Bảng 3: Biến động số chồi của 13 giống/dòng nếp thí nghiệm tại trại giống
Bình Đức vụ Đông Xuân năm 2004-2005
(Đơn vị: chồi)
Thứ tự giống Ngày sau khi cấy Tỉ lệ chồi hữu hiệu
20 30 ( %)
LN1 5.5 de 8.1 e 65.07
LN2 7.0 bc 12.6 cd 59.49
LN3 7.2 bc 15.6 a 52.58
LN4 8.1 ab 12.4 cd 58.13
LN5 4.8 e 7.2 e 68.43
LN6 6.2 cde 13.8 bc 57.94
LN7 8.9 a 11.0 d 64.06
LN8 7.1 bc 12.2 cd 62.05
LN9 8.8 a 11.3 d 63.20
LN10 6.8 bcd 11.1 d 58.86
LN11 8.1 ab 14.7 ab 75.49
Nếp Phú Tân 7.1 bc 12.5 cd 58.14
NCT 5.0 e 6.7 e 57.88
Cv ( %) 12 7.9
Mức ý nghĩa (F) ** **
(Chú thích: trong cùng một cột, các số theo cùng một chữ cái thì không
khác biệt ở mức 5% trong phép thử Duncan; ** = khác biệt có ý nghĩa 1%)
Nhìn chung, tỉ lệ chồi hữu hiệu của các giống/dòng thấp, biến động từ
50-75%. Do đó, trong canh tác để đạt năng suất cao, chúng ta cần phải lợi dụng
khả năng nảy chồi của giống, giảm thiểu số chồi không hữu hiệu, tạo điều kiện
cho lúa tập trung dinh dưỡng nuôi các chồi hữu hiệu, tạo điều kiện cho bông to,
số hạt chắc và tỉ lệ hạt chắc cao.
4.2.1.3. Góc lá cờ
Góc lá cờ có vai trò quan trọng trong khả năng tạo năng suất, vì lá cờ là
cơ quan cung cấp chủ yếu các chất quang hợp đi trực tiếp đến bông lúa. Do đó,
ngắn hay quá dài đều có thể không cho năng suất cao. Trong thí nghiệm, LN11
có thời gian sinh trưởng ngắn (85ngày) và LN3 có thời gian sinh trưởng dài
(116ngày) hơn các giống còn lại, và cả hai đều cho năng suất không cao bằng
các giống còn lại.
Hiện nay với xu hướng bao đê tăng vụ thì rất cần các giống ngắn ngày
cho năng suất cao. Và các giống LN2, LN10, Nếp Phú Tân, NCT có thể đáp ứng
được yêu cầu này.
3
Từ kết quả thí nghiệm có thể phân nhóm thời gian sinh trưởng các
giống/dòng như sau:
+ Nhóm có thời gian sinh trưởng trên 110 ngày: LN3.
+ Nhóm có thời gian sinh trưởng từ 100 đến 109 ngày: LN2, LN4, LN6, LN7,
LN8, LN9, LN10, Nếp Phú Tân, NCT.
+ Nhóm có thời gian sinh trưởng dưới 100 ngày: LN1, LN5, LN11.
4.2.1.5. Độ hở cổ bông
Theo thang đánh giá, ta có thể chia các giống/dòng thành các nhóm sau:
Bảng 5: Phân nhóm độ hở cổ bông của 13 giống/dòng nếp thí nghiệm tại
trại giống Bình Đức vụ Đông Xuân năm 2004-2005
Nhóm Độ hở cổ bông
(cm)
Số
giống
Giống/dòng
Hở >5cm 3 LN1, LN5, LN11
Trung bình 0 – 5cm 9 LN2, LN4, LN6, LN7, LN8, LN9,
LN10, Nếp Phú Tân, NCT
Kín 0 1 LN3
Từ kết quả phân tích thống kê cho thấy độ hở cổ bông giữa các giống có
sự khác biệt ý nghĩa. Theo bảng 5 cả ba giống LN1, LN5, LN11 có chiều cao
thân cao đều có độ hở cổ bông tốt. Và giống LN3 thân thấp có bông không thoát
Theo P.R. Jenning,W.R Coffman và H.E Kauffman (1979), thân rạ cao,
ốm yếu dễ đổ ngã sớm làm hạt bị lép và giảm năng suất. Từ kết quả đánh giá cho
thấy các giống LN1, LN5, LN11 do có chiều cao cây cao nên ở 3 lần lặp lại đều
bị đỗ ngã từ cấp 7-9 làm cho năng suất của cả ba giống/dòng này đều thấp hơn
tất cả các giống/dòng còn lại.
