So sánh khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống cải xanh trong vụ đông xuân năm 2010 2011 tại huyện bố trạch tỉnh quảng bình - Pdf 19

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rau xanh là loại thực phẩm chứa nhiều chất dinh dưỡng, là nhu cầu
không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn hằng ngày của người dân Việt Nam,
là nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Tục ngữ
có câu “Cơm không rau như đau không thuốc”. Rau cung cấp cho cơ thể
những chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin, các axít hữu cơ, chất
khoáng… Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng nhu cầu rau bình quân
hằng ngày của mỗi người cần 250 - 300g/ngày/người tức là 90 -
110kg/người/năm. Như vậy tổng nhu cầu rau của nước ta sẽ là 7.650 –
9.180 nghìn tấn.
Việt Nam là thành viên của WTO, là một thị trường lớn với 5 tỷ
người tiêu dùng, chiếm 95% giá trị thương mại thế giới, kim ngạch nhập
khẩu nông sản trị giá 635 tỷ USD/năm, rau là một trong những mặt hàng
nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam có giá trị và chiến lược lâu dài.
Theo đề án phát triển của rau, hoa, quả và cây cảnh do chính phủ phê duyệt
trong giai đoạn 2000-2010 đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Phấn
đấu đến năm 2010 đạt mức tiêu thụ bình quân đầu người 105,9
kg/người/năm, trong đó kim ngạch xuất khẩu rau 690 triệu USD[1].
Ngày nay khi đời sống ngày càng cao, dân số tăng nhanh nên nhu
cầu sử dụng rau ngày càng cao cả về số lượng lẫn chất lượng, trong khi đó
diện tích trồng rau ngày càng bị thu hẹp vì vậy việc nâng cao chất lượng là
vấn đề cấp bách trong ngành phát triển nông nghiệp đặc biệt là sản xuất rau
an toàn.
Tỉnh Quảng Bình có nhiều tiềm năng để phát triển ngành sản xuất
rau, năng suất rau khoảng 95 đến 100 tạ/ha, UBND tỉnh đã ban hành kế
hoạch hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau an toàn từ nay đến
năm 2015. Ở các huyện, thành phố đều trồng rau song chủ yếu tập trung ở
các huyện vùng cát ven biển như Bố Trạch, Quảng Trạch, Lệ Thủy và
Đồng Hới [8]. Nhiều nơi đã hình thành được cánh đồng sản xuất rau đạt 50

phát từ những vấn đề đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "So sánh
khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống cải
xanh trong vụ Đông Xuân năm 2010- 2011 tại huyện Bố Trạch tỉnh
Quảng Bình."
2
1.2 Mục đích, yêu cầu
1.2.1. Mục đích
- Xác định được giống rau cải phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh
Quảng Bình, có năng suất, chất lượng nhằm tăng thu nhập cho người sản
xuất và đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.
1.2.2. Yêu cầu
- Theo dõi điều kiện thời tiết, khí hậu vùng thí nghiệm.
- Nắm rõ đặc điểm giống cải, tính chất đất đai tại khu vực thí nghiệm.
1.3. Ý nghĩa
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Bổ sung các kết quả nghiên cứu về sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất
lượng của các giống rau cải tại Quảng Bình.
- Bổ sung dữ liệu về điều kiện sản xuất rau an toàn tại Bố Trạch, Quảng
Bình.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Làm cơ sở để xây dựng và hoàn thiện mô hình sản xuất các giống cải
xanh theo hướng VietGAP tại Bố Trạch, Quảng Bình.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Các nghiên cứu về rau cải
2.1.1. Nguồn gốc, phân bố và phân loại
Các loại rau cải không cuốn có tên khoa học là Brasica chinensis họ
thập tự: Cruciferae.
Rau cải có nguồn gốc từ Địa Trung Hải ưa khí hậu ôn đới. Từ lâu rau

