích
nhất, hiệu quả nhất, đạt được các chỉ tiêu mong muốn như y đồ ban đầu
đưa ra. Đối với người làm CBA chỉ có quyền tiến cử các phương án nên
lựa chọn chứ không thể đưa ra một quyết định nào, còn quyết định là do
cấp cao hơn hoặc là đối tượng yêu cầu tiến hành CBA. Vì trong thực tế
giữa quan điểm nhìn nhận của người phân tích chuyên môn có sự khác
nhau với nhà quản lý và lãnh đạo vì nhà chuyên môn chỉ nhìn nhận dưới

Khi xem xét đến hiệu quả cần đặc biệt chú ý tới hiệu quả pareto vì để đi
đến quyết định CBA nhất là trong vấn đề giải quyết chính sách các vấn đề
công cộng nhưng không phải trong thực tiễn đều đạt được mong muốn như
vậy. Khi các giá trị đó phản ánh ngoài tính hiệu quả thì người làm CBA
phải tiếp cận theo các cách khác để cho phù hợp hơn.
1.2.3- Những biện pháp khắc phục hạn chế của CBA.
1.2.3.1- Biện pháp khắc phục những hạn chế kỹ thuật của CBA:
13
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường
ĐHKTQD
* Phương pháp CBA định tính:
Theo quan điểm của Benjamin Franklin cho rằng để thực hiện CBA
định tính, trước hết người làm CBA phải cố gắng tiền tệ hoá được những
tác động có thể lượng hoá càng tốt. Còn đối với những trường hợp không
lượng hoá được bằng tiền thì ước lượng định tính theo nguyên tắc: những
tác động đó là những tác động được xã hội thừa nhận và có cơ sở khoa học
để đưa ra những tác động đó điều này phụ thuộc nhiều vào trình độ của
người phân tích.
Định lượng các chi phí đầu vào: trong trường hợp này chúng ta phải
dùng rất nhiều kỹ thuật khác nhau, quan trọng là đòi hỏi những người được
hưởng lợi ích từ đầu tư này đẫn đến phải điều tra lấy ý kiến của những
người được hưởng những lợi ích đó. Khi xác định được về mặt định tính
và định lượng những lợi ích mà dự án cải tạo mang lại một cách chính xác,
hoàn toàn không được áp đặt tính chủ quan.
*Phương pháp phân tích chi phí hiệu quả:
Những phân tích tác động không tiền tệ hoá được, trong trường hợp đó
ngoài cách tiếp cận trên thì còn có một phương thức tiếp cận nữa đảm bảo
thích hợp hơn đó là phân tích chi phí hiệu quả. Đây là phương pháp khắc
phục trường hợp không sử dụng được CBA nghĩa là không tính được toàn

kỹ lưỡng và nhận xét chu quan của mình liên quan đến sự đánh đổi trong
việc đạ được những mục tiêu đối với chính sách mà chúng ta lựa chọn.
*Phương pháp phân tích chi phí chú trọng đến phân phối.
Trong hoạt động kinh tế thì phân phối nguồn lực của cải sản phẩm của
xã hội là một trong những vấn đề cơ bản trong quy trình vận hành của nền
kinh tế mà nó sẽ tác động tới kích thích sự tăng trưởng kinh tế, kích thích
sản xuất ổn định về mặt xã hội đặc biệt là tính công bằng. Vì vậy, trong khi
thực hiện CBA đặc biệt vấn đề liên quan đến xã hội phải chú trọng tới
phân phối.
Do đó CBA chú trọng tới phân phối tức là cung cấp một quy tắc quyết
định lựa chọn đối với việc tối đa hoá các lợi ích thực tế nên phương pháp
này người ta sẽ xem xét tới tổng lợi ích thực giống như trong phương pháp
CBA tiêu chuẩn trên cơ sở tính theo từng nhóm liên quan để có sự phân
15
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường
ĐHKTQD
biệt với nhau về thu nhập, về giàu nghèo, về đặc thù hiệu quả đóng góp
công việc.
Thông qua phương pháp này để điều chỉnh tính công bằng thu nhập và
đầu tư xã hội đối với nhóm dân cư để nhằm tới mục tiêu giảm bớt chênh
lệch gữa các nhóm dân cư với nhau. Trong thực tế, để làm điều này,
thường phải dùng hệ số điều chỉnh để đánh giá phân biệt giữa các nhóm.
II- PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH- PHÂN TÍCH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ
PHÂN TÍCH KỸ THUẬT CỦA DỰ ÁN.
2.1- Phân tích tài chính- phân tích kinh tế xã hội của dự án:
* Phân tích tài chính của dự án:
+ Phân tích tài chính của một dự án phản ánh lợi ích của chủ doanh
nghiệp.
+ Phân tích tài chính dựa trên phương pháp phân tích quá trình luân

