………… o0o………… Luận văn Đề tài: Thực trạng và vai trò của hai
nguồn vốn trong nước và ngoài nước tại
Việt Nam
Lời nói đầu
Lật giở những trang sử vàng son của toàn dân tộc Việt Nam, nhân
dân Việt Nam, đất nớc Việt Nam đã đi qua thế kỉ XX với những chiến
công hiển hách và những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại - Một thế
kỉ của đấu tranh gian nan, oanh liệt dành lại độc lập tự do, thống nhất tổ
quốc và bớc vào xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Chúng ta tự hào về dân tộc ta
- Một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo, tự hào về Đảng ta - Đảng
cộng sản Việt Nam quang vinh. Bớc sang thế kỉ XXI, Cách mạng nớc ta
vừa bớc sang thời cơ vận hội lớn, vừa phải đối mặt với những nguy cơ
thách thức không thể xem thờng. Cùng với những thắng lợi đã giành đợc
em xin trình bày những nội dung chính sau:
Chơng I: Những vấn đề lí luận chung;
Chơng II: Thực trạng vai trò và mối quan hệ giữa hai nguồn vốn
ở Việt Nam;
Chơng III: Một số kiến nghị và giải pháp chủ yếu nhằm tăng
cờng mối quan hệ giữa hai nguồn vốn.
Thông qua đề tài này, ngoài những kiến thức lí luận, chúng em còn
có những định hớng rõ ràng cũng nh sự tìm hiểu chi tiết khi tiếp xúc với
thực tiễn. Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu có hạn, chúng em không thể
tránh khỏi những thiếu xót trong cách nhìn tổng thể. Kính mong thầy giáo
và các bạn nhận xét đóng góp ý kiến để chúng em hoàn thiện đề tài này.
Chúng em xin chân thành cảm ơn.
Chơng I
Những vấn đề lý luận chung
I. Khái niệm, phân loại và bản chất của nguồn vốn đầu
t (NVĐT)
1. Khái niệm:
dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp của
Nhà nớc. Với cơ chế tín dụng, các đợn vị sử dụng nguồn vốn này
phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đàu t là ngời vay
vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu t, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín
dụng đầu t phát triển của Nhà nớc là một hình thức quá độ chuyển
từ hình thức cấp phát ngân sách sang phơng thức tín dụng đối với
các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
Nguồn vốn đầu t từ doanh nghiệp Nhà nớc: Đợc xác định
là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nớc
vẫn nắm giữ một khối lợng vốn khá lớn. Mặc dù vẫn còn một số
hạn chế nhng đánh giá một cách công bằng thì khu vực thì khu vực
kinh tế Nhà nớc với sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nớc
vẫn đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần.Với
chủ trơng tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nớc, hiệu quả hoạt
động của khu vực kinh tế này ngày càng đợc khẳng định, tích luỹ
của các doanh nghiệp Nhà nớc ngày càng gia tăng và đóng góp
đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu t của toàn xã hội.
Nguồn vốn từ khu vực t nhân.
Nguồn vốn từ khu vực t nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân
c, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã.
Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài Nhà nớc vẫn sở hữu một
lợng vốn tiềm năng rất lớn mà cuă đợc huy động triệt để.
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nớc, một bộ phận
không nhỏ trong dân c có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập
gia tăng hay do tích luỹ tryuền thống. Nhìn tổng quan nguồn vốn
tiềm năng trong dân c không phải là nhỏ, tồn tại dới dạng vàng,
ngoại tệ, tiền mặt nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn
huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Vốn của dân c phụ thuộc
vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Quy mô của các nguồn
tiết kiệm này phụ thuộc vào:
offical development assistance) và các hình thức viện trợ khác. Trong
đó, ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF;
- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thơng mại;
- Đầu t trực tiếp nớc ngoài;
- Nguồn huy động qua thị trờng vốn quốc tế.
Nguồn vốn ODA.
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các
chính phủ nớc ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nớc đang
phát triển. So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính u đãi
cao hơn bất cứ nguồn vốn ODF nào khác. Ngoài các điều kiện u đãi
về lãi suất, thời hạn cho vay tơng đối lớn, bao giờ trong ODA cũng
có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%.
Mặc dù có tính u đãi cao, song sự u đãi cho loại vốn này
thờng di kèm các điều kiện và ràng buộc tơng đối khắt khe (tính
hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thị trờng). Vì vậy,
để nhận đợc loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải
xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể. Nếu không việc tiếp
nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh
tế. Điều này có hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự
án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có thể nhận vốn,
vừa bảo tồn đợc những mục tiêu có tính nguyên tắc.
Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thơng mại.