bẹ và nhóm cải thìa), lá có màu xanh vàng đến xanh đậm ăn có vị cay nên
gọi là cải cay, dễ để giống. Nhóm cải xanh có thể dùng nấu canh, luộc,xào
và muối dưa, đặc biệt ăn lẩu vì có vị cay rất hợp khẩu vị nên nhóm này
được trồng rất phổ biến ở các vùng trồng gần như quanh năm.
Nhóm cải xanh gồm nhiều giống địa phương, những giống cải xanh
ngon như nhóm cải xanh lá vàng, cải xanh Thanh Mai, Vĩnh Tuy, Thừa
Thiên Huế và nhiều địa phương khác. Qua nhiều năm thuần chủng nên rất
dễ trồng và tự giống tại địa phương ở tất cả các vùng.
* Nhóm cải thìa/ cải trắng (Brassica chinensis L.)
Nhóm cải thìa có đặc điểm dễ phân biệt đó là hình lóng máng, màu
trắng, phiến lá hơi tròn, cây mọc gọn. Đây là nhóm cải được trồng rất phổ
biến, đặc biệt là những vùng đất nghèo dinh dưỡng. Khả năng thích ứng
rộng (10- 27
0
C) nên có thể trồng được quanh năm. Nhóm này có thời gian
sinh trưởng ngắn sau trồng 30- 50 ngày có thể thu hoạch, dễ để giống, có
thể trồng xen, gieo lẫn các loại rau khác và cải xanh chống giáp vụ rau. Tuy
nhiên cải thìa tỷ lệ nước cao, ăn nhạt không dùng muối dưa, chỉ dùng để
luộc, xào hoặc nấu canh.
Nhiều giống cải thìa có năng suất cao như cải trắng Nhật Tân, cải
trắng Thanh Mai, cải trắng Trung Kiên, cải trắng Tai ngựa, cải trắng Lá
thẫm
2.1.2. Đặc điểm thực vật học của cây rau cải
- Rễ: cây cải thuộc bộ rễ chùm, phân nhánh, bộ rễ ăn nông trên tầng
đất màu, tập trung nhiều nhất ở tầng đất 0- 20cm.
- Lá: lá mọc đơn, không có lá kèm. Những lá dưới thường tập trung,
bẹ lá to, lá rất lớn. Bộ lá khá phát triển, lá to nhưng mỏng nên chịu hạn kém
và dễ sâu bệnh phá hại.
- Hoa: hoa có dạng có dạng chùm, không có lá bắc, hoa nhỏ, đều,
mẫu 2, tràng hoa và đài hoa đều 4 cái trong. Bộ nhị gồm hai lá noãn dĩnh

suất tăng 36,34%. Tuy nhiên nếu mưa kéo dài hay đất úng nước cũng ảnh
hưởng xấu đến sinh trưởng, phát triển của cây cải.
- Ánh sáng: Là yếu tố quan trọng của cây cải, cây cải có nguồn gốc ôn đới
nên yêu cầu ánh sáng thích hợp với thời gian chiếu sáng ngày dài, cường
độ ánh sáng yếu.
- Đất và dinh dưỡng: Cây cải không kén đất, nó có thể sinh trưởng phát
triển cho năng suất cao ở các loại đất khác nhau, từ đất cát pha đến đất thịt
nặng. Nhưng thích hợp nhất là đất giàu dinh dưỡng, khả năng giữ ẩm tốt.
Về dinh dưỡng cây cần nhiều đạm, lân, kali, trong đó kali được sử dụng
nhiều nhất. Theo số liệu của viện dinh dưỡng rau Gross beerenhe (Đức) thì
các chất dinh dưỡng chính mà các cây họ thập tự cần là N, P
2
O
5
, K
2
O. Phân
hữu cơ có tác dụng rất lớn trong quá trình sinh trưởng phát triển. Tuy nhiên
cải có thời gian sinh trưởng ngắn nên cần các loại phân dễ tiêu, dễ phân
giải, cung cấp dần những yếu tố cần thiết cho cây[5].
6
2.1.4. Giá trị của cây cải xanh
* Giá trị dinh dưỡng
Đây là một trong những loại cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, thời
gian sinh trưởng ngắn. Trong 100 gam tươi cải xanh có chứa 23 calo; 2,2g
protein; 3,8 g hydratcacbon; 174 mg Ca; 34 mg Phospho; 4,4 mg sắt; 28
mg Natri; 309 mg Kali; 64mg Vitamin C và 1670 I.U Vitamin A [14], [15].
* Giá trị kinh tế
Ngày nay trong xu hướng phát triển của xã hội, với sự tăng nhanh
của dân số đã tạo nên một nhu cầu lớn về lương thực và thực phẩm. Sự

