Luận văn: Nhân giống lan Dendrobium bằng phương pháp gieo hạt in-vitro pot - Pdf 12

Luận văn
Nhân giống lan Dendrobium
bằng phương pháp gieo hạt
in-vitro
Khoá luận tốt nghiệp – 2005 Mở đầu

PHẦN I: GIỚI THIỆU

Trong những năm gần đây với chính sách mở rộng đầu tư về mọi mặt của Nhà
nước, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện và nâng
cao. Song song với nhu cầu về vật chất thì nhu cầu tinh thần đặc biệt không thể thiếu
được. Từ lâu con người đã thích trồng hoa, cây cảnh vừa để trang trí cho đẹp, vừa để
giải trí tinh thần. Mỗi người thích trồng một loài hoa khác nhau, việc lựa chọn loài hoa
nào thường tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu của vùng đó, vẻ đẹp của hoa, cũng như là
hoa đó có dễ trồng và chăm sóc hay không. Hoa lan được nhiều người ưa thích, bởi lẽ
hoa lan có cấu trúc kiêu kì và phức tạp, nhất là bộ phận môi có những nét chạm trổ rất
tinh vi, lại rất phù hợp với điều kiện khí hậu của Việt Nam, dễ chăm sóc và mỗi người
có thể chọn loại hoa lan mình thích tuỳ theo túi tiền của mình mà vẫn thoả mãn được
thú vui tao nhã.
Phong lan ở nước ta rất phong phú và đa dạng, có nhiều giống khác nhau như:
Cattleya, Phalaenopsis, Oncidium, Mokara, Vanda, Dendrobium… chúng đều cho hoa
rất đẹp và mang nhiều màu sắc khác nhau. Nó có thể dùng để trang trí, trưng bày, làm
đẹp, dùng trong các buổi lễ… hay người ta có thể bán hoa cắt cành-kinh doanh. Trong
số đó có lẽ Dendrobium là giống đặc sắc nhất từ màu sắc, dạng hoa cho đến giống loài.
Mặc khác, Dendrobium cũng rất dễ trồng, rất siêng hoa và lâu tàn. Do đó nó rất được
ưa chuộng và được trồng phổ biến nhất nước ta hiện nay nhằm phục vụ cho nhu cầu
cuộc sống.
Các nhà trồng lan không ngừng tìm kiếm các giống lan mới để thõa mãn sự

Theophrastus (372-287 trước Công nguyên) và sau này là nhà thực vật học người
Thụy Điển Linnaeus (1707-1778). Chính Theophrastus là người đầu tiên sử dụng từ
Hy Lạp “Orchis” để chỉ nhóm Lan [4].
1.2 Đặc điểm hình thái:
1.2.1 Cơ quan dinh dưỡng:
Giả hành (thân giả): chỉ xuất hiện trên các loài lan đa thân. Giả hành là
bộ phận rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của lan. Giả hành
tuy là thân nhưng lại chứa diệp lục, đây là bộ phận dự trữ nhiều chất
dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển của giả hành mới. Giả hành
cũng là cơ quan dự trữ nước[11].
Thân: Thân vẩy giả có nhiều hình dáng khác nhau tùy theo giống lan.
Trên thân có đốt, trên mỗi đốt mọc một nhánh lá hoặc lá bao. Thân là cơ
quan dự trữ nước và chất dinh dưỡng, mầm hoa và mầm lá đều mọc từ
phần gốc của bộ phận thân rễ[12]. Chỉ có các loài đơn thân và một số
loài của giống Dendrobium và Epidendrum vừa có giả hành, vừa có thân.
Các loài lan có thân thường không có cơ quan dự trữ nước và chất dinh
dưỡng[11].
Lá: là cơ quan dinh dưỡng của hoa lan, là xưởng chế tạo chất dinh dưỡng
bằng quang hợp. Phiến lá thường có hình lưỡi kiếm dài, số lượng và hình
dạng lá khác nhau tùy chủng loại lan khác nhau [12]. Lá có thể mọc đối
xứng qua gân chính hay không, lá sát nhau ở gốc hay xếp cách có bẹ úp
lên nhau, chia đốt đều đặn, có khi thoái hóa thành vẩy hay phình lên,
mọng nước, hình dạng rất khác nhau [11].
Căn hành (thân-rễ): chỉ gặp ở lan đa thân. Căn hành là nơi cấu tạo các
cơ quan dinh dưỡng mới, trên căn hành có nhiều mắt sống, chết hoặc
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 3
hưu niên. Mắt lá nơi hình thành cũng mang rất nhiều rễ để nuôi sống
cây lan [11].
Rễ: ở lan đa thân, rễ thường được hình thành từ căn hành. các loài đơn