Điều kiện u đẫi dành cho loại vốn này không dễ dàng nh đối
với nguồn vốn ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có u điểm rõ ràng là
không có gắn với các ràng buộc về chính trị, xã hội. Mặc dù vậy, thủ
tục vay đối với nguồn vốn này thờng là tơng đối khắt khe, thời
gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không
nhỏ đối với các nớc nghèo.
Do đợc đánh giá là mức lãi suất tơng đối cao cũng nh sự
thận trọng trong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nớc đi vay, của
3. Bản chất của nguồn vốn đầu t
Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu t chính là phần tiết kiệm
hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động đợc để đa vào quá trình tái
sản xuất xã hội. Điều này đợc cả kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học
Mác - Lênin và kinh tế học hiện đại chứng minh.
Trong tác phẩm Của cải của dân tộc (1776), Adam Smith,
một đại diện điển hình của trờng phái kinh tế học cổ điển đã cho
rằng: Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động
tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tiết kiệm. Nhng dù có
tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhng không có tiết kiệm thì vốn
không bao giờ tăng lên.
Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các
mối quan hệ giữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề
trực tiếp liên quan đến tích luỹ, C. Mác đã chứng minh rằng: Trong
một nền kinh tế hai khu vực, khu vực I sản xuất t liệu sản xuất và
khu vực II sản xuất t liệu tiêu dùng. Cơ cấu tổng giá trị của từng khu
vực đều bao gồm (c + v + m) trong đó c là phần tiêu hao vật chất, (v
+ m) là phần giá trị mới tạo ra. Khi đó, điều kiện để đảm bảo tái sản
xuất mở rộng không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo (v +
m) của khu vực I lớn hơn tiêu hao vật chất (c) của khu vực II. Tức là:
(v + m)I > cII
Hay nói cách khác:
(c + v + m)I > cII + cI
Điều này có nghĩa rằng, t liệu sản xuất đợc tạo ra ở khu vực
I không chỉ bồi hoàn tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế (của cả
hai khu vực) mà còn phải d thừa để đầu t làm tăng quy mô t liệu
sản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo.
Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo:
(c+v+m)II < (v+m)I + (v+m)2
bên kia là ngời tiêu dùng. Thu nhập chính là mức chênh lệch giữa
doanh thu từ bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ và tổng chi phí.
Nhng toàn bộ sản phẩm sản xuất ra phải đợc bán cho ngời tiêu
dùng hoặc cho các nhà sản xuất khác. Mặt khác đầu t hiện hành
chính bằng phần tăng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ. Vì vậy,
xét về tổng thể phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng mà ngời ta
gọi là tiết kiệm không thể khác vơí phần gia tăng năng lực sản xuất
mà ngời ta gọi là đầu t.
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt đợc trong nền kinh
tế đóng. Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm
của khu vực t nhân và tiết kiệm của chính phủ. Điểm cần lu ý là
tiết kiệm và đầu t xem xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế không
nhất thiết đợc tiến hành bởi cùng một cá nhân hay doanh nghiệp
nào. Có thể có cá nhân, doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó có
tích luỹ nhng không trực tiếp tham gia đầu t. Trong khi đó, có một
số cá nhân, doanh nghiệp lại thực hiện đầu t khi cha hoặc tích luỹ
cha đầy đủ. Khi đó thị trờng vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề
bằng việc điều tiết nguồn vốn từ nguồn d thừa hoặc tạm thời d thừa
sang cho ngời có nhu cầu sử dụng. Ví dụ, nhà đầu t có thể phát
hành cổ phiếu, trái phiếu (trên cơ sở một số điều kiện nhất định, theo
quy trình nhất định) để huy động vốn thực hiện một dự án nào đó từ
các doanh nghiệp và các hộ gia đình - ngời có vốn d thừa.
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu t bằng tiết kiệm của nền
kinh tế không phải bao giờ cũng đợc thiết lập. Phần tích luỹ của nền
kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu t tại nớc sở tại, khi đó vốn có
thể đợc chuyển sang cho nớc khác để thực hiện đầu t. Ngợc lại,
vốn tích luỹ của nền kinh tế có thể nhỏ hơn nhu cầu đầu t, khi đó
nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nớc ngoài. Trong trờng hợp
này, mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu t đợc thể hiện trên tài
khoản vãng lai.
khẳng định chắc chắn khi nghiên cứu vai trò của vốn đầu t với tăng trởng
và phát triển của mọi đất nớc.