trồng Vạn Thiên Quảng Tây Trung Quốc. Đơn vị nhập khẩu và phân phối:
Công ty giống rau quả trung ương số 2 Phạm Ngọc Thạch Đống Đa Hà
Nội. Giống sinh trưởng khỏe, ngắn ngày. Bẹ lá to, dầy, màu xanh sáng, phiến
lá tròn màu xanh nhạt. Là giống chịu nhiệt nên trồng được quanh năm, vụ
chính là vụ Đông Xuân. Thời gian từ lúc gieo đến lúc thu hoạch 30- 35 ngày.
* Giống cải xanh lá vàng: Công ty TNHH Giống cây trồng Hoàng Nông
GS seed’s số 92/81 Lạc Long Quân - Nghĩa Đô - Cầu Giấy- Hà Nội.
- Sinh trưởng khỏe, kháng sâu bệnh, có chất lượng phẩm chất và năng suất
cao. Là giống cải ăn lá ngắn ngày, có dạng lá hình thìa, màu lá xanh vàng
ăn ngon ngọt có vị hăng. Thời gian từ lúc trồng đến thu hoạch: 35- 38 ngày,
thời vụ gieo trồng gần như quanh năm chỉ trừ vụ rét.
* Giống cải xanh mỡ số 6: Công ty cổ phần giống cây trồng miền Nam.
282 Lê Văn Sỹ - Tân Bình- Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Sinh trưởng mạnh, chống chịu tốt với điều kiện bất lợi. Ít nhiễm bệnh thối
nhũn và thối hạch. Lá mỏng, răng cưa đều, phiến to, màu xanh vàng, lá dài, ít
cay có thể ăn sống hay nấu chín. Trổ hoa muộn hơn 50 ngày sau khi gieo.
- Thời gian lúc trồng đến lúc thu hoạch là 40 ngày. Năng suất trung bình
25-30 tấn/ha.
* Giống cải mơ Hoàng Mai: Công ty TNHH Giống cây trồng Hoàng Nông
- Là giống cải mơ đặc biệt có bộ lá to, màu lá xanh vàng, năng suất tốt
phẩm chất ngon. Thời vụ gieo trồng từ tháng 2- tháng 11, từ lúc trồng đến
lúc thu hoạch là 38- 40 ngày.
* Giống cải xanh mỡ cao sản: Công ty Giống Mới 10/346 Bạch Đằng-
Chương Dương - Hoàn Kiếm - Hà Nội.
8
- Là giống kháng thối nhũn, độ đồng đều cao, chậm trỗ hoa, không phân
nhánh, lá màu xanh mỡ, có vị hăng nồng ấm. Thời vụ trồng quanh năm, từ
lúc trồng đến lúc thu hoạch là 40- 45 ngày.
* Giống cải xanh- lá tàu chuối: Công ty TNHH Giống cây trồng Vạn Thiên
Quảng Tây Trung Quốc. Đơn vị nhập khẩu và phân phối: Công ty giống