thành 2 hàng mọc đối nhau, lá trên một hàng xen kẻ với lá của
hàng kia. Gồm các giống như: Vanda, Aerides, Phalaenopsis…
- Nhóm phụ lá dẹp thẳng hay tròn (Campylocentrinae):
Papilionanthe, Luisia…
Nhóm đa thân: đây là nhóm gồm những cây tăng trưởng liên tục. Căn cứ
vào cách ra hoa nhóm này chia thành 2 nhóm phụ:
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 4
- Nhóm ra hoa phía trên như: Cymbidium, Dendrobium, Oncidium…
- Nhóm ra hoa ở đỉnh: Cattleya, Laelia, Epidendrum…
Ngoài ra còn có một số giống mang tính chất trung gian như:
Centropetatum, Phachyphllum, Dichaea…

Hình 2.1: Cấu tạo cơ quan sinh sản.
a. Cấu tạo hoa chi tiết.
b. Quả lan chín. Hình 2.2: Một số giống hoa đẹp của họ Orchidaceae.

Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 5
II. Giới thiệu về Dendrobium.
2.1 Nguồn gốc và sự phân bố:
Giống lan này được đặt tên vào năm 1799. Chữ Dendrobium có nguồn gốc của
chữ Hy Lạp. Dendro có nghóa là cây gỗ, cây lớn; bio là sống, vì tất cả các loài của
Dendrobium đều là phụ sinh sống bám trên cây gỗ [16].
Dendrobium rất phong phú về chủng loại, nay lớn thứ nhì của họ Lan với
khoảng 1.600 loài phân bố trên các vùng thuộc châu Á nhiệt đới, tập trung nhiều
nhất ở Đông Nam Á và Úc châu [16].

- Dạng đứng hay Phalaenopsis là dạng thân cứng thường sống ở vùng có
khí hậu nóng hơn.
Cả Dendrobium nobile và Dendrobium phalaenopsis đều có chung đặc điểm
trong việc tạo lập các giả hành mới và trong sự biệt hóa chồi sơ khởi ở nách lá dọc
theo giả hành; nhưng chúng lại rất khác biệt trong việc trong việc tạo lập chồi hoa.
- Dendrobium nobile ra hoa từ chồi sơ khởi của giả hành đã trưởng
thành. Như Long tu, Giả hạc chúng chỉ ra hoa với giả hành đã rụng hết
lá.
- Dendrobium phalaenopsis thì hoa mọc ở giả hành cũ lẫn giả hành mới.
giả hành mới, chồi non nhất ở gần ngọn là chồi đầu tiên phát triển
thành vòi hoa.
Hình dạng của Dendrobium cũng rất biến thiên:
- Nhóm có giả hành rất dài và mang lá dọc theo chiều dài của giả hành ấy,
thường rụng hết lá khi ra hoa như Long tu (Dendrobium primulinum), Ý
thảo (Dendrobium gratio sissimum)…
- Nhóm giả hành to ngắn , tận cùng thường có 2-3 lá dai, bền, không rụng.
Phát hoa tập trung ở phần này tạo thành chùm đứng hay thòng như:
Thủy tiên trắng (Dendrobium farmeri), Thủy tiên vàng (Dendrobium
thyrisflorum), Vảy cá (Dendrobium lindleyi)…
- Nhóm cá giả hành rất mảnh mai, dài hay ngắn, có lá dọc theo chiều dài
của chúng, dai bền không rụng. Hoa thường cô độc ở nách như Hương
duyên (Dendrobium revolutum)…
Ngoài ra còn có một số loài Dendrobium khác cũng thường được trồng:
- Kim điệp (Dendrobium chysotosum var delacuorii): Hoa vàng tươi, môi
vàng dưới trung tâm đậm.
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 7
- Nhất điểm hồng (Dendrobium dracoins): Hoa trắng bóng như sáp với
môi sọc đỏ ở đáy.
- Thạch hộc (Dendrobium crumenatum): Hoa trắng, môi có bớt vàng, thơm