3.1 Vai trò của vốn trong nớc
Theo kinh nghiệm phát triển thì đây là nguồn vốn cơ bản, có vai trò
quyết định chi phối mọi hoạt động đầu t phát triển trong nớc . Trong lịch
sử phát triển các nớc và trênphơng diện lý luận chung, bất kỳ nớc nào
cũng phải sử dụng lực lợng nội bộ là chính . Sự chi viện bổ sung từ bên
ngoài chỉ là tạm thời, chỉ bằng cách sử dụng nguồn vốn đầu t trong nớc
có hiệu quả mới nâng cao đợc vai trò của nó và thực hiện đợc các mục
tiêu quan trọng đề ra của quốc gia.
3.1.1. Vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc (NSNN)
Đầu t từ NSNN là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lợng
đầu t
Nó có vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra môi trờng đầu t thuận
lợi nhằm đẩy mạnh đầu t của mội thành phần kinh tế theo định hớng
chung của kế hoạch, chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng
lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế, đảm bảo
theo đúng định hớng của chiến lợc và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
.
Với vai trò là công cụ thúc đẩy tăng trởng, ổn định điều điều tiết vĩ
mô, vốn t NSNN đã đợc nhận thức và vận dụng khác nhau tuỳ thuộc quan
niệm của mỗi quốc gia. Trong thực tế điều hành chính sách tài khoá, Nhà
nớc có thể quyết định tăng, giảm thuế, quy mô thu chi ngân sách nhắm tác
động vào nền kinh tế. Tất cả những điều đó thể hiện vai trò quan trọng của
NSNN với t cách là công cụ tài chính vĩ mô sắc bén nhất hữu hiệu nhất, là
công cụ bù đắp những khiếm khuyết của thị trờng, đảm bảo công bằng xã
hội, bảo vệ môi trờng sinh thái
chúng ta phải tích cực thu hút vốn đầu t từ nớc ngoài ( bao gồm vốn hỗ
trợ phát triển chính thức - ODA, đầu t trực tiếp nớc ngoài - FDI)
Hai là: Đảm bảo trình độ công nghệ cao phù hợp với xu thế phát
triển chung trên toàn thế giới. Điều này giúp đẩy nhanh sự phát triển của
các dịch vụ cung cấp có chất lợng và cho phép sản xuất các sản phẩm đáp
ứng tiêu chuẩn quốc tế - là cơ sở tạo nên sự bứt phá trong khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp trong nớc trên thị trơng quốc tế.
Ba là: Con đờng ngắn nhất đa nền kinh tế nớc ta hội nhập vào
nền kinh tế thế giới và khu vực, cũng nh bảo đảm các nghĩa vụ vay và trả
nợ nhờ vào việc tăng cờng đợc năng lực xuất khẩu.
Bốn là: Có vai trò tích cực trong việc nâng caô chất lợng nguồn
nhân lực và chuyển giao công nghệ .
Đi sâu tìm hiểu ta có thể nhận rõ vai trò cụ thể của từng loại vốn
nớc ngoài.
3.2.1 Vốn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA)
Đây là nguồn vốn đầu t nớc ngoài tuy không quan trọng nh
nguồn FDI song cũng đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề .Chủ yếu là cùng
với FDI bổ sung cho vốn đầu t phát triển.
Ngoài ra ODA còn có vai trò quan trọng trong việc giúp các nớc
nghèo tiếp thu những thành tựu khoa học,công nghệ hiện đại và phát triển
nguồn nhân lực.
Và cuối cùng ODA giúp các nớc đang phát triển điều chỉnh cơ cấu
kinh tế và tạo điều kiện để mở rộng đầu t phát triển trong nớc ở các nớc
đang và chậm phát triển.
3.2.2 Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI)
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất trong số các nguồn huy động từ
nớc ngoài. Không chỉ có vai trò tích cực trong việc phát triển kinh tế xã
hội, mà biểu hiện cụ thể thông qua ba tiêu chí:
- Kích thích công ty khác tham gia đầu t
giữa đầu t với tiết kiệm, cần nguồn bù đắp. Hơn nữa trong giai đoạn này
do nền công nghiệp của đất nớc cha phát triển nên hàng xuất khẩu nếu có
chỉ đa phần là hàng sơ chế nông sản, nguyên liệu thô có giá trị gia tăng
thấp. Ngợc lại về phía nhập khẩu do nhu cầu phát triển đòi hỏi phải nhập
khẩu hàng cao cấp máy móc thiết bị kĩ thuật công nghệ có giá trị gia tăng
cao. Điều đó dẫn đến cán cân thơng mại, cán cân thanh toán luôn nằm
trong tình trạng thâm hụt. Để giải quyết khó khăn này, nhiều nớc đã tìm
đến nguồn vốn đầu t nớc ngoài nhằm tài trợ cho những thiếu hụt đó.