tạo thành một vòng lặp đi lặp lại.
* Khái niệm: Phân tích kỹ thuật là phân tích lựa chọn phương pháp sản
xuất, công nghệ, thiết bị dự án, giải pháp dự án, đánh giá ĐTM. Tất cả
những phương án đưa ra phải phù hợp những rằng buộc về vốn, trình độ
quản lý kỹ thuật, quy mô thị trường, phù hợp yêu cầu của xã hội về việc
làm và giới hạn cho phép về mức độ ô nhiễm môi trường do dự án tạo ra.
* ý nghĩa: Phân tích kỹ thuật là nội dung hết sức quan trọng vì nó quyết
định sản phẩm của dự án sẽ được sản xuất bằng cách nào, chi phí bao
nhiêu, chất lượng như thế nào (chi phí và chất lượng là hai nhân tố chính
để cạnh tranh thắng lợi trên thị trường). Nói cách khác nghiên cứu kỹ thuật
cho biết dự án nên được đầu tư như thế nào là có lợi nhất, hiệu quả nhất.
* Yêu cầu: Phải đảm bảo số liệu chính xác đáng tin cậy phục vụ cho việc
đánh giá dự án và dự tính các chi phí của dự án.
Một dự án được chấp nhận khi chi phí thấp hơn so với các dự án khác
và có chất lượng tốt.
17
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường
ĐHKTQD
2.3- Sự khác biệt giữa phân tích tài chính- kinh tế xã hội với phân tích
kỹ thuật:
* Giống nhau: Phân tích tài chính và phân tích kỹ thuật có quan hệ mật
thiết. Phân tích kỹ thuật là tiền đề cho phân tích tài chính, sau khi phân tích
kinh tế tài chính sẽ có những thông số kinh tế tác động trở lại phân tích kỹ
thuật, do đó phân tích tài chín và phân tích kỹ thuật tạo thành một vòng lặp
đi lặp lại.
Cả hai loại phân tích đều xem xét dự án dựa trên chi phí và lợi ích.
*Khác nhau: Phương pháp kỹ thuật là lựa chọn những thiết bị ,
công nghệ … để đánh giá dự án, xem xét dự án và đưa ra những
rằng buộc mà dự án phải tuân theo như về vốn kỹ thuật, trình độ quản lý

ECC
r
EBB
CNPV
)1()1(
)(
)1(
)(
11
0
+
+
+
+

+
+−=
∑∑
==
+
Nếu trị số B
t
, C
t
, EB
t
, EC
t
hàng năm là không đổi thì công thức trên NPV
sẽ được tính theo công thức sau:

+
−+
++−=
Trong đó: r : tỉ suất chiết khấu
B
t
: Lợi ích năm t
EB
t
: Lợi ích khác mà dự án đưa lại cho xã hội, môi trường
C
t
: Chi phí năm t
EC
t
: Chi phí mà dự án mang lại năm t
C
0
: Vốn đầu tư tại thời điểm dự án mang lại năm t
SV(Salvage value): Giá trị thanh lý tại sản ở cuối đời dự án bao
gồm cả vốn lưu động đã bỏ ra ban đầu.
n: Số năm hoạt động của cả đời dự án
+ Nguyên tắc quyết đinh:
Nếu dự án cho
0≥NPV
thì dự án được coi là khả thi
Nếu dự án cho NPV< 0 thì dự án không khả thi bị loại bỏ
Nếu trong tường hợp một dự án có nhiều phương án mà các phương
án này đều ci NPV> 0 phương án nào cho NPV lớn nhất thì dự án đó sẽ
được lựa chọn.

+ Khái niệm: Chỉ tiêu BCR là tỷ số lợi ích- chi phí được xác định bằng
tỷ số giữa lợi íc thu được và chi phí bỏ ra. Lợi ích- chi phí của dự án có thể
tính vệ thời điểm hiện tại hoặc tương lai. Việc quy về thời điểm tương lai
để tính chỉ tiêu này ít được sử dụng.
+ Công thức:


=
=
+
+
+
+
+
=
n
t
r
tt
n
t
t
tt
r
ECC
C
r
EBB
C
B

Ưu điểm
20
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường
ĐHKTQD
. Có tính đến sự biến động của các khoản thu, chi theo thời gian cho cả đời
dự án
. Ngoài việc dùng để đánh giá dự án, B/C có thể được dùng để xếp hạng
các dự án độc lập theo nguyên tắc dành vị trí cao hơn cho những dự án có
tỷ số B/C cao hơn.
Nhược điểm
Sử dụng tỷ số B/C trong việc so sánh lựa chon phương án có thể dẫn đến
sai lầm khi lựa chọn các phương án loại trừ nhau có quy mô khác nhau.
Phương án có tỷ lệ B/C cao hơn nhưng do quy mô nhỏ nên NPV của nó lại
nhỏ hơn và phương án có tỷ số B/C thấp hơn song do quy mô lớn hơn nên
có NPVcao hơn. Bởi vậy, nếu lựa chọn phương án có tỷ số B/C cao đã bỏ
qua cơ hội thu nguồn lợi lớn.
3.3- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận nội bộ (IRR)
+ Khái niệm: Đây là chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất trong việc đánh giá
sự đáng giá về mặt kinh tế, tài chính của dự án đầu tư độc lập.
Tỷ suất lợi nhuận nội bộ là mức thu lợi trung bình của đồng vốn được
tính theo các kết số còn lại vủa dự án đầu tư ở đầu các năm của dòng tiền
tệ do nội tại của phương án mà suy ra và với gủa thiết la các khoản thu
được trong quá trình khai thác dự án đều được đem đầu tư ngay lập tức cho
dự án với suất thu lợi bằng chính IRR của dự án cần tìm.
+ Công thức:

