Đề tài
“Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
đầu tư vào tài sản lưu động của công
ty Cổ phần thương mại dược phẩm
Quốc tế”
1
1
MỤC LỤC
2
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang có những bước phát
triển vượt bậc. Sự phát triển này được đánh dấu bằng sự kiện Việt Nam ra nhập
tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2007. Sự phát triển của nền kinh tế đã tạo
ra lợi thể to lớn cho các Doanh nghiệp trong nước, nhưng cùng với những lợi thế
đó thì những thách thức các Doanh nghiệp gặp phải là không nhỏ. Nền kinh tế
mở cửa tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp trong nước có cơ hội hợp tác thương
mại với các Doanh nghiệp thuộc các quốc gia trên thế giới, sự cạnh tranh giữa
các Doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, giữa hàng sản xuất trong nước và
hàng nhập ngoại ngày càng gay gắt. Môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt
đòi hỏi các Doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện về mọi mặt.
Hoạt động có hiệu quả và tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh là
điều kiện quyết định đến sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp, để đảm bảo
Doanh nghiệp không chỉ hoạt động có hiệu quả mà còn nâng cao đời sống cán bộ
nhân viên và hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước. Hiệu quả hoạt động là mục tiêu
quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Một trong
những nhân tố quan trọng tác động lớn đến kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của Doanh nghiệp là “ Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào tài sản lưu động”.
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động đảm bảo cho hoạt động thường xuyên của
Doanh nghiệp, bảo hiểm cho Doanh nghiệp. Trong một Doanh nghiệp vốn được
tài trợ cho tài sản lưu động và tài sản cố định, tỷ lệ tài trợ phụ thuộc vào loại
VÀO TÀI SẢN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Vốn đầu tư vào tài sản lưu động của Doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về Doanh nghiệp
Theo luật Doanh nghiệp số 13/1999/QH10 ngày 12 tháng 6 năm 1999:
“Doanh nghiệp” là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản ổn định, có trụ sở
giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của Pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Doanh nghiệp là một chủ thể độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động
kinh doanh trên thị trường làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Doanh nghiệp là một
cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân. Có nhiều hoạt động kinh
tế chỉ có thể thực hiện được bởi các Doanh nghiệp chứ không phải các cá nhân.
Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của
quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên
thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Theo quy định của Pháp luật, Doanh nghiệp được tự chủ đăng ký và thực
hiện kinh doanh các ngành nghề được Pháp luật cho phép. Đối với Doanh nghiệp
kinh doanh các ngành, nghề mà luật, pháp lệnh hoặc nghị định quy định phải có
điều kiện thì Doanh nghiệp chỉ được kinh doanh các ngành nghề đó khi có đủ
các điều kiện quy theo định. Đối với Doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề
mà luật, pháp lệnh hoặc nghị định đòi hỏi phải có vốn pháp định hoặc chứng chỉ
hành nghề thì Doanh nghiệp chỉ được đăng ký kinh doanh khi có đủ vốn hoặc
chứng chỉ hành nghề theo quy định của Pháp luật.
Mỗi Doanh nghiệp đều có những quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ
theo quy định của Pháp luật.
5
5
1.1.2 Vốn của Doanh nghiệp
Vốn là điều kiện không thể thiếu để một Doanh nghiệp được thành lập và
tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong mọi loại hình Doanh nghiệp
vốn phản ánh nguồn lực chính để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Để sản xuất,
b. Vốn điều lệ: của Doanh nghiệp là số vốn được ghi trong điều lệ của
Doanh nghiệp, số vốn này do các chủ sở hữu góp. Vốn điều lệ không ít hơn vốn
pháp định.
1.1.3.2 Phân loại theo nguồn gốc hình thành vốn
Phân loại vốn theo nguồn gốc hình thành thì vốn gồm vốn chủ sở hữu và
vốn vay.
a. Vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp
Đối với mọi loại hình Doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp
bao gồm ba bộ phận chủ yếu:
- Vốn góp ban đầu
- Lợi nhuận không chia
- Tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới
Vốn góp ban đầu:
Khi Doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ Doanh nghiệp cũng phải
có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông - chủ sở hữu góp. Khi nói đến
nguồn vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức sở
hữu của Doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình
thức tạo vốn của bản thân Doanh nghiệp.