Mặt khác với các nớc đang phát triển thờng rơi vào vòng luẩn quẩn
Thu nhập bình quân thấp Tiết kiệm, Đầu t thấp
Năng suất thấp Tăng trởng chậm
Để tạo ra sự cất cánh cho nền kinh tế phải tìm cách tạo ra mức sản
lợng, mức thu nhập ngày càng gia tăng muốn vậy cần phải có vốn đầu t
và kĩ thuật tiên tiến. Và trong lúc nền kinh tế còn đang trong trạng thái tự
đảm bảo một cách khó khăn sự sinh tồn của mình, không thể trông đợi hoàn
toàn vào con đờng thắt lng buộc bụng tích luỹ nội bộ. Mà không
phát triển nhanh thì nớc đó luôn rơi vào tình trạng rợt đuổi do tụt hậu
phát triển. Vốn đầu t nớc ngoài lúc này là cơ sở để tạo công ăn việc làm
cho số lao động thờng là d thừa, thực hiện phân công lao động mới nhằm
mục tiêu nâng cao năng suất lao động. Đây là tác động kép của vốn đầu t
nớc ngoài vừa tạo công ăn việc làm đồng thời làm gia tăng thu nhập cho
ngời lao động và đất nớc. Vốn đầu t nớc ngoài khuyến khích nhập các
công nghệ tiên tiến là cơ sở làm gia tăng năng suất lao động xã hội, gia tăng
sản lợng làm nền kinh tế tăng trởng. Trên cơ sở đó làm gia tăng tích luỹ
nội bộ nền kinh tế: Ngân sách Nhà nớc tăng do thu thêm thuế lệ phí từ khu
vực có vốn đầu t nớc ngoài, tích luỹ dân c tăng do thu nhập tăng. Nh
vậy nếu sử dụng tốt thì vốn đầu t nớc ngoài về ngắn hạn là đáp ứng vốn
đầu t phát triển, về dài hạn góp phần gia tăng nguồn vốn tích luỹ trong
Chơng II
Thực trạng vốn đầu t trong nớc, nớc
ngoài và mối quan hệ giữa chúng ở Việt Nam
Trong hơn một chục năm trở lại đây với việc chuyển sang hệ thống
thị trờng mở của nền kinh tế thị trờng, nền kinh tế nớc ta đã thu đợc
nhiều thành tựu đáng khích lệ.Từ chỗ khủng hoảng thiếu trầm trọng, ngày
nay đời sống nhân dân đã đợc nâng lên một bớc ,đợc đánh giá là một
quốc gia an toàn cho đầu t với tốc độ tang trởng cao trong một thời kì dài,
nền chính trị ổn định. Đạt đợc kết quả đó là nhờ chủ trơng đúng đắn của
Đảng và nhà nớc ta trong việc khơi thông nguồn lực trong nớc tận dụng
nguồn lực nớc ngoài.Vốn đầu t trong nớc và nớc ngoài đã góp phần
quan trọng tạo nên tốc độ tăng trởng và sự phát triển kinh tế nớc ta.Tìm
hiêủ về thực trạng hai nguồn vốn trong thời gian qua sẽ cho chúng ta cách
nhìn đúng đắn hơn về vai trò của hai nguồn vốn cũng nh mối quan hệ giữa
chúng.Từ đó ta có thể đa ra các biện pháp về huy động và sử dụng hai
nguồn lực này cho sự phát triển kinh tế nớc ta trong thời gian tới.
Bảng 1: Cơ cấu các nguồn vốn đầu t phát triển
Khu vực trong nớc Năm Tỉ lệ
VĐT/GDP %
Tổng số
%
Tổng số
KTNN
Ngoài QD
xu hớng ngày càng tăng.
1.Vốn đầu t từ khu vực nhà nớc
Với chủ trơng phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội
chủ nghĩa thì đầu t từ khu vực nhà nớc luôn chiếm tỉ lệ cao trong tổng
vốn đầu t phát triển toàn xã hội, tỉ lệ này đạt khoảng 50% và hiện nay có
xu hớng ngày càng tăng. Giai đoạn 1996-2000 tỉ trọng vốn đầu t phát
triển khu vực kinh tế nhà nớc chiếm 54.6% so với tổg vốn đầu t phát triển
toàn xã hội. Đến giai đoạn 2001-2003 là 56.87%, riêng vốn đầu t thực hiện
của khu vực nhà nớc năm 2003 ớc tính chiếm 56.52% tổng vốn đầu t
phát triển.Vốn đầu t từ khu vực nhà nớc bao gồm các thành phần: Ngân
sách nhà nớc,vốn tín dụng đầu t phát triển của nhà nớc, nguồn vốn đầu
t phát triển của doanh nghiệp nhà nớc.