Bên cạnh đó, giống LN2 bị ngã ở cấp 3, giống LN4 và LN8 bị ngã ở cấp
5, LN7 ngã ở cấp 7 nhưng sự đổ ngã của 3 giống này chỉ xảy ra trên một lần lặp
lại nên cũng không có ý nghĩa cao.
3
4.2.2. Thành phần năng suất và năng suất thực tế
4.2.2.1. Số bông/m
2
Số bông/m2 là một trong bốn yếu tố cấu thành năng suất nên thường
được quan tâm nhiều trong công tác chọn giống.
Từ kết quả phân tích thống kê, số bông/m2 giữa các giống có sự khác
biệt ý nghĩa. Số bông/m2 giữa các giống/dòng biến động từ 210 bông đến 377
bông và có thể phân thành 3 nhóm như sau:
+ Nhóm có số bông/m
2
lớn hơn 320 bông: LN2, LN3, LN4, LN6, LN7,
LN8, Nếp Phú Tân.
+ Nhóm có số bông/m
2
từ 290 – 320 bông: LN9, LN10, NCT.
+ Nhóm có số bông/m
2
ít hơn 290: LN1, LN5, LN11.
Theo Shouichi Yoshida (1981), trong ruộng lúa cấy số bông trên mét
vuông phụ thuộc nhiều vào sự đâm chồi và được xác định phần lớn ở 10 ngày
sau giai đoạn số chồi tối đa. Và ruộng thí nghiệm được thực hiện theo phương
LN9.
+ Nhóm có số hạt chắc/bông nhỏ hơn 75 hạt: LN1, LN3, LN11
4.2.2.3. Tỉ lệ hạt chắc
Theo kết quả phân tích thống kê, tỉ lệ hạt chắc giữa các giống/dòng có sự
khác biệt ý nghĩa. Tỉ lệ hạt chắc của tất cả các giống/dòng khá cao biến động từ
80 – 90%, đặc tính này rất phù hợp với kiểu hình cây lúa cho năng suất cao.
Theo bảng 7, mặc dù có số bông/m2 và số hạt chắc trên bông thấp nhưng
giống LN1, LN5, LN11 có tỉ lệ hạt chắc cao hơn cả giống đối chứng NDPT và
NCT.
Bảng 7: Năng suất và thành phần năng suất của 13 giống/dòng nếp thí
nghiệm tại trại giống Bình Đức vụ Đông Xuân năm 2004-2005
3
Số thứ tự giống Số
bông/m
2
(bông)
Số hạt
chắc/bông
(hạt)
Tỉ lệ hạt
chắc
(%)
Trọng
lượng 1000
hạt (g)
NSTT
(tấn/ha)
LN1
LN2
LN3
78 de
82 de
113 ab
73 e
97 bcd
124 a
87,0 ab
82,7 bc
85,3 bc
81,7 c
90,3 a
82,7 bc
81,3 c
82,0 c
80,7 c
85,0 bc
85,0 bc
82,3 c
80,7 c
34,50 a
25,67 d
27,35 c
25,80 d
33,01 b
20,99 h
28,31 c
25,01 de
27,37 c
23,94 ef
33,20 ab
của giống vì kích thước hạt bị kiểm tra chặt chẽ bởi kích thước vỏ trấu, do đó,
3
hạt không thể sinh trưởng lớn hơn khả năng vỏ trấu dù các điều kiện thời tiết
thuận lợi và nguồn cung cấp chất dinh dưỡng như thế nào.
Các giống LN1, LN5, LN11 do có dạng hạt to nên có trọng lượng hạt
lớn và khác biệt hoàn toàn với các giống/dòng còn lại.