Hoa Kỳ 11.534 77,42 0,893
9
F(*): ước tính năm 2008; (*): số liệu năm 2008 (Nguồn FAO, 4/2009)
Theo số liệu thống kê của tổ chức FAO thì diện tích đất trồng rau
trên thế giới hiện đạt khoảng 15 triệu ha/năm, năng suất bình quân đạt 35-
40 tấn/ha, sản lượng đạt khoảng 600 triệu tấn, bình quân đầu người 85 kg
rau các loại/năm, bao gồm gần 120 chủng loại rau, trong đó có 14 loại rau
chính chiếm diện tích trồng khoảng 500.000 ha trở lên. Nhiều nước trên thế
giới ngày có nhiều chủng loại rau, tăng diện tích và năng suất để đáp ứng
nhu cầu về rau xanh ngày một tăng. Thời kỳ 2000 – 2010 nhu cầu nhập
khẩu rau các nước tăng 3,6% trong khi mức tăng sản lượng rau quả chỉ đạt
2,8%/năm.
Qua Bảng 2.1 ta thấy Châu Á dẫn đầu về diện tích, sản lượng, năng
suất rau. Đứng đầu là Trung Quốc với sản lượng rau 148,91 tấn chiếm
60,45% tổng sản lượng rau toàn Thế giới. Ấn Độ là quốc gia có sản lượng
rau lớn thứ 2 thế giới, chỉ sau Trung Quốc, sản lượng rau của Ấn Độ chiếm
11,37 % sản lượng rau toàn Thế giới đạt 28 triệu tấn, diện tích trồng rau
chiếm 2,275000 ha. Việt Nam sản lượng rau có tăng nhưng đạt ở mức trung
bình của thế giới.
2.2.2. Ở Việt Nam
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng rau ở Việt Nam
Năm
Diện tích
(1000ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
2000 464,6 123,38 5732,1
2001 514,6 131,71 6777,6
2002 560,6 133,52 7485,0

1000 tấn
1999 2005 1999 2005 1999 2005
Cả nước 459,6 635,1 126,0 151,8 5792,2 9640,3
1 ĐBSH 126,7 158,6 157,0 179,9 1988,9 2852,8
2 TDMNBB 60,7 91,1 105,1 110,6 637,8 1008,0
3 BTB 52,7 68,5 81,2 97,8 427,8 670,2
4 DHNTB 30,9 44,0 109,0 140,1 336,7 616,4
5 TN 25,1 49,0 177,5 201,7 445,6 988,2
6 ĐNB 64,2 59,6 94,2 129,5 604,9 772,1
7 ĐBSCL 99,3 164,3 136,0 166,3 1350,5 2732,6
(Nguồn www.rauhoaquavietnam.vn, 2011)
Qua Bảng 2.3 ta thấy cả nước chia thành 7 vùng sinh thái nông
nghiệp khác nhau nên tạo ra sự phong phú đa dạng trong sản xuất nông
11
nghiệp cũng như trong sản xuất rau nói riêng. Chủng loại rau rất phong
phú, đa dạng. Các loại rau ăn lá như cải xanh, rau muống, cải thảo, cải làn,
bắp cải, cải ngọt, cải bó xôi chiếm ưu thế về diện tích và sản lượng chiếm
khoảng 70 –80% diện tích, có tỷ suất hàng hoá cao. Tính đến năm 2005,
tổng diện tích trồng rau các loại trên cả nước đạt 635,8 nghìn ha, sản lượng
9640,3 ngàn tấn; so với năm 1999 diện tích tăng 175,5 ngàn ha (tốc độ tăng
bình quân 3,61%/năm), sản lượng tăng 3071,5 ngàn tấn (tốc độ tăng bình
quân 7,55%/năm).Vùng sản xuất rau lớn nhất là ĐBSH (chiếm 24,9% về
diện tích và 29,6% sản lượng rau cả nước), tiếp đến vùng ĐBSCL (chiếm
25,9% về diện tích và 28,3% sản lượng rau của cả nước). Các vùng trồng
rau tập trung chủ yếu bao gồm:
- Vùng rau chuyên canh ven thành phố và khu công nghiệp, chiếm 38 –
40% diện tích và 45 – 50% sản lượng. Tại đây rau sản xuất phục vụ cho
tiêu dùng của cư dân tập trung là chủ yếu. Chủng loại rau tại vùng này này
rất phong phú và năng suất cũng cao hơn.
- Vùng rau luân canh với cây lương thực được trồng chủ yếu trong vụ Đông

