Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện - Pdf 44

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Vũ Cương
LỜI MỞ ĐẦU
Những năm vừa qua, sự bất ổn của tình hình thế giới đã tác động không nhỏ đến
sự phát triển của nền kinh tế - xã hội nước ta. Để chống chọi với lạm phát và vực dậy
nền kinh tế, Chính phủ đã thông qua gói kích cầu có trị giá hơn một ngàn tỷ USD. Và
một trong những biện pháp mũi nhọn nằm trong gói kích cầu đó là việc kích thích
đầu tư, nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, kéo theo sự phát triển của nhóm ngành dịch vụ
và đặc biệt là dịch vụ bảo hiểm. Bảo hiểm với những đặc trưng riêng có, nó cũng là
một trong những ngành dịch vụ có nhu cầu đầu tư cao. Không những vậy, hiện nay
trong các doanh nghiệp bảo hiểm đang tồn tại một vấn đề, đó là: dưới áp lực cạnh
tranh ngày càng cao, phí bảo hiểm giảm trong khi chi phí bồi thường lại có xu hướng
tăng, dẫn đến rất ít doanh nghiệp có lời từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Đồng thời
hoạt động đầu tư lại trở thành nguồn thu đang dần tăng lên trong hầu hết các doanh
nghiệp bảo hiểm.
Tuy nhiên, danh mục đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm hiện nay còn hạn
chế, chỉ tập trung vào một vài sản phẩm tài chính nhất định. Trong danh mục đầu tư
của các doanh nghiệp bảo hiểm hầu hết là những danh mục đầu tư luôn đem lại thu
nhập ổn định, an toàn trong giai đoạn nền kinh tế bất ổn. Nhưng khi nền kinh tế phục
hồi, thị trường tài chính được cải thiện, nếu cơ cấu đầu tư như vậy vẫn được duy trì
sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn do tỷ suất lợi nhuận đem lại tương đối thấp. Như
vậy, vấn đề đặt ra ở đây với các doanh nghiệp Bảo hiểm đó là: Cần có một danh mục
đầu tư hợp lý để vừa bảo toàn được nguồn vốn, không vỡ quỹ, lại vừa tăng được lợi
nhuận cho công ty, sử dụng tối đa hiệu quả của nguồn vốn.
Qua thời gian thực tập ở Phòng Đầu tư của Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện,
em càng nhận thức được rõ hơn tầm quan trọng của vấn đề đầu tư vốn một cách hợp
lý. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp là : “ Nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện ”
Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, chuyên đề tốt nghiệp của em gồm có 3 phần:
Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư trong các công ty Bảo hiểm
Chương II: Thực trạng sử dụng vốn đầu tư tại công ty Bảo hiểm Bưu Điện

phẩm quốc nội giữa những người tham gia bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu về tài
chính phát sinh khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm. Tuy
nhiên, phân phối trong bảo hiểm chủ yếu là phân phối không đều và phần lớn không
mang tính bồi hoàn trực tiếp. Không những vậy, bản chất của bảo hiểm còn được thể
hiện ở các khía cạnh cụ thể như sau:
- Rủi ro và sự tồn tại của rủi ro là nguồn gốc của bảo hiểm. Có nhiều cách tiếp cận
với khái niệm rủi ro, song theo nghĩa thông dụng nhất thì rủi ro là biến cố gây thiệt
hại và không mong đợi. Để đối phó với rủi ro, con người luôn tìm cách phòng vệ. Đó
chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự ra đời của bảo hiểm
- Cơ chế chuyển giao rủi ro trong bảo hiểm được thực hiện giữa bên tham gia bảo
hiểm và bên bảo hiểm thông qua các cam kết bảo hiểm. Theo cơ chế này, bên tham
gia phải nộp phí bảo hiểm và bên bảo hiểm cam kết bồi thường hay chi trả tiền bảo
hiểm khi đối tượng bảo hiểm hay người được bảo hiểm gặp phải rủi ro hay sự kiện
bảo hiểm
1.1.2. Khái niệm Bảo hiểm
Mặc dù ra đời từ rất sớm, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống
nhất về bảo hiểm. Có thể là do người ta đã đưa ra khái niệm bảo hiểm ở nhiều góc độ
khác nhau.
- Dưới góc độ tài chính, người ta cho rằng: Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài
chính nhằm phân phối lại những chi phí mất mát không mong đợi.
SVTH: Lê Mỹ Hạnh Kinh tế Quốc dân
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Vũ Cương
- Dưới góc độ pháp lý, giáo sư Hemard đưa ra khái niệm: Bảo hiểm là một nghiệp
vụ qua đó một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền cho chính
mình hoặc cho người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một
khoản tiền bồi thường từ một bên khác là người được bảo hiểm, người chịu trách
nhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại theo luật Thống kê.
- Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các công ty, các tập đoàn bảo hiểm thương
mại trên thế giới lại đưa ra khái niệm: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một

- Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ: Là doanh nghiệp kinh doanh các loại nghiệp
vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ khác không thuộc bảo hiểm
nhân thọ.
2. Các hoạt động chủ yếu của công ty Bảo hiểm phi nhân thọ
2.1. Kinh doanh Bảo hiểm gốc
Các loại hình kinh doanh Bảo hiểm gốc
- Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người;
- Bảo hiểm tài sản và thiệt hại;
- Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường
sắt và đường không;
- Bảo hiểm trách nhiệm chung;
- Bảo hiểm xe cơ giới;
- Bảo hiểm cháy, nổ;
- Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;
- Bảo hiểm vệ tinh;
- Bảo hiểm tàu.
2.2. Kinh doanh tái Bảo hiểm
Tái bảo hiểm là sự phân chia rủi ro mà nhà bảo hiểm phải gánh chịu cho những
nhà bảo hiểm khác. Hay có thể nói, tái bảo hiểm là sự bảo hiểm cho những rủi ro mà
người bảo hiểm phải gánh chịu.
Có thể nói, sự ra đời của tái bảo hiểm là sự cần thiết khách quan, trước hết nhằm
bảo vệ nhà bảo hiểm trước những rủi ro mà họ có thể gặp phải, đe dọa khả năng
thanh