gồm đa số các giống Dendrobium ở vùng nhiệt đới, và các loài của giống
Dendrobium lai hiện đang trồng tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh
phía Nam…
- Ngoài ra, còn có một nhóm Dendrobium trung gian có thể sống ở cả
vùng lạnh và vùng nóng, nhưng ở vùng lạnh cây sinh trưởng và ra hoa
nhiều hơn như Dendrobium primulinum, Dendrobium farmeri nhiệt độ lý
tưởng của các loài này là 20
0
C [11].
2.4.2 m độ.
Các cây lan, nhất là phong lan, sống bám trên các cây cao, chúng lấy nước từ
các trận mưa, từ hơi nước trong không khí. Chính ẩm độ quyết đònh sự hiện diện
của các loài phong lan [16].
Thông thường ẩm độ tương đối tối thiểu 70% thích hợp cho sự tăng trưởng của
nhiều loài. Tuy nhiên ẩm độ lý tưởng vẫn là ẩm độ của vùng bản xứ mà loài lan đó
được tìm thấy.
Dendrobium cũng như đa số các giống lan khác chỉ phát triển tốt trong không
khí ẩm và thoáng. m độ tương đối cần thiết là 40-70%. Cấu tạo giá thể quá ẩm và
úng thì bộ rễ sẽ bò thối và biểu hiện là cây con keiki mọc ra từ phần ngọn của thân
[11].
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 8
2.4.3 nh sáng.
nh sáng là điều kiện cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây lan
thông qua quá trình quang hợp. Đây là yếu tố quyết đònh sự trổ hoa của lan [16].
Dendrobium là giống ưa sáng, có thể trồng trong điều kiện ánh sáng trực tiếp
hay khuếch tán. nh sáng hữu hiệu cho giống Dendrobium là 70%.
Nếu thừa ánh sáng, cây sẽ bò vàng lá, giả hành bò teo lại, cây xấu đi nhưng cây
sẽ thích nghi dần, vẫn ra hoa nhiều và đẹp. Nếu thiếu ánh sáng, cây sẽ bò thoái
hóa rõ rệt, cây èo uột và số lượng hoa sẽ ít đi [11].

1/400 [11].
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 9 Hình 2.4: Một số dạng hoa đẹp của giống Dendrobium.
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 10
III. Các phương pháp nhân giống.
3.1 Nhân giống ngoài thiên nhiên.
3.1.1 Nhân giống vô tính.
a. Tách bụi: đây là phương pháp đã được các nghệ nhân sử dụng đối
với các giống lan đa thân như Cattleya, Dendrobium, Cymbidium,
Paphiopelium…ở Cattleya, Dendrobium, và những giống tương tự: ở
mỗi gốc của giả hành thường có ít nhất một mắt ngủ nên có thể tách
mỗi hành giả thành một đơn vò để trồng.
b. Chiết cành: ở Dendrobium thường tạo ra cây con trên giả hành
(Keiki) một cách tự nhiên. Khi các cây con này khá mạnh, có rễ tốt,
có thể tách ra khỏi giả hành để trồng.
3.1.2 Nhân giống hữu tính.
a. Sự thụ phấn: Trong thiên nhiên sự thụ phấn ở lan do côn trùng thực
hiện. Cấu trúc của hoa lan là hoàn toàn để thích ứng cho sự thụ phấn
ấy.
Có hai phương pháp thụ phấn:
- Sự tự thụ phấn: Khi phấn hoa của bông hoa này được rơi vào
nuốm của chính hoa ấy. Điều này hiếm khi xảy ra trong tự
nhiên ở hoa lan vì cấu trúc của bộ phận sinh dục đực và cái ở