(tạ)
Toàn tỉnh 5772 14,04 81060,5
1 Đồng Hới
251 6,18 1550,1
2 Minh Hóa
249 7,37 1836,1
3 Tuyên Hóa
356 6,43 2288,3
4 Quảng Trạch
1445 5,91 8534
5 Bố Trạch
1728 10,7 18609
6 Quảng Ninh
503 74,7 37550
7 Lệ Thủy
1240 8,62 10693
( Nguồn:Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình 2010)
Qua Bảng 2.4 ta thấy năm 2009 diện tích trồng rau các loại của tỉnh
Quảng Bình đạt 5772 ha, sản lượng là 81060,5 tạ và năng suất 14,04 tạ/ha.
Trong bảy huyện của Tỉnh thì Bố Trạch là huyện có diện tích cao nhất,
nhưng sản lượng và năng suất của huyện Quảng Ninh lại cao nhất là 74,7
tạ/ha. Năng suất rau của tỉnh còn ở mức thấp so với bình quân chung cả
nước.
2.3. Tình hình nghiên cứu các giống rau ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nhiệt đới có thể tiến hành trồng rau quanh
năm, ngành rau nước ta đã phát triển từ khá lâu và đóng góp khoảng 3%
trong tổng giá trị ngành nông nghiệp. Cùng với sự tiến bộ của xã hội thì
công tác nghiên cứu chọn tạo ngày càng nâng cao. Để nâng cao năng suất
thì giống là yếu tố quyết định hàng đầu. Vì vậy công tác tuyển chọn, so
sánh các loại giống mới đã được xúc tiến và có những thành tựu nhất định,

chất lượng đáp ứng cho nhu cầu trong cả nước.
14
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thí nghiệm gồm 8 giống tương ứng 8 công thức, trong đó công thức
I được sử dụng làm đối chứng (Đ/C)
Bảng 3.1: Danh sách các giống tham gia thí nghiệm
Công thức Giống Nguồn gốc
I (Đ/C) Cải bẹ xanh mỡ Giống địa phương
II
Cải xanh lùn
Thanh Giang
Công ty TNHH Giống cây trồng Vạn
Thiên - Quảng Tây - Trung Quốc
III Cải xanh - lá vàng
Công ty TNHH Giống cây trồng Hoàng
Nông- Hà Nội
IV Cải xanh mỡ số 6 Công ty Miền Nam
V Cải mơ Hoàng Mai
Công ty TNHH Giống cây trồng Hoàng
Nông- Hà Nội
VI Cải bẹ xanh cao cây Công ty Trang Nông
VII
Cải xanh mỡ cao
sản
Công ty Cổ Phần Giống Mới
VIII
Cải xanh - tàu lá