1.1 Ngân sách nhà nớc (NSNN)
NSNN có vai trò là công cụ thúc đẩy tăng trởng, ổn định và điều
khiển kinh tế vĩ mô của nhà nớc. Đầu t từ NSNN là một bộ phận quan
trọng trong toàn bộ khối lợng đầu t, nó tạo ra môi trờng đầu t thuận lợi
nhằm đẩy mạnh đầu t của mọi thành phần kinh tế theo định hớng chung
của kế hoạch, chính sách và pháp luật. Đồng thời NSNN cũng góp phần trực
tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng nhất của nền
kinh tế, đảm bảo theo đúng định hớng và quy hoạch phát triển kinh tế xã
hội. Hiện nay chi cho đầu t phát triển luôn chiếm khoảng 30%. Năm 1994
chi của NSNN cho đầu t là khoảng 1 tỷ USD trong khi GDP là 15.5 tỷ
USD nh vậy tỷ lệ đầu t từ ngân sách đạt khoảng 6% GDP.Trong giai đoạn
1996-2000 đẻ phù hợp với sự phát triển kinh tế NSNN bớc đầu đợc cơ
cấu lại theo hớng tích cực và có hiệu quả hơn.Việc cải cách thuế giai đoạn
2, cùng với triển khai luật ngân sách đã góp phần thúc đẩy sản xuất kinh
doanh phát triển, tăng nguồn thu cho ngân sách. Tổng thu ngân sách tăng
bộ,ngành 53/61 tỉnh, thành phố thì số nợ này lên tới 11000 tỷ đồng. Giao
thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn là những bộ có khối
lơng nợ đọng lớn.
Nhng đáng ngại nhất là vấn đề chất lợng các công trình xây dựng
cha thực sự đợc đảm bảo. Không ít công trình mới bàn giao, đa vào sử
dụng cha đợc bao lâu đã nhanh chong xuống cấp và h hỏng Việc sai
phạm dẫn đến những tổn thất về chất lợng không chỉ từ phía các đơn vị thi
công mà ngay từ các đơn vị t vấn thiết kế, các cơ quan thẩm tra thẩm định
kinh tế
Việc thất thoát và lãng phí trong đầu t xây dựng cơ bản là một vấn
đề nhức nhối cần đợc tập trung giải quyết vì chất lợng các công trình tác
động đến thời gian sử dụng tạo ra trình độ về cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế.
Do đó, đòi hỏi phải có giải pháp thiết thực để sử dung có hiệu quả vốn đầu
t từ nguồn ngân sách này.
1.2. Vốn đầu t của các doanh nghiệp nhà nớc(DNNN)
Theo số liệu thống kê thì năm 2000 có khoảng 5700 DNNN, nhng
hầu hết nhỏ bé về quy mô: Vốn bình quân dới 5 tỷ chiếm 66% trong đó
DNNNcủa các tỉnh, thành phố có vốn 1 tỷ chiếm 30%, nhiều tỉnh là 60%.
Đến năm 2001 số DNNN giảm còn 5355 và năm 2001 là 5364 doanh
nghiệp. Đấy là do chủ trơng cơ cấu lại hệ thống DNNN thực hiện chuyển
đổi hình thức DNNN.Trớc đây, vốn cho DNNN chủ yếu đợc cấp từ ngân
sách thì nay thực hiện cổ phần hoá để đa dạng hoá các nguồn vốn.Trớc
đây, đa số các doanh nghiệp đều trong tình trạng làm ăn thua lỗ, khoảng
hơn 20% gây nên gánh nặng ho NSNN.Trong ba năm 1997-1999 NSNN
cấp gần 8000 tỷ đồng trực tiếp cho các DNNN, 1464.4 tỷ để bù lỗ nhằm
làm giảm gánh nặng tài chính. Ngoài ra, từ năm 1996 chính phủ còn miễn,
giảm thuế là 2288 tỷ đồng, xoá nợ 1088.5 tỷ, khoanh nợ 3392 tỷ, dãn nợ
540 tỷ và tiếp tục cung cấp 8685 tỷ tín dụng u đãi cho DNNN.Theo chủ
trơng mới, thực hiện cổ phần hoá các DNNN còn khả năng sản xuất, giải
Với những bất cập trên khu vực này cần phải có những cải cách mạnh mẽ
và tích cực hơn.