Đối với Doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của
Nhà nước. Chủ sở hữu của các Doanh nghiêp Nhà nước là Nhà nước. Đối với
công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để thành lập
công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiêm hữu hạn
trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ.
Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia
Quy mô số vốn ban đầu của chủ Doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng,
tuy nhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của
Doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu Doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả thì Doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi
7
7
8
8
tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ đối với các Doanh
nghiệp mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế. Trong một sô Doanh nghiệp nguồn
vốn tín dụng thương mại dưới dạng các khoản phải trả có thể chiếm tới 20%
tổng nguồn vốn, thậm chí có thể chiếm tới 40% tổng nguồn vốn.
Tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ rẻ,
tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh; hơn nữa, nó còn tạo khả năng mở rộng
các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền.
Phát hành trái phiếu công ty
Trái phiếu là tên chung của các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn. Trước
khi phát hành trái phiếu Doanh nghiệp cần xem xét loại trái phiếu nào phù hợp
với nhất với điều kiện cụ thể của Doanh nghiệp và tình hình trên thị trường tài
chính. Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì có liên quan đến
chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu.
1.1.3.3 Phân loại theo tính chất luân chuyển vốn
Hiện nay, theo cách phân loại này các Doanh nghiệp phân loại vốn chủ
yếu làm hai loại là vốn đầu tư vào tài sản cố định và vốn đầu tư vào tài sản lưu
động.
a. Vốn đầu tư vào tài sản cố định của Doanh nghiệp
“ Vốn đầu tư vào tài sản cố định ” là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài
sản cố định trong Doanh nghiệp.
Căn cứ vào tính chất và vai trò tham gia vào quá trình sản xuất, tư liệu sản
xuất của Doanh nghiệp được chia thành hai bộ phận là tư liệu lao động và đối
tượng lao động. Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu mà nó có đặc
điểm cơ bản là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật chất không thay
đổi từ chu kỳ sản xuất đầu tiên đến khi bị sa thải ra khỏi quá trình sản xuất. Mọi
tư liệu lao động là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống
gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay
một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả
vốn đầu tư vào tài sản lưu động của Doanh nghiệp.
Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu
kỳ sản xuất, đến chu kỳ sản xuất sau lại phải sử dụng các đối tượng lao động
khác. Phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để hợp thành
10
10
thực thể của sản phẩm. Vốn đầu tư vào tài sản lưu động được dùng để chỉ tài sản
lưu động trong Doanh nghiệp. Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và
thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Vốn kinh doanh của
Doanh nghiệp bao gồm vốn cố định và vốn lưu động, như vậy vốn lưu động là
giá trị còn lại của vốn kinh doanh sau khi đã trừ đi vốn cố định.
Trên bảng cân đối kế toán vốn đầu tư vào tài sản lưu động được thể hiện ở
các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn
kho.
Các khoản mục trong phần vốn đầu tư vào tài sản lưu động trên bảng cân
đối kế toán:
Tiền: bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Đây
là loại có tính thanh khoản cao nhất.
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: là các khoản đầu tư tài chính ngắn
hạn, góp vốn liên doanh, cho vay vốn… có thời hạn thu hồi không quá một năm.
Khoản này có tính lưu động mạnh thứ hai sau tiền.
Các khoản phải thu: là những khoản tiền mà khách hàng và những bên
liên quan đang nợ Doanh nghiệp tại thời điểm lập bảng cân đối kế toán. Các
khoản này sẽ được trả trong thời hạn ngắn. Khoản mục thuế giá trị gia tăng được
khấu trừ cũng là tài sản lưu động của Doanh nghiệp vì chỉ tiêu này phản ánh số
thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ và số thuế giá trị gia tăng được cơ quan
có thẩm quyền chấp nhận hoàn lại nhưng chưa hoàn lại.