triển thành cây lan trưởng thành là vấn đề khó khăn. Người trồng lan đã tìm nhiều
cách gieo hạt nhưng không thành công. Năm 1922, Knudson ở Mỹ, thành công
trong việc thay thế nấm bằng đường ở môi trường thạch để gieo hạt [16]. Phương
pháp này có nhiều ưu điểm như:
- Kết hợp với kỹ thuật lai giống tạo ra nhiều giống lan mới
cung cấp cho thò trường.
- Giúp bảo tồn các loài lan quý, và nhân nhanh số lượng giúp
cho công tác bảo tồn.
IV. Sơ lược về kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật.
Nhân giống in vitro hay nuôi cấy mô đều là thuật ngữ mô tả các phương thức
nuôi cấy các bộ phận thực vật trong ống nghiệm có chứa môi trường xác đònh ở
điều kiện vô trùng [5]. Kỹ thuật in vitro dựa trên nguyên lý là tế bào thực vật có
tính toàn thể, nghóa là từ một mô, một cơ quan hoặc một tế bào của bất kỳ bộ phận
nào của cây đều có thể phát triển thành một cây hoàn chỉnh nếu được nuôi trong
môi trường thích hợp [6].
4.1 Điều kiện nuôi cấy tế bào thực vật.
a. Yêu cầu cơ bản nhất của phòng nuôi cấy mô là phải đảm bảo vô
trùng. Khái niệm vô trùng này bao gồm vô trùng môi trường nuôi cấy
và cả sự bảo đảm sao cho mẫu nuôi cấy được hoàn toàn vô trùng.
b. Các yêu cầu cơ bản của kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật:
- Khi thiết lập phòng nuôi cấy mô thực vật phải đảm bảo được
tính liên tục thuận lợi cho các thao tác, các giai đoạn trong
suốt quá trình nuôi cấy mô.
- Đảm bảo được vệ sinh (tính vô trùng) của sản phẩm cuối
cùng.
- Chuẩn bò môi trường đúng cách, chọn đúng môi trường cho
từng loại thực vật và từng giai đoạn nuôi cấy.
- Chọn và xử lý mô thích hợp trước khi cấy [7].
Download»
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu

6
), thiamin HCl (B
1
)…Các vitamin dễ bò hỏng do nhiễm tạo
nên cần giữ ở t
0
< 0
0
C [9].
- Chất điều hòa tăng trưởng: tùy theo từng mục đích nuôi cấy
có thể chọn các nồng độ và tổ hợp các nồng độ và tổ hợp các
chất điêu hòa sinh trưởng phù hợp. Các chất điều hòa sinh
trưởng thường dùng là IAA, NAA, 2,4D, Kinetin, BAP,
IBA…[14]
- Agar(đối với môi trường đặc): là một polisacarit làm từ rong
biển. Agar tan ở 100
0
C và khi nguội sẽ đông đặc lại. Hàm
lượng sử dụng từ 8-10g/l tùy hãng chế tạo[10].
d. Nhiệt độ, ánh sáng và pH ảnh hưởng đến quá trình cấy:
- Nhiệt độ: nhiệt độ của phòng nuôi cấy thường được điều
chỉnh ổn đònh từ 22-25
0
C. ở mỗi tế bào thực vật khác nhau thì
nhiệt độ nuôi cấy cũng khác nhau [5].
- nh sáng: có ảnh hưởng đến quá trình phát sinh hình thái cây
nuôi cấy. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: cường độ, chu kỳ,
thành phần quang phổ ánh sáng. Cường độ ánh sáng từ: 1000-
2500 lux được dùng phổ biến cho nuôi cấy nhiều loại mô [5].
- pH: là một yếu tố quan trọng. Sự ổn đònh pH môi trường là

Sau đấy, cho hạt lan và nước khử trùng vào ống nghiệm, vừa
đủ phủ kín hạt lan, lắc mạnh, đều và để yên trong vòng 10
phút, sau đó đổ nước khử trùng ra bằng ống hút, và tiếp tục
rửa hạt lan 3 lần bằng nước cất vô trùng. Cuối cùng hạt lan đã
khử trùng sẽ được gieo vào các bình chứa môi trường.
- Khi quả lan đã được cắt trên cây, mang vào phòng thí nghiệm,
cần để nơi sạch sẽ, thoáng mát. Nếu chưa gieo hạt ngay thì có
thể giữ quả trong tủ lạnh, trong vòng 3-4 ngày.
Khi gieo hạt, trước tiên quả lan cần cắt bỏ các cuống dài,
đuôi còn sót lại các lá đài, cánh hoa…Dùng bông gòn có tẩm
alcol 70
0
để lau toàn bộ mặt ngoài của quả.
Một khi vào tủ cấy vô trùng, quả lan sẽ được:
- Nhúng vào alcol 90-96
0
, trong 1 phút, hơ nhanh qua ngọn lửa.
- Nhúng vào Hypochlorite de calcium 10%, trong 10 phút, rửa
lại 3 lần bằng nước cất vô trùng.
Download»
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 14
Sau đấy quả lan sẽ được cắt gọt hai đầu, và dùng dao mổ xẻ dọc quả
lan (mổ hai đường đối diện nhau), tách làm hai quả lan, kế đến dùng
pince và dao mổ để giữ lấy tất cả các hạt có trong hai nửa quả lan,
bằng cách gõ nhẹ lên phần ngoài của vỏ quả. Nếu sự thụ tinh tốt, tất
cả các hạt sẽ có màu vàng và đều rơi xuống một đóa petri dùng để
hứng lấy hạt. Sau đó người ta sẽ dùng muỗng hoặc một dụng cụ inox
dùng để gieo hạt vào các bình chứa môi trường [8].
c. Kỹ thuật gieo hạt trong ống nghiệm: hạt sẽ nẩy mầm trong ống