21
1
)(

Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường
ĐHKTQD
+ Nguyên tắc xác định: IRR

i
giới hạn
i
giới hạn
chính là lãi suất thực tế của các khoản vay dài hạn trên thị trường
vốn hay lãi suất phải trả của những người đi vay.
+ Ưu điểm: IRR tính được khả năng sinh lãi riêng của dự án với dòng
doanh thu và chi phí đã biết.
IV-KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CBA TRONG PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ
YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
Hiện nay, phương pháp CBA ngày càng được áp dụng rộng rãi không
chỉ ở Việt Nam mà còn nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới để
phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế các yếu tố môi trường, từ đó nhiều
công nghệ thân thiện với môi trường được đưa vào áp dụng trong thực tế.
Ơ việt Nam, trong đánh giá hiệu quả kinh tế của việc thực hiện sản
xuất sạch hơn ở các cơ sở công nghiệp bằng phương pháp CBA dã cho
những kết quả sau:

Lợi ích đạt được từ việc áp dụng sản xuất sạch hơn ở các cơ sở công
nghiệp của Việt Nam

Đặc trưng sản xuất
Loại hình công nghiệp
Công ty Dệt len mùa đông Công ty Giấy Bình Minh
Sản lượng hàng năm

trường thuộc khối phi chính thức ở Thành phố Hồ Chí Minh đã lên tới 135
tỷ đồng, con số này thấp hơn 15 tỷ đồng so với tổng chi phí mà Thành phố
phải chi cho hoạt động quản lý chất thải trong cùng năm đó. Ơ HảI Phòng,
giá trị các loại phế liệu nhựa, giấy, kim loại và thủy tinh lưu thông trên thị
trường ước tính cỡ 33 tỷ đồng trong năm 2008. Phần lớn các loại vật liệu
tái chế được là nhựa dẻo (trị giá cỡ 11 tỷ đồng), tiếp sau đó là giấy (10 tỷ
đồng) và kim loại (8,5 tỷ đồng). Kết quả khảo sát các hoạt động của khu
vực của khu vực phi chính thức ở Hà Nội năm 1996 cho thấy là cỡ 18-
22% tổng các loại chất thảI đã được chuyển sang các cơ sở tái chế tư nhân
từ các bãI chôn lấp. Với con số xấp xỉ 1,4 triệu tấn chất thải phát sinh ở
Hà Nội mỗi năm thì hoạt động tái chế đã tiết kiệm chi phí đáng lẽ phải
dành cho hoạt động tiêu hủy chất thải với mức hiện tại cỡ từ 38 đến 47 tỷ
đồng.
Nguồn: Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004- Chất thải rắn
Các nhà Kinh tế Môi trường cũng ước tính rằng nếu mỗi loại hình
công nghiệp tái chế cỡ 50% lượng chất thải của ngành mình, sẽ có khả
nămg tiết kiệm được gần 3,5 triệu đô la Mỹ chi phí cho tiêu hủy chất thải.
Trên thế giới, phương pháp CBA được đưa ra áp dụng rộng để phân
tích chi phí- lợi ích kinh tế chất thải nhằm bảo vệ môi trường, ……
Ngoài ra, trong đánh giá chi phí- lợi ích khí thải, theo nghiên cứu của
các nhà Kinh tế Môi trường cho biết khi khí hậu biến đổi, những ảnh
hưởng chung của biến đổi khí hậu tới các thành phố, đặc biệt là thành phố
bờ biển được xây dựng dựa trên một mực nước biển nhất định là rất
nghiêm trọng.
23
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường
ĐHKTQD
Theo báo cáo của các nhà Môi trường nghiên cứu về khí thải đưa ra
trong một cuộc triển lãm có nhan đề là: ZeroCarbonCity Reading to

cấp thường xuyên và kịp thời cho nhà máy hoạt động tối đa công suất.
Sản lượng phân lân từ năm 1961- 1964
Năm Sản lượng(T) Hiệu suất(%)
1961 595 2,975
1963 6600 33,0
1964 18396 91,98
Nguồn: Phòng kinh tế
Sản phẩm chính của Công ty trong giai đoạn này chủ yếu là phân lân
nung chảy, nguồn nguyên vật liệu ban đầu đều do Trung Quốc cấp, khi nhà
máy xây dựng xong và chính thức đưa vào hoạt động thì đầu vào ,đầu ra
do nhà nước cung cấp và tiêu thụ.
Trong giai đoạn 1965- 1973 do chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhà máy
phải sơ tán nhiều lần và bị bắn phá làm hư hỏng một số phân xưởng sản
xuất của nhà máy nên phải mất thời gian để sửa chữa, khôi phục nên sản
lượng sản đạt rất thấp. Bên cạnh đó, trong cơ chế bao cấp cộng với hậu quả
25
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status