Hàng tồn kho: bao gồm vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hoá trong kho,
hàng gửi bán, hàng đang đi đường, sản phẩm dở dang… Những tài sản này có
thời gian luân chuyển ngắn, thường không quá một năm nên được xếp vào tài
nhiên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất, hàng mua đang đi đường, thành phẩm
trong kho…
1.1.4.2 Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên là giá trị chênh lệch giữa
vốn dài hạn và vốn đầu tư vào tài sản cố định hoặc giữa vốn đầu tư vào tài sản
lưu động với nợ ngắn hạn.
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên = vốn dài hạn- vốn đầu tư
vào tài sản cố định
12
12
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên = vốn đầu tư vào tài sản
lưu động - nợ ngắn hạn
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên có thể nhận các giá trị sau:
- Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên > 0
Vốn dài hạn > vốn đầu tư vào tài sản cố định
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động > nợ ngắn hạn
Trong trường hợp này việc tài trợ từ các nguồn vốn là tốt. Toàn bộ tài sản
cố định được tài trợ từ nguồn vốn dài hạn, có nghĩa là một cách ổn định, Doanh
nghiệp không những đủ vốn tài trợ cho các tài sản cố định của mình mà còn thừa
để tài tài trợ cho các nhu cầu ngắn hạn. Đồng thời khi vốn đầu tư vào tài sản lưu
động thường xuyên dương cũng có nghĩa là tổng tài sản lưu động lớn hơn nợ
ngắn hạn. Điều đó chứng tỏ Doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt, có thể
trang trải được các khoản nợ ngắn hạn với tài sản quay vòng nhanh.
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên < 0
Vốn dài hạn < vốn đầu tư vào tài sản cố định
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động < nợ ngắn hạn
Trong trường hợp này, tài sản cố định lớn hơn nguồn vốn dài hạn. Điều
này có nghĩa rằng Doanh nghiệp đã dùng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho đầu
tư dài hạn. Điều này khá nguy hiểm bởi khi hết hạn vay thì phải tìm ra nguồn
vốn khác để thay thế. Đây chỉ là một giải pháp tình thế. Nếu điều này xảy ra liên
Các nguyên nhân gây ra các biến động đó:
Việc tăng vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên có thể là do tăng
vốn tự có, điều này là rất tốt. Điều đó có nghĩa rằng Doanh nghiệp hoạt động thu
được lợi nhuận hay huy động được thêm vốn từ bên ngoài.
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên tăng do vay nợ gia tăng,
điều này có thể là không tốt nếu khoản nợ lớn hơn vốn tự có và nhất là nếu
Doanh nghiệp không có khả năng hoàn trả.
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên cũng có thể tăng nếu tài
sản cố định giảm hoặc Doanh nghiệp ngừng đầu tư dài hạn. Điều này không thể
coi là tích cực. Bỏi vì giảm tài sản cố định có nghĩa là Doanh nghiệp buộc phải
bán một phần cơ sở vật chất của mình để giảm quy mô kinh doanh. Tình trạng
này chưa thể coi là tốt đựơc.
14
14
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu cốt yếu
trong phân tích và quản lý tài chính. Theo nguyên tắc, chỉ tiêu này phải dương, ít
nhất là bằng 0. Như vậy là tài sản cố định được hình thành một cách ổn định từ
các nguồn vốn dài hạn và tài sản lưu động lớn hơn hoặc ít nhất là bằng nợ ngắn
hạn, bảo đảm khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của Doanh nghiệp.
1.1.4.3 Nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên
Nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn
hạn Doanh nghiệp cần để tài trợ cho bộ phận tài sản lưu động không phải là tiền,
đó là hai khoản mục hàng tồn kho và các khoản phải thu.
Vốn đàu tư vào tài sản lưu động = nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu
động thường xuyên + vốn bằng tiền
Vốn bằng tiền = vốn đầu tư vào tài sản lưu động – nhu cầu vốn đầu tư vào
tài sản lưu động thường xuyên
Vốn dài hạn > tài sản cố định => vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường
xuyên > 0
Tài sản cố định > vốn dài hạn => vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường
Sơ đồ nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên
Nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên được tính như sau:
Nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên = ( tồn kho +
khoản phải thu) - nợ ngắn hạn
Trong thực tế có thể xảy ra các trường hợp sau :
Nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên < 0
Tức là khoản tồn kho và các khoản phải thu nhỏ hơn nợ ngắn hạn. Chính
vì vậy các nguồn vốn ngắn hạn từ bên ngoài dư thừa và bù đắp đủ cho các sử
dụng ngắn hạn của Doanh nghiệp. Doanh nghiệp không cần vốn để tài trợ cho
chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Phải thu
tồn kho
20
nợ ngắn hạn
40
16
16
Nhu cầu vốn đầu tư vào
tài sản lưu động thường
xuyên
- 20
Sơ đồ nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên âm
Nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên âm có thể xảy ra
đối với các Doanh nghiệp sản xuất sau khi khách hàng đặt hàng và đặt cọc trước.