hoang dại, kích thích sự quan tâm của công chúng và tạo
nguồn thu ngân sách.
- Kết hợp với kỹ thuật lai giống tạo ra những cây lan khỏe
mạnh có màu sắc đặc biệt [22].
Download»
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 15
V. Các công trình ngiên cứu gieo hạt lan trong ống nghiệm.
5.1 Trong nước:
Dương Công Kiên và cộng sự nghiên cứu lai tạo và gieo hạt lan
Dendrobium trong ống nghiệm [8].
5.2 Ngoài nước:
Năm 1844, Neumann, một người Pháp làm vườn, đã làm nẩy mầm một số hột
lan bằng cách rải đại các hột lan trên các cục đất ở quanh gốc của các cây lan lớn.
Năm 1899, Noel Bernard, nhà thực vật người Pháp, đã khám phá ra bí mật của
việc nẩy mầm ở hột lan khi ông khảo sát các hột Neottia nidus-avis nẩy mầm tự
nhiên trong rừng. Năm 1904, ông cộng tác với Burgeff để đưa ra phương pháp gieo
hột lan có nhiễm nấm trong chai thạch [16].
Năm 1909, Hans Burgeff đã làm nẩy mầm được Laeliocattleya trên môi trường
dinh dưỡng gồm 0,33% saccarose (đường mía).
Năm 1922, Lewis Knudson đã làm nẩy mầm Cattleya mossiae trên môi trường
Pfefferds 1% saccarose (đường mía) [11].
VI. Mục đích gieo hạt lan Dendrobium trong ống nghiệm.

Hình 2.5: Quả lan Dendrobium.
Các nhà trồng lan không ngừng tìm kiếm các giống lan mới để thõa mãn
sự hiếu kì của mình hoặc có thể đem bán. Có hai cách để có được giống
lan mới. Một là, sưu tập những giống lan hoang dại trong rừng đem về
thuần hóa, tạo các điều kiện nhân tạo giống tự nhiên để cây lan có thể ra
hóa. Phương pháp này gặp nhiều rủi ro do điều kiện môi trường không

- myo-Inositol 0.1mg/l
- Đường 30g/l.
- Agar 8,5 g/l.
- pH = 5.5 – 5.7.
Sử dụng chai thủy tinh 100 ml và 500 ml để nuôi cấy.
Tất cả môi trường được hấp khử trùng ở 1atm, 121
0
C trong thời gian 20
phút.
1.3 Điều kiện nuôi cấy.
Thí nghiệm được thực hiện từ ngày 20/01/2005 đến ngày 26/05/2005, tại công
ty Văn Thành Tài, 114 Hồng Hà, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, với các
điều kiện nuôi cấy như sau:
- Nhiệt độ phòng nuôi: 24-28
0
C.
- Cường độ chiếu sáng: 2000-3000 lux.
- Thời gian chiếu sáng: 8 giờ/ngày.
- Ẩm độ trung bình: 60-70%.

Download»
Khoá luận tốt nghiệp – 2005 Vật liệu – Phương pháp
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 17
II. Hướng đi của đề tài.
Đối với đề tài, chúng tôi hướng mục đích nhân giống lan Dendrobium lai bằng
phương pháp gieo hạt in-vitro nhằm:
- Cung cấp giống lan mới cho các phòng nuôi cấy mô.
- Tạo ra cây con khỏe, sạch bệnh, để trồng ra vườn ươm.
- Kiểm tra kết quả lai.
Với thời gian quá ngắn, từ nguyên liệu ban đầu là quả lan, chúng tôi chỉ có thể


