Luận văn : KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC, NĂNG SUẤT VÀ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH PHẨM CHẤT HẠT CỦA 13 GIỐNG/DÒNG NẾP TẠI TRẠI GIỐNG BÌNH ĐỨC VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2004-2005 part 4 potx - Pdf 19

trấu để giữ ẩm. Sau khi gieo hạt tưới nước ngày 2 lần. 10 ngày sau khi gieo tưới
19g Ure và 10,4g DAP cho mỗi líp và tưới thêm nước lạnh để tránh cháy mạ.
3.2.2.2. Chuẩn bị đất cấy
Trước khi cấy dọn sạch cỏ, cày trục san bằng mặt ruộng, bót lót, chia lô
thí nghiệm trước khi cấy.
3.2.2.3. Cấy
Mạ được cấy ở 18 ngày tuổi, nhổ mạ vào buổi chiều hôm trước, mỗi
giống chia làm 3 bó có mang nhãn, bố trí vào lô đã phân trước.
Cấy có căng dây theo mật độ 15 x 15cm, cấy 1 tép/bụi, cấy cạn 2-3cm,
mạ dư cấy ở cuối lô để cấy dặm. Đầu mỗi lô có ghi ký hiệu trên cọc tre.
3.2.2.4. Phân bón
Phân bón theo công thức 90 – 60 – 60 và được chia làm 4 lần bón:
+ Bón lót: Một ngày trước khi cấy bón 1/4 lượng Ure, 1/3 lượng DAP
và 1/2 lượng KCl, tương đương với 4,75kgUre, 2,27kg DAP và
2,56kg KCl.
+ Bón lần 1: 10 NSKC, bón 1/4 lượng Ure và 1/3 lượng DAP, tương
đương 4,75kgUre và 2,27kg DAP.
+ Bón lần 2: 20 NSKC, bón 1/4 lượng Ure và 1/3 lượng DAP, tương
đương 4,75kgUre và 2,27kg DAP.
+ Bón lần 3: 35 NSKC, bón 1/4 lượng Ure và 1/2 lượng KCl, tương
đương 4,75kgUre và 2,56kg KCl.
3.2.2.5. Chăm sóc
+ Sau khi cấy 3 ngày tiến hành cấy dặm lại những cây bị chết, bị nổi và
cho nước từ từ vào ruộng theo chiều cao của cây lúa, sau đó giữ mực
nước trong ruộng từ 5-10 cm cho đến 10 ngày trước khi thu hoạch.
+ Làm cỏ: Sau 15 ngày bắt đầu nhổ cỏ khi trên ruộng xuất hiện cỏ.
3.2.3. Phương pháp thu cthập số liệu
3.2.3.1. Chỉ tiêu nông học
+ Chiều cao cây: Ghi nhận 10 ngày 1 lần và lần đầu vào ngày thứ 20 sau
2
khi cấy. Mỗi lô chọn ngẫu nhiên 3 vị trí theo hình ziczắc, mỗi vị trí chọn 4 bụi

Kín : Cổ bông nằm trong cổ lá cờ
Trung bình : Cổ bông nằm ngoài cổ lá cờ và có khoảng cách từ 0-5cm
Hở : Cổ bông nằm ngoài cổ lá cờ và có khoảng cách trên 5cm
+ Chiều dài bông: Ghi nhận vào lúc thu hoạch, đo ngẫu nhiên 10 bông
lấy từ mẫu thu 12 bụi, đo từ cổ bông đến chóp bông.
2
Số chồi /1 bụi =
Tổng số chồi 12bụi
12
Chiều dài bông(cm) =
Chiều dài 10bông
10
Chiều cao cây (cm)=
Chiều cao 3 bụi
3
+ Đặc tính đổ ngã: Ghi nhận vào giai đoạn lúa chín, cấp đánh giá dựa vào phần
trăm cây bị đổ ngã theo tiêu chuẩn đánh giá của IRRI.
Cấp Thang điểm ( % cây đổ ngã)
1 Không đổ ngã
3 Hầu hết không đổ ngã ( <25%)
5 Hơi ngã ( 25-50%)
7 Hầu hết ngã( 50-70%)
9 Tất cả đều ngã( >70%)
+ Thời gian sinh trưởng: Ghi ngày nẩy mầm, ngày cấy, ngày trổ 5%, 80%, và
ngày lúa chín 80%. Thời gian sinh trưởng được tính từ lúc lúa nẩy mầm đến
lúc lúa chín 80%.
+ Chất lượng gạo: mỗi giống được phân tích 3 lần lặp lại, trọng lượng mẫu
150gram, xay trên máy Satakemini (THO-35A) và chà trắng bằng máy MC
GILL Polisher No3 của nhật bản, cân trọng lượng gạo trắng, sau đó tách gạo
nguyên và gạo gãy, cân trọng lượng gạo nguyên.