1. Nguồn vốn từ khu vực t nhân
Khu vực t nhân Việt nam, cả bộ phận doanh nghiệp có đăng ký và
bộ phận hộ gia đình phi chính thức chiếm 40% GDP và 90% số việc làm
năm 1998 khu vực này có vốn đầu t phát triển khá và có xu hớng ngày
càng gia tăng. Chủ trơng của Đảng và Nhà nớc ta trong những năm qua
và trong thời gian tới là tiếp tục huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh
tế đặc biệt là nguồn vốn trong dân. Nhà nớc đã ban hành luật doanh
nghiệp và đến nay sau 4 năm thực hiện ta đã huy động đợc trên 10 tỉ USD.
Theo đánh giá sơ bộ khu vực kinh tế ngoài Nhà nớc vẫn sở hữu một lợng
vốn tiềm năng rất lớn mà cha đợc huy động triệt để nguồn vốn từ khu vực
t nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân c và phần tích luỹ của cách doanh
nghiệp dân doanh.
2.1 Tiết kiệm của khu vực dân c
Cùng với sự phát triển của kinh tế đất nớc một bộ phận không nhỏ
trong dan c có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do
tích luỹ truyền thống. Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân c
không phải là nhỏ tồn tại dới dạng vàng ngoại tệ tiền mặt. Nguông vốn
này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân
hàng. Điều này đã đợc thể hiện bằng thực tế, nguồn vốn huy động từ tiết
kiệm của dân c chiếm 80% tổng nguồn vốn huy độgn của toàn bộ hệ thống
ngân hàng. Qua một số đợt phát hành công trái đã huy động một lợng vốn
rất lớn từ dân c, chỉ một thời gian ngắn nhng số tiền huy động đã lên đến
hàng ngàn tỉ đồng. Với khoảng 15 triệu hộ gia đình đống góp khoảng 1/3
GDP, giai đoạn 1996 2000 tiết kiệm của khu vực dân c chiếm 15%
GDP và xu hớng ngày càng tăng
bình quân mỗi năm là 2,5 tỉ USD. Năm 2003 đầu t của t nhân và dân c
là 58000 tỉ đồng tăng 24,9 % so với năm 2002. Theo thời báo kinh tế Việt
Nam thì số lợng các doanh nghiệp t nhân tăng lên qua từng năm, năm
2000 số lợng doah nghiệp t nhân là 35004 thì 2001 là 44314 và năm
2002 là 55236, tỉ lệ tăng số doanh nghiệp t nhân là 25,6% một năm (trong
đó tăng nhanh nhất là công ty cổ phần chiếm 93,3%, công ty TNHH
49,9%)ở khu vực này số doanh nghiệp có lãi tăng từ 27916 lên 32593
doanh nghiệp và 2002 là 41743 doanh nghiệp tổng mức lãi tăng dần từ
3168 tỉ đồng lên 4753 tỉ và 7024 tỉ, lãi bình quân của một doanh nghiệp
tăng lên từ 0,11 tỉ đến 0,15 tỉ và 0,17 tỉ. Và khu vực doanh nghiệp ngoài
quốc doanh năm 1995 góp 54,7% GDP và năm 2001 góp 46,8% GDP. Điều
này khẳng định tiềm năng phát triển to lớn của khu vực này. Khu vực t
nhân năng động có thể tăng trởng nhanh và tạo việc làm mà không cần có
sự hỗ trợ nào từ ngân sách hay gần giống ngân sách. Nếu tạo điều kiện
thông thoáng và tính hiệu rõ ràng từ phía chính phủ. Tốc độ tăng vốn đầu t
phát triển vủa khu vực ngoài quốc doanh hiện nay là cao nhất năm 2002
tăng 18,3 so với năm trớc và năm 2003 tăng 25% so với năm trớc mặc dù
có nhiều tiến bộ về tăng trởng chuyển dịch cơ cấu song cũng còn tồn tại
nhiều yếu kém và bất cập. Phần lớn các doanh nghiệp đều có qui mô nhỏ
phân tán với công nghiệp lạc hậu, việc phát triển doanh nghiệp còn mang
tính tự phát, năng lực cạnh tranh còn yếu kém.