và thường xuyên lắc mẫu.
- Rửa lại mẫu nhiều lần
bằng nước cất vô trùng
khoảng 3-4 lần cho thật
sạch.
- Nhúng vào cồn 90
0
và hơ nhanh
qua ngọn lửa.
- Nhanh chóng đặt quả lan vào
đóa petri vào đậy nắp lại.
Download»
Khoá luận tốt nghiệp – 2005 Vật liệu – Phương pháp
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 18
- Sau đấy quả lan sẽ được cắt gọt 2 đầu, và dùng dao mổ xẻ dọc
quả lan, tách làm 2.
- Dùng dao giữ phần vỏ quả, dùng kẹp lấy hết hột ra một đóa petri.
- Gieo hạt vào môi trường.
- Thí nghiệm được lặp lại 2 lần, mỗi lần một quả.
d. Chỉ tiêu theo dõi.
Tỷ lệ hạt sống sau khi gieo.
Tình trạng hạt gieo: Xanh.
Trắng.
Hóa nâu.
3.2 Thí nghiệm 2: Tìm môi trường thích hợp để gieo hạt.
a. Mục đích thí nghiệm.
Tìm môi trường khoáng thích hợp để gieo hạt.
b. Môi trường gieo hạt.
- Môi trường MS không bổ sung kích thích tố, ký hiệu M
o
.
- Môi trường MS bổ sung 1ppm BA, ký hiệu là M
1
.
- Môi trường Knudson’C không bổ sung kích tố ký hiệu K
o
.
- Môi trường Knudson’C bổ sung 1ppm BA, ký hiệu K
1
.
c. Bố trí thí nghiệm.
- Các quả lan đã được khử trùng từ thí nghiệm 1, sẽ được gieo
vào 4 loại môi trường thử nghiệm.
- Theo dõi và ghi nhận kết quả sau 2-4 tuần
- Thí nghiệm được lặp lại 2 lần , mỗi lần 15 chai 100ml.
d. Chỉ tiêu theo dõi.
- Thời gian hạt nẩy mầm.
- Môi trường thích hợp gieo hạt Dendrobium.

.
c. Bố trí thí nghiệm.
- Những mẫu hạt đã phình to ra, có màu xanh, không nhiễm từ thí
nghiệm 2.
- Theo dõi và ghi nhận kết quả sau 2-4 tuần nuôi cấy.
- Thí nghiệm được lặp lại 3 lần, mỗi lần 8 chai 100ml.
d. Chỉ tiêu theo dõi
- Thời gian tạo protocorm.
- Môi trường tạo protocorm tốt nhất.
- Tình trạng phát triển của prorocorm. Download»
Khoá luận tốt nghiệp – 2005 Vật liệu – Phương pháp
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 22
3.4 Thí nghiệm 4: Nhân protocorm
a. Mục đích thí nghiệm.
So sánh sự nhân protocorm trên cùng một loại môi trường với nồng độ kích

- Màu sắc và chiều dài lá.
- Thời gian xuất hiện rễ đầu tiên.
Download»
Khoá luận tốt nghiệp – 2005 Vật liệu – Phương pháp
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 23
3.5 Thí nghiệm 5: Ra rễ
a. Mục đích thí nghiệm.
Khảo sát môi trường thích hợp cho sự ra rễ.
b. Môi trường nuôi cấy.
- Môi trường Knudson’C đối chứng không bổ sung kích thích tố
ký hiệu K
0
.
- Môi trường Knudson’C bổ sung NAA với nồng độ
0.1ppm:0.5ppm:1ppm, ký hiệu là KN
1
, KN
2
Download»
Khóa luận tốt nghiệp – 2005 Kết quả – Thảo luận
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 30

PHẦN IV: KẾT QUẢ – THẢO LUẬN

I. Thí nghiệm 1: Khử trùng mẫu.
Quả lan sau khi được khử trùng, gieo hạt vào môi trường nuôi cấy, sau 1 tuần
kết quả ghi nhận được như sau: Bảng 1: Kết quả khử trùng mẫu bằng Ca(OCl)
2
, sau 1 tuần.

Sống và không nhiễm Chết và không nhiễm Nhiễm NT Số lần đốt
Số lượng Tỷ lệ
(%)
Số lượng Tỷ lệ
(%)
Số lượng Tỷ lệ
(%)
1 1 16 100 0 0 0 0
2 2 10 62,5 6 37,5 0 0

Bảng 2: Kết quả khử trùng mẫu bằng phương pháp đốt, sau 1 tuần.
Mẫu hạt lan được gieo vào môi trường, sau 1 tuần khử trùng, mẫu bắt
đầu có những biểu hiện khác nhau:

3 9 15 16 100 0 0 0 0
4 9 20 10 62,5 6 37,5 0 0
Download»

Trích đoạn PHAĂN V: KÊT LUAƠN – ĐEĂ NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status