V
a
VII
a

V
b
III
b
VII
b
I
b
IV
b
VIII
b
II
b
VI
b
VI
c
II
c
V
c
VIII
c
III

. Sau 20 ngày tuổi
nhổ cây con đem trồng với khoảng cách:
- Cây- cây: 15cm
- Hàng- hàng: 20cm
+ Bón phân: Lượng phân bón cho 1 sào (500m
2
)
- 15kg vôi (rải trước khi gieo 10 ngày)
16
- 5 tạ phân chuồng hoai; 7,5kg super lân; 3 kg kali clorua; 3 kg đạm urê.
Bón lót: Toàn bộ phân chuồng hoai mục, super lân.
Bón thúc: 3 lần
Lần 1: Sau trồng 10-15 ngày: 1/2 lượng phân đạm urê + 1/2 lượng
kali clorua.
Lần 2: Sau trồng 20 ngày : 1/4 lượng phân đạm urê + 1/4 lượng kali
clorua.
Lần 3: Sau trồng 25 ngày bón lượng phân còn lại.
Hoà vào nước và tưới [9]
+ Chăm sóc:
- Thời kỳ cây con: Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng dầu hoả để
tránh kiến tha hạt, tưới nước giữ ẩm, làm cỏ bón phân.
- Thời kỳ ở ruộng sản xuất: Tưới nước, nhổ cỏ kết hộ với xới xáo đất,
phòng trừ sâu bệnh. Phòng trừ sâu bệnh được theo dõi thường xuyên để kịp
thời phát hiện các loại sâu bệnh hại và biện pháp ngăn chặn tránh gây thiệt hại
lớn.
+ Thu hoạch:
Khi thấy cây sắp có ngồng (trục hoa hay đồng hoa) thì thu ngay tránh
không để cải ra hoa.
3.5.3. Các chỉ tiêu theo dõi
* Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi sự nảy mầm

+ Chiều cao cây (cm): Tiến hành đo chiều cao cây từ mặt đất tự nhiên đến
mút lá cao nhất.
+ Số lá trên cây và tốc độ ra lá trên cây
+ Đường kính tán: Tiến hành đo đường kính tán tại điểm cây có đường
kính tán lớn nhất.
+ Chiều dài khi thu hoạch (cm): Chọn một lá trên cây phát triển tốt, cân đối
không bị rách, không bị sâu bệnh, dùng thước chia vạch cm đặt mốc 0 cm
sát gốc lá, dựng thước dọc theo chiều phát triển của lá. Lấy tay vuốt nhẹ
cho lá thẳng nằm sát trên thước, quan sát đỉnh lá trên vạch thước ta được
chiều dài của lá.
+ Chiều rộng lá khi thu hoạch: Chọn một lá trên cây phát triển tốt, cân đối
không bị rách, không sâu bệnh. Đặt thước đo áp sát trên mặt lá chổ rộng
18
nhất của lá lớn nhất, quan sát mép lá bên này tới mép lá bên kia trên vạch
thước.
* Chỉ tiêu sâu bệnh:
+ Phương pháp điều tra:
- Đối với sâu hại:
Điều tra 7 ngày một lần theo quy định của cục BVTV trên toàn bộ ô
thí nghiệm và đếm số sâu trong 5 điểm, lấy mẫu điều tra theo đường chéo
khung 20 x 20 cm của một ô thí nghiệm.
Tổng số con phát hiện
Mật độ (con/m
2
) =
Tổng diện tích điều tra
- Đối với bệnh hại: Tiến hành điều tra theo điểm chéo gốc. Sự phát sinh
phát triển, mức độ bệnh bằng chỉ tiêu tỷ lệ bệnh.
Số lượng cây bị bệnh
Tỷ lệ bệnh (%) = x100

2
. Khối lượng TB cây x 10.000 m
2
NSLT (tấn/ha)=
1000000
Năng suất 1m
2
(kg) x 10000 x 0,8
NSSH (tấn/ha) =
1000

Khối lượng TB phần ăn được 1m
2
(kg) x 10000 x 0,8
NSKT (tấn/ha) =
1000
3.5.4. Phương pháp xử lý số liệu
- Xử lý phương sai một nhân tố (One way Anova) sau đó so sánh LSD
bằng phần mềm Statistic 9.0.
- Các số liệu trung bình và vẽ đồ thị theo chương trình Microsoft Excel
2003.
3.5.5. Điều kiện thí nghiệm
* Đất, nước và phân chuồng
+ Các yếu tố đất, nước và phân chuồng được phân tích các chỉ tiêu về thành
phần dinh dưỡng, hàm lượng kim loại nặng để xác định điều kiện phù hợp
sản xuất rau an toàn theo hướng VietGAP.
20
Các công thức được bố trí trên đất cát pha, trồng rau quanh năm, tưới
tiêu chủ động tại xã Đồng Trạch, huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.
Bảng 3.2: Hàm lượng các chất dinh dưỡng, kim loại nặng trong đất,

