Khoá luận tốt nghiệp – 2005 Vật liệu – Phương pháp
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 18
- Sau đấy quả lan sẽ được cắt gọt 2 đầu, và dùng dao mổ xẻ dọc
quả lan, tách làm 2.
- Dùng dao giữ phần vỏ quả, dùng kẹp lấy hết hột ra một đóa petri.
- Gieo hạt vào môi trường.
- Thí nghiệm được lặp lại 2 lần, mỗi lần một quả.
d. Chỉ tiêu theo dõi.
Tỷ lệ hạt sống sau khi gieo.
Tình trạng hạt gieo: Xanh.
Trắng.
Hóa nâu.
1
.
c. Bố trí thí nghiệm.
- Các quả lan đã được khử trùng từ thí nghiệm 1, sẽ được gieo
vào 4 loại môi trường thử nghiệm.
- Theo dõi và ghi nhận kết quả sau 2-4 tuần
- Thí nghiệm được lặp lại 2 lần , mỗi lần 15 chai 100ml.
d. Chỉ tiêu theo dõi.
- Thời gian hạt nẩy mầm.
- Môi trường thích hợp gieo hạt Dendrobium.
Download»
Khoá luận tốt nghiệp – 2005 Vật liệu – Phương pháp
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 21
3.3 Thí nghiệm 3: Tạo Protocorm
Download»
Khoá luận tốt nghiệp – 2005 Vật liệu – Phương pháp
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 22
3.4 Thí nghiệm 4: Nhân protocorm
a. Mục đích thí nghiệm.
So sánh sự nhân protocorm trên cùng một loại môi trường với nồng độ kích
thích tố thay đổi.
b. Môi trường nuôi cấy.
- Môi trường Knudson’C đối chứng không bổ sung kích thích tố
ký hiệu K
0
.
- Môi trường Knudson’C bổ sung BA với nồng độ
1ppm:2ppm:3ppm, ký hiệu là K
1
, K
2
, K
3
.
Download»
Khoá luận tốt nghiệp – 2005 Vật liệu – Phương pháp
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 23
3.5 Thí nghiệm 5: Ra rễ
a. Mục đích thí nghiệm.
Khảo sát môi trường thích hợp cho sự ra rễ.
b. Môi trường nuôi cấy.
- Môi trường Knudson’C đối chứng không bổ sung kích thích tố
ký hiệu K
0
.
- Môi trường Knudson’C bổ sung NAA với nồng độ
0.1ppm:0.5ppm:1ppm, ký hiệu là KN
1
, KN
2
, KN
3
.
- Môi trường Knudson’C bổ sung IAA với nồng độ
0.1ppm:0.5ppm:1ppm, ký hiệu là KI
1
, KI
2
, KI
3
.
- Môi trường Knudson’C bổ sung IBA với nồng độ
0.1ppm:0.5ppm:1ppm, ký hiệu là KB
1
2
, sau 1 tuần.
Sống và không nhiễm Chết và không nhiễm Nhiễm NT Số lần đốt
Số lượng Tỷ lệ
(%)
Số lượng Tỷ lệ
(%)
Số lượng Tỷ lệ
(%)
1 1 16 100 0 0 0 0
2 2 10 62,5 6 37,5 0 0
Bảng 2: Kết quả khử trùng mẫu bằng phương pháp đốt, sau 1 tuần.
Mẫu hạt lan được gieo vào môi trường, sau 1 tuần khử trùng, mẫu bắt
đầu có những biểu hiện khác nhau:
- Đối với những mẫu sống và không nhiễm, sau 1 tuần, hạt dần
dần thích nghi với môi trường, bắt đầu chuyển sang màu nâu
vàng mật ong.
- Còn với những mẫu hạt bò ảnh hưởng bởi Ca(OCl)
2
, và nhiệt độ
cao, hạt chuyển sang màu trắng và nâu đục, không phát triển.
Kết quả ghi nhận được ở bảng 1 cho thấy:
- Nồng độ Ca(OCl)
2
7%, thời gian khử trùng là 15 phút tỷ lệ hạt
sống và không nhiễm là 75%, mẫu không bò chết nhưng tỷ lệ
Sống và không nhiễm Chết và không nhiễm Nhiễm N
T
2
, phần vỏ bên ngoài tiếp
xúc trực tiếp với dung dòch khử trùng, còn phần hạt bên trong không
bò ảnh hưởng. Khi gieo hạt vào môi trường, hạt có khả năng phục hồi
nhanh và nẩy mầm. Tuy nhiên, nếu tăng nồng độ và kéo dài thời
gian khử trùng, dung dòch sẽ ngấm vào bên trong vỏ quả, nên sau khi
gieo vào môi trường, hạt phục hồi rất chậm và có thể sẽ bò chết (hóa
trắng).
Như vậy, với các nồng độ Ca(OCl)
2
đã được sử dụng trong loạt thí
nghiệm, thì nồng độ 9% trong thời gian 15 phút là thích hợp nhất.
Kết quả ghi nhận được ở bảng 2 cho thấy:
- Khử trùng quả lan bằng phương pháp đốt cồn thì mẫu hạt gieo
hoàn toàn không bò nhiễm. Nhưng nếu tiến hành đốt 2 lần thì tỷ
lệ mẫu chết cao (37,5%), tương đương với phương pháp khử
trùng bằng Ca(OCl)
2
9%, trong thời gian 20 phút.
- Khi đốt một lần tỷ lệ mẫu sống là 100%, tương ứng với khi khử
trùng bằng Ca(OCl)
2
9% trong thời gian 15phút.
Khi nhúng quả lan vào cồn 90
0
và đốt, thì phần vỏ quả bên ngoài sẽ
bò ảnh hưởng trực tiếp của nhiệt độ cao, đồng thời sẽ loại bỏ hoàn
toàn các tác nhân gây nhiễm bên ngoài vỏ. Nhưng nếu tiến hành đốt
2 lần, nhiệt độ cao cùng với thời gian kéo dài sẽ gây ảnh hưởng đến
hạt bên trong, nên khi gieo vào môi trường, mẫu hạt phục hồi rất