Các Doanh nghiệp này hoạt động với vốn khách hàng ứng ra trước. Nhu cầu vốn
đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên âm là một tình trạng rất tốt đối với
Doanh nghiệp, với ý nghĩa là Doanh nghiệp được các chủ nợ ngắn hạn cung cấp
vốn cần thiết cho chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tình trạng này không phải ngành
nào, Doanh nghiệp nào cũng đạt được. Yếu tố quyết định là các thói quen về
thanh toán trong các ngành, nghề, tính chất của những mối quan hệ thương mại.
dương, tài sản cố định được tài trợ bằng vốn dài hạn. Về phần tài sản cố định
tình trạng tài chính lành mạnh, ổn định.
18
18
Trường hợp 1
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên = 3
Tiền
tồn kho
5
phải thu
nợ ngắn hạn
3
Nhu cầu vốn đầu tư vào
tài sản lưu động thường
xuyên
vốn đầu tư vào tái sản
lưu động thường xuyên
3
Tài sản cố định
vốn dài hạn
6
Trong trương hợp này tồn kho và các khoản phải thu lớn hơn nợ ngắn hạn.
Như vậy sử dụng ngắn hạn lớn hơn các nguồn vốn ngắn hạn mà Doanh nghiệp
có thể huy động được, nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên là
+2. Để tài trợ cho phần chênh lệch này Doanh nghiệp cần phải sử dụng vốn đầu
tư vào tài sản lưu động thường xuyên nghĩa là phần vốn dài hạn không dùng để
tài trợ cho tài sản cố định. Trong trường hợp này vốn đầu tư vào tài sản lưu động
thường xuyên bằng 3 ( vốn dài hạn 6 – tài sản cố định 3 = 3), đủ để bù đắp cho
nhu cầu trên. Còn lại (3-2=1) là phần nguồn vốn mà Doanh nghiệp không sử
dụng tới, có hình thức vốn bằng tiền để trong ngân quỹ. Như vậy vốn đầu tư vào
động thường xuyên của Doanh nghiệp là âm ( -1). Vốn đầu tư vào tài sản lưu
động thường xuyên của Doanh nghiệp ( nguồn vốn dài hạn không dùng để tài trợ
cho các tài sản cố định) dương (2). Và như vậy vốn bằng tiền là 3.
Tại thời điểm này có thể thấy Doanh nghiệp có quá nhiều tiền nhàn rỗi
không dùng đến. Nếu đây là một tình trạng tạm thời thì có thể chấp nhận được.
Còn nếu đây là một tình trạng lâu dài của Doanh nghiệp thì có thể đánh giá
20
20
Doanh nghiệp quá lãng phí trong việc sử dụng vốn. Vốn đầu tư vào tài sản lưu
động thường xuyên dương trong trường hợp này là không cần thiết.
Trường hợp 3
tiền -2
tồn kho
5
phải thu
nợ ngắn hạn
2
Nhu cầu vốn đầu tư vào tài
sản lưu động thường xuyên
3
vốn đầu tư vào tài sản
lưu động thường xuyên
1
Tài sản cố định
5
vốn dài hạn
6
Trong trường hợp này tồn kho và các khoản phải thu lớn hơn nợ ngắn hạn.