µg/l
0,255
5 Hàm lượng Kẽm
µg/l
248,4
6 Hàm lượng Arsen
µg/l
0,287
7 Hàm lượng Thuỷ Ngân
µg/l
0,308
III Phân chuồng
Hàm lượng Nitrat mg/kg 20,4
* Điều kiện khí hậu thời tiết
Khí hậu thời tiết là trong một những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến
sinh trưởng phát triển của cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng, chi
21
phối cơ cấu cây trồng và mùa vụ. Nghiên cứu diễn biến thời tiết khí hậu
chúng ta bố trí thời vụ gieo trồng hợp lý, nhằm tận dụng những thuận lợi
cũng như hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do thiên tai gây ra.
Bảng 3.3: Diễn biến khí hậu thời tiết vụ Đông Xuân 2010- 2011 tại tỉnh
Quảng Bình
Chỉ
tiêu
Tháng
Nhiệt độ (T
0
C) Nắng Mưa Ẩm độ (%)
TB Max Min
Số

C. Mặt khác những ngày cuối tháng 1 có nhiều đợt không
khí lạnh và không khí lạnh tăng cường trùng vào giai đoạn gieo hạt trong
vườn ươm, lượng mưa 543mm, có đến 19 ngày mưa, ẩm độ là 87%.
Tháng 2 nhiệt độ cao hơn tháng 1 nhưng không đáng kể, với lượng
mưa là 309mm, với 11 ngày nắng, nhiệt độ trung bình là 18,6
0
C, ẩm độ
90%, điều kiện này khá thuận lợi cho sự sinh trưởng cây con trong vươn
ươm cũng như giai đoạn bén rễ hồi xanh khi đưa ra trồng ngoài ruộng. Tuy
nhiên đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh của một sâu bệnh hại
như sâu tơ, thối nhũn…
Qua tháng 3, với ẩm độ được duy trì 90%, trong tháng này lượng
mưa tăng tập trung vào những ngày đầu tháng tạo cung cấp độ ẩm thường
xuyên cho cải xanh ở thời kỳ trải lá, giao tán.
23
Tóm lại thời tiết vụ Đông Xuân 2010-2011 tại tỉnh Quảng Bình tương đối
thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của cây rau cải, nhiều đợt không khí
lạnh và không khí lạnh tăng cường chỉ kéo dài tổng thời gian sinh trưởng
của các giống từ 3- 5 ngày.
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống rau cải
Sinh trưởng của các loài thực vật nói chung và cây cải nói riêng là
kết quả hoạt động của toàn bộ chức năng bộ phận cây và quá trình sinh lý
sinh hóa trong cây. Mỗi loài cây có một chu kỳ sống nhất định, chu kỳ này
được bắt đầu bằng quá trình nảy mầm tiếp đó là một quá trình biến đổi sinh
lý sinh hóa và biến đổi về hình thái. Thông qua quá trình trao đổi chất bên
trong làm cho cây lớn lên và hoàn thiện chu kỳ sống của chúng.
Bảng 4.1: Thời gian trải qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển
của các giống rau cải xanh

đều là các giống có tổng thời gian sinh trưởng dao động từ 42 - 45 ngày.
Với thời gian sinh trưởng đó thì các giống này phù hợp với việc bố trí gieo
cấy ở vụ Xuân Hè trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
25

Trích đoạn Một số chỉ tiêu về hình thái của cải xanh ở giai đoạn thu hoạch Tình hình sâu bệnh hại trên các giống rau cải xanh thí nghiệm Các chỉ tiêu về phẩm chất của các giống cải khi thu hoạch 1 Khả năng tích lũy vật chất khô của các giống khi thu hoạch Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống cải xanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status