Cả hai giống đối chứng NDPT, NCT và hai giống LN6 và LN10 đều có
dạng hạt thon nhỏ nên trọng lượng 1000 hạt thấp (<24g).
Còn lại 6 giống/dòng đạt trọng lượng 1000 hạt trung bình từ 25- 33g .
Từ kết quả phân tích thống kê, ta có thể chia các giống/dòng thành 3
nhóm như sau:
+ Nhóm có trọng lượng 1000 hạt lớn hơn 33gram: LN1, LN5, LN11.
+ Nhóm có trọng lượng 1000 hạt từ 25 - 33gram: LN2, LN3, LN4,
LN7, LN8, LN9.
+ Nhóm có trọng lượng 1000 hạt nhẹ hơn 25gram: LN6, LN10, Nếp
Phú Tân, NCT
4.2.2.5. Năng suất thực tế
Năng suất thực tế là chỉ tiêu cuối cùng để phân loại và đánh giá giống
năng suất cao hay thấp, trên cơ sở đó người làm công tác giống đưa ra quyết
định tiếp tục đánh giá ở vụ sau hay trồng trên diện rộng để đánh giá cuối cùng.
Năng suất lúa là do 4 thành phần năng suất cấu thành, do đó mọi sự biến đổi của
chúng đều ảnh hưởng đến năng suất.
Qua kết quả phân tích thống kê, 13 giống/dòng có năng suất biến động
từ 5,45 – 8,12 tấn/ha, và năng suất giữa các giống dòng có sự khác biệt ý nghĩa.
Từ bảng 7, ta thấy giống đối chứng Nếp Phú Tân có năng suất cao nhất
(8.12tấn/ha). Tuy nhiên các giống LN10, LN2, NCT, LN6 cũng đạt năng suất
khá cao và không có sự khác biệt đáng kể với Nếp Phú Tân.
Các giống LN1, LN5, LN11 do có số bông/m2 và số hạt chắc thấp đã
ảnh hưởng đáng kể đến năng suất thực tế bị thấp.
3
Cũng như kích thước hạt, tỉ lệ dài/rộng giữa các giống khác biệt có ý
nghĩa thống kê. Tất cả các giống/dòng đều có dạng hạt từ trung bình đến thon
dài. Từ bảng 9, theo thang đánh giá của IRRI ta có 2 nhóm:
+ Nhóm có dạng hạt thon dài: LN3, LN7, LN9, NCT.
+ Nhóm có dạng hạt trung bình: LN1, LN2, LN4, LN8, LN5, LN11,
LN6, LN10, Nếp Phú Tân .
Tóm lại 13 giống/dòng nếp thí nghiệm không có dạng hạt tròn và hơi
tròn, rất phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Bảng 9: Chất lượng thóc gạo của 13 giống/dòng nếp thí nghiệm tại trại
giống Bình Đức vụ Đông Xuân năm 2004-2005
Giống Chiều dài
hạt (mm)
D/R Tỷ lệ xay xát
(%)
Tỷ lệ gạo
nguyên (%)
LN1
LN2
LN3
LN4
LN5
LN6
LN7
LN8
LN9
LN10
LN11
Nếp Phú Tân
NCT
7,40 a
67,93 abc
68,67 abc
69,57 ab
61,67 de
70,33 a
59,97 e
61,03 de
62,53 cde
49,80 ab
46,73 bc
43,73 bc
54,40 a
49,77 ab
53,23 a
48,80 ab
49,77 ab
44,03 bc
35,03 d
44,80 bc
42,07 c
49,93 ab
Cv (%) 1,4 2,0 5,0 7,1
Mức ý nghĩa (F) ** ** ** **
(Chú thích: trong cùng một cột, các số theo cùng một chữ cái thì không khác
biệt ở mức 5% trong phép thử Duncan; ** = khác biệt có ý nghĩa 1%, ns = sai
khác không có ý nghĩa thống kê)
4.2.3.3. Tỷ lệ xay xát, tỷ lệ gạo nguyên và tỉ lệ gạo đục
Qua kết quả phân tích thống kê, ta thấy tỉ lệ xay xát và tỉ lệ gạo nguyên
giữa các giống có khác biệt ý nghĩa.
4