Nghĩa là nhu cầu về vốn đầu tư vào tài sản lưu động của Doanh nghiệp là lớn
hơn 0. Trường hợp này vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên chỉ bằng
nghĩa rất quan trọng đối với việc tạo doanh thu của Doanh nghiệp. Trong điều
kiện hiện nay khi tất cả các nguồn lực đều có hạn thì sự thu hồi vốn nhanh là một
điều kiện tối quan trọng. Rút ngắn thời gian của vật tư dự trữ, nhanh chóng
chuyển vật tư sự trữ thành thành phẩm, rút ngắn vòng quay của hàng tồn kho, kết
thúc bán hàng để chuyển hàng tồn kho thành tiền và lại tiếp tục một chu kỳ sản
xuất mới là mục tiêu hàng đầu của các Doanh nghiêp.
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động chuyển toàn bộ giá trị vào mỗi chu kỳ
kinh doanh và thu hồi lại toàn bộ giá trị vào cuối chu kỳ. Vòng tuần hoàn của
vốn đầu tư vào tài sản lưu đôngh nhanh hay chậm phụ thuộc và mỗi loại hình
Doanh nghiệp và cụ thể từng Doanh nghiệp. Để có sử dụng tối đa nguồn vốn ,
một biện pháp các Doanh nghiệp sử dụng là tăng nhanh vòng quay của vốn đầu
22
22
tư vào tài sản lưu động. Chu kỳ vận động của vốn đầu tư vào tài sản lưu động
càng ngắn, hàng tồn kho quay vòng càng nhanh, tiền mặt quay vòng nhanh là
vấn đề các Doanh nghiệp hướng tới để tăng doanh thu của đơn vị mình.
Như vậy có thể thấy vốn đầu tư vào tài sản lưu động là lượng tiền ứng
trước để thoả mãn nhu cầu về tài sản lưu động, đảm bảơ cho hoạt động của
Doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên, liên tục, và bảo hiểm cho Doanh
nghiệp, đảm bảo khả năng thanh toán trong ngắn hạn. Vốn đầu tư vào tài sản lưu
động có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của Doanh nghiệp. Quản lý
sử dụng hợp lý vốn đầu tư vào tài sản lưu động có ảnh hưởng rất quan trọng đối
với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của Doanh nghiệp. Mặc dù hầu hết các vụ
phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ do quản
lý vốn đầu tư vào tài sản lưu động tồi. Nhưng cũng cần thấy rằng, sự bất lực của
một số công ty trong việc hoạch định và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại tài
sản lưu động và nợ ngắn hạn hầu như là một nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối
cùng của họ.
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào tài sản lưu động của Doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào tài sản lưu động của
lượng không nhỏ để trả lãi cho các khoản đi vay. Doanh nghiệp phải lựa chọn cơ
cấu vốn hợp lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn để đảm bảo không chỉ chi trả
được các chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh mà còn có lãi. Có thể thấy việc
quản lý và sử dụng tốt vốn đàu tư vào tài sản lưu động có ý nghĩa rất quan, góp
phần rất lớn nâng cao hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp.
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động có vai trò rất quan trọng đối với hoạt
động của một Doanh nghiệp. Và trong môi trường kinh tế như hiện nay thì việc
quản lý và sử dụng vốn đầu tư vào tài sản lưu động có vai trò quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào tài sản lưu động
của Doanh nghiệp
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào tài sản lưu động có các
nhóm chỉ tiêu sau:
a Chỉ số về khả năng thanh toán ngắn hạn
Nhằm đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
24
24
a.1 Khả năng thanh toán tức thời:
tiền/ nợ đến hạn
Nợ đến hạn bao gồm các khoản nợ ngắn hạn, nợ trung và dài hạn đến hạn
trả.
Chỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ giữa tài sản có khả năng thanh toán trực
tiếp như tiền mặt, chứng khoán bán được ngay với các khoản nợ hiện hành. Chỉ
tiêu này cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tiền và
chứng khoán thanh khoản cao.
Chỉ tiêu này là một tiêu chuẩn đánh giá khá khắt khe về khả năng trả nợ
ngắn hạn. Khi sử dụng chỉ tiêu này, để đánh giá một cách chặt chẽ khả năng
thanh toán nhanh của Doanh nghiệp, ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng các khoản nợ
ngắn hạn, sắp xếp các khoản nợ này theo kỳ hạn thanh toán của chúng rồi đối
chiếu với số tiền mặt dự kiến sẽ có vào mỗi kỳ hạn.