2. Thị trờng vốn
Thị trờng vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phảt triển kinh
tế của các nớc có nền kinh tế thị trờng. Thị trờng vốn mà cốt lõi là thị
trờng chứng khoán là trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng
hộ dân c, vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp, tổ chức tài chính. Hoạt động
của thị trờng chứng khoán mặc dù cha phảt triển nh mong muốn song
bớc đầu đã đợc triển khai khá suôn sẻ không gây ra những biến động lớn
thu hút nguồ lực từ bên ngoài. Đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) đặc biệt là
từ khi chính phủ ban bố luật đầu t nớc ngoài khối lợng FDI gia tăng
nhanh dần qua các năm. Và FDI đã góp phần tạo đà tăng trởng nhanh cho
kinh tế nớc ta. Cuối năm 1993 là thời điểm đánh dấu bớc chuyển của
động thái dùng vốn nớc ngoài, khi mà các thành tựu cải cách đã đủ sức
chứng tỏ triển vọng phát triển nhanh và lâu bền của nền kinh tế Việt
Nam.Tháng 10/1993 diễn ra Hội nghị lần 1 các nhà tài trợ cho Việt nam tại
Pari - ở hội nghị này các chính phủ và tổ chức quốc tế cam kết tài trợ cho
Việt nam 1.860 tỉ USD. Ngay sau đó cùng với sự giúp đỡ của các nhà tài trợ
quốc tế ta đã giải quyết nợ quá hạn với IMF. IMF cũng tuyên bố cho Việt
Nam vay theo thể thức dự phòng 230 triệu USD. Đến năm 1994 Mỹ tuyên
bố bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam, năm 1995 Việt Nam
chính thức gia nhập ASEAN. Những điều đó đã làm dòng vốn đầu t nớc
ngoài vào Việt Nam đợc thuận lợi hơn.
1. Nguồn vốn tài trợ phát triển chính thức
Nếu nh FDI làm thúc đẩy chuyển địch cơ câú thì ODA lại là nguồn
tài trợ quan trọng cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triểnvăn hoá giáo dục
y tế, là động lực cho phát triển bền vững nếu biết sử dụng đúng. ODA với
đặc điểm vay u đãi thời hạn dài là phần thiết yếu để thực hiện tái thiết đất
nớc, nhng hiện nay nguồn vốn này càng khó khăn hơn do có sự cạnh
tranh giữa các nớc nghèo trong khi ngân khố ODA của các nớc giàu ngày
một giảm.Vốn ODA đợc đầu t chủ yếu theo các chơng trình dự án giúp
phát triển khu vực kém phát triển, vùng núi,vùng sâu vùng xa đặc biệt là
các chơng trình xoá đói giảm nghèo, định canh định c
Bảng 3: Cam kết giải ngân vốn ODA 1995-2002(tỷ USD )
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Cam kết(1)
không có khả năng thu hồi vốn trả nợ. Song cũng không thể phủ nhận
những thành tựu mà ODA đem lại cho sự phát triển của nớc ta. Nhờ ODA
mà cơ sở hạ tầng trong nớc đợc cải thiện hơn (dù có thể còn thiếu đồng
bộ ). Tất cả các chơng trình dự án lớn, các công trình trọng điểm quốc gia
đều có sự góp mặt của vốn ODA: Đờng sá đợc mở mang, các nhà máy,
các công trình phục vụ dân sinh, đặc biệt ODA góp phần đa Việt Nam trở
thành quốc gia hàng đầu về xoá đối giảm nghèo trên thế giới. ODA đã tạo
điều kiện hoàn thiện cơ sỏ hạ tầng cho sự phát triển kinh tế, khơi thông
đợc các nguồn lực trong dân .
Theo ngân hàng thế giới (WB) Việt Nam hiện nay đang đứng trớc
ba thách thức là cần đẩy mạnh cải cách, tăng tốc giảm nghèo và cải thiện
chất lợng quản lý Nhà nớc. Khả năng tiếp nhận và giải ngân ODA là thể
hiện nội lực và tài trí của ngời Việt Nam trong xây dựng và phát triển đất
nớc. Nếu biết khơi dậy cả mọi nguồn vốn trong dân để thực hiện các dự
án ODA thì sẽ đẩy mạnh đợc việc giải ngân vốn ODA,từ đó sẽ ngày càng
tranh thủ đợc sự đồng tình giúp đỡ của các nhà tài trợ quốc tế
2. Khu vực đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI)
Kể từ năm 1998 khi luật đầu t nớc ngoài bắt đầu có hiệu lực đến ngày
20-12-2002 đã có 2582 dự án đợc cấp giấy phép với tổng vốn đầu t đăng
ký 50.3 tỷ USD và vốn đầu t thực hiện đạt khoảng 24 tỷ USD.Trong số này
có khoảng 1800 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh vói tổng
vốn đăng ký 25 tỷ USD.
Bảng 4: Một số chỉ tiêu đóng góp của đầu t nớc ngoài
Chỉ tiêu\Năm 1995
1996 1997
1998
1999
nghiệp (%)
8.8 21.7 23.2 24.4 20 23
5. Tỉ trọng trong công
nghiệp (%)
25.1
26.2 28.9 32 34.4 36
6. Nộp ngân sách(triệu
USD)
195 263 315 317 271 260
7. Lao động trực tiếp
( ngàn ngời)
220 250 270 296 327
Đầu t trực tiếp nớc ngoài đã góp phần hình thành lên một khu vực
kinh tế mới: Khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài.Từ đó đẻ ra 2014
doanh nghiệp mới và 1584 cơ sở sản xuất kinh doanh phụ.
Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài tập trung chủ yếu ở nhóm ngành
công nghiệp và dịch vụ bao gồm công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, công
nghiệp dầu khí công nghiệp thực phẩm và xây dựngchiếm hơn 61% vốn
đăng ký và 67% vốn thực hiện 71% số lao động, 94% doanh thu và 91% giá
trị xuất khẩu (không kể dầu thô ) của toàn khu vực đầu t nớc ngoài. Nh
vậy rõ ràng đầu t nớc ngoài đã thực hiện theo định hớng công nghiệp
hoá - hiện đại hoá góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nớc ta theo hớng
gia tăng tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ.
Theo tổng điều tra gần đây thì khu vực có vốn đầu t nớc ngoài
chiếm gần 20% tổng vốn đầu t toàn xã hội 25.1% giá trị sản xuất công
nghiêp 27.4% kim ngạch xuất khẩu cả nớc và tạo việc làm cho 400000 lao
động trực tiếp cùng hàng vạn lao động gián tiếp khác.Và thu nhập của
ngời lao động trong khu vực có vốn đầu t nớc ngoài cao hơn so vơí các
thuật) mà còn tập trung vào những địa phơng có điều kiện thuận lợi những
ngành dự kiến có thể thu lợi nhuận nhanh. Chủ trơng đa phơng hoá
nguồn đầu t nớc ngoài còn cha thực hiện tốt. Vốn đầu t nớc ngoài từ
Châu á chiếm 70% trong đó ASEAN chiếm 25% trong khi vốn từ Châu âu
và Mỹ còn thấp, bài học về khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á còn cha
ráo mực. Nếu tập trung thu vốn của một khu vực xuất khẩu của khu vực đầu
t nớc ngoài tăng nhanh song chủ yếu là các mặt hàng gia công: Dệt may,
giày dép lắp ráp điện tử giá trị gia tăng thấp, khả năng cạnh tranh trên thị
trờng không cao. Công tác dự báo cha chuẩn xác dẫn đến rủi ro làm dự
án bị đình trệ bị rút giấy phép. Công tác quản lý cấp phép đầu t thực sự
vẫn cha thông thoáng quá tập trung vào thủ tục ban đầu nhng lại buông
lỏng quản lý sau giấy phép là khâu quyết định thành bại của dự án. Việc
phân phối vốn đầu t để sản xuất hàng thay thế nhập khẩu mạnh hơn xu
hớng sản xuất hàng hoá hớng vào xuất khẩu, có thể thấy rõ là 3/4 vốn
FDI trong khu vực công nghiệp đợc tập trung vào khu vực thay thế nhập
khẩu, chỉ 1/4 FDI tập trung vào phục vụ xuất khẩu. Hơn nữa khu vực FDI
bỏ ra khá nhiều vốn đầu t cho một việc làm 66000USD cho thấy đầu t
nớc ngoài thay thế nhập khẩu cần nhiều vốn hơn là sản xuất hàng xuất
khẩu cần nhiều lao động. Ngoài ra đầu t nớc ngoài còn gây ra nhiều tác
động tiêu cực khác khai thác tài nguyên quá mức, không quan tâm tới việc
xử lý ô nhiễm môi trờng, bóc lột ngời lao động bản xứ, chuyển giao kĩ
thuật công nghệ lạc hậu nhng lại khai khống lên giá trị lợi ích của nớc
nhận đầu t. Nh năm 1995 qua giám định 14 doanh nghiệp liên doanh thì
có 6 doanh nghiệp bị khai khống máy móc thiết bị với tổng số là 13,173
triệu USD, với u thế về vốn kĩ thuật, kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất
dẫn đến gây lũng loạn và phá sản các doanh nghiệp trong nớc kém sức
cạnh tranh. Lợi ích mà đầu t nớc ngoài đem lại là không nhỏ nhng để
phù hợp với lợi ích và định hớng phát triển quốc gia nhà nớc cần có chính
sách quản lý phù hợp vừa tăng cờng thu hút vừa kiềm chế tác động tiêu
cực.
đợc coi là những yếu tố thúc đẩy doanh nghiệp trong nớc không ngừng
thúc đẩy đổi mới công nghệ, phơng thức quản lý để nâng cao chất lợng
và sức cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp trên thị trờng. Trong thời
gian qua khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài là một trong những nhân
tố thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá - hiện