3.2.3.2. Năng suất thực tế và thành phần năng suất
+ Mỗi lô cắt 5m
2
( tương đương 222 bụi) ở giữa lô, ra hạt, phơi khô và giê sạch,
cân trọng lượng và đo ẩm độ rồi qui về ẩm độ 14% theo công thức
Trong đó: W
14%
: Trọng lượng ở ẩm độ chuẩn 14% ( Kg).
w : Trọng lượng lúc cân ( Kg).
H
0
: Ẩm độ lúc cân.
Công thức tính năng suất thực tế:
NSTT = W
14%
x 2000 (đơn vị: Kg/ha)
= W
14%
x 2 (đơn vị: Tấn/ha)
+ Thành phần năng suất: Thu 12 bụi trên mỗi lô ở 3 vị trí. Sau đó tiến hành các
bước sau:
− Chọn ngẫu nhiên 10 bông, đo chiều dài bông (cm).
− Đếm tổng số bông của 12 bụi. Ký hiệu: P.
− Tuốt tất cả các hạt lép và chắc của P bông.
− Đếm tất cả các hạt lép. Ký hiệu: U.
− Đếm 1000 hạt chắc, cân trọng lượng, đo ẩm độ , qui về trọng lượng ở ẩm độ
14% theo công thức (1), ký hiệu: w (g).
− Cân trọng lượng hạt chắc còn lại, đo ẩm độ H
0
, qui về trọng lượng ở ẩm độ 14%

3 Lá biến vàng bộ phận chưa bị cháy rầy
5 Lá vàng rõ rệt, cây bị lùn và héo, đã bị cháy rầy, số cây còn lại bị lùn
nặng
7 Hơn nửa số cây bị héo, cháy rầy, các cây còn lại bị lùn nặng
9 Tất cả cây bị chết
+ Rầy nâu (thí nghiệm trong nhà lưới): sử dụng khay mạ rầy nâu 40x50x10cm
để gieo mỗi giống thành 1 hàng 10cm, 3 lần lặp lại, xen lẫn với các giống
chuẩn nhiễm và chuẩn kháng. Thả 6-8 rầy nâu non tuổi 2-3 trên 1 cây mạ vào
lúc 7 ngày sau khi gieo. Ghi nhận cấp hại theo tiêu chuẩn 0-9 cấp của IRRI
khi giống chuẩn nhiễm TN1 bị cháy rụi. Đánh giá theo các cấp:
Cấp: Mức độ :
0 Cây phát triển bình thường, không bị hại
1 Cây phát triển bình thường, lá 1 và 2 bị vàng (kháng)
2
Hạt chắc/bông =

(W+w)100
0
w.P
% hạt chắc = x 100
(W+w)1000/w
(W+w)1000/w + U
3 10% cây chết, lá 1 và 2 bị vàng nhiều ( hơi kháng)
5 20 đến 50% cây chết, lá 1,2 và 3 bị vàng nặng ( hơi nhiễm)
7 Trên 50% cây chết, cây còn lại vàng không phát triển được ( nhiễm)
9 100% cây bị chết
+ Bệnh cháy lá ( Pyricularia oryzae Cav): Ghi nhận từ giai đoạn mạ đến trổ.
Đánh giá dựa vào dạng hình vết bệnh phổ biến.
Cấp: Mức độ:
0 Không thấy vết bệnh.

tầng mặt (0-20cm). Để khô tự nhiên nơi thoáng mát. Đất khô được nghiền
nhuyễn và trộn 5 điểm lại với nhau, gởi về phòng thí nghiệm của Bộ môn Khoa
học đất để phân tích chỉ tiêu đạm tổng số, lân tổng số, chỉ số CHC, pH.
3.3. Phương pháp thống kê
Các số liệu thí nghiệm sẽ được tính toán bằng chương trình Excel và
phân tích phương sai theo mô hình khối hoàn toàn ngẫu nhiên bằng chương trình
Irristat.
2
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Tình hình chung
4.1.1. Tình hình sâu bệnh
Do ruộng thí nghiệm được quản lý tốt: bờ bao cao, luôn giữ nước ở chân
ruộng nên sâu bệnh ít phát triển. Trong suốt thời gian thí nghiệm chỉ có sự xuất
hiện của:
+ Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis): xuất hiện vào giai đoạn
40NSKC (ngày sau khi cấy) và tấn công trên tất cả các lô thí nghiệm ở mức
độ từ cấp 3-5. Sử dụng Kinalux xịt đều trên ruộng.
+ Bệnh đốm nâu (Helminthosporium oryzae): xuất hiện từ giai đoạn 40 NSKC
cho đến khi thu hoạch, không xịt thuốc.
+ Bệnh cháy lá (Pirycularia oryzae Cav) có xuất hiện vào giai đoạn 50 NSKC
trên các giống LN2, LN7, LN8, LN9, nhưng ở mức độ thấp (cấp 1-3) và
không xuất hiện trên cả 3 lần lặp lại. Sử dụng Fuan xịt với nồng độ 50
cc
/bình
16lít vào giai đoạn 50 NSKC và sau đó không còn thấy vết bệnh nữa.
4.1.2. Cỏ dại
Do không xử lý thuốc cỏ trên ruộng trước khi cấy, nên 15NSKC (ngày
sau khi cấy) cỏ bắt đầu xuất hiện khá nhiều nên phải tiến hành nhổ cỏ. Ở các giai
đoạn sau cũng diệt cỏ bằng tay, không sử dụng thuốc cỏ.
4.2. Kết quả thảo luận

Cv (%) 4.6 5.7 5.3 7.1 5 4.4
Mức ý nghĩa
(F)
** ** ** ** ** **
(Chú thích: trong cùng một cột, các số theo cùng một chữ cái thì không khác
biệt ở mức 5% trong phép thử Duncan; ** = khác biệt có ý nghĩa 1%)
Theo IRRI (1981) sự vươn lóng liên hệ mật thiết với thời gian sinh
trưởng. Giống LN11 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất (85 ngày) đã đạt chiều
cao tối đa sớm hơn tất cả các giống còn lại. Giống LN3 có thời gian sinh trưởng
dài nên có tốc độ tăng trưởng chiều cao thấp.
Theo kết quả ghi nhận, trong giai đoạn đâm chồi tích cực (30NSKC), do
cây lúa tập trung dinh dưỡng tăng số chồi nên ở các giống/dòng có tốc độ tăng
chiều cao chậm hơn ở giai đoạn sau.
2
Chiều cao các giống/dòng biến động từ 97 – 150 cm, và chiều cao giữa
các giống/dòng đều khác biệt có ý nghĩa. Phần lớn các giống/dòng có chiều cao
thấp hơn 120cm, đây là kiểu hình khá lý tưởng.
Nhìn chung , có thể chia thành 2 nhóm:
+ Cao từ 140 - 150cm: LN1, LN5, LN11.
+ Cao từ 97-121cm: LN2, LN3, LN4, LN6, LN7, LN8, LN9, LN10, Nếp Phú
Tân, NCT.
4.2.1.2. Số chồi
Theo kết quả phân tích thống kê số chồi của các giống/dòng có sự khác
biệt ý nghĩa giữa các giống. Từ bảng 3, cho ta thấy trong giai đoạn đầu do còn
hồi phục sau khi cấy nên số chồi của các giống/dòng đều thấp, nhưng từ 20-
30NSKC do cây hấp thu và tập trung dinh dưỡng cao cho sự đâm chồi nên số
chồi gia tăng nhanh. Mặc dù các giống/dòng có thời gian sinh trưởng khác nhau
nhưng đều đạt số chồi tối đa ở giai đoạn 30 NSKC.
Dựa vào kết quả phân tích thống kê, ta có thể chia 13 giống/dòng thành 3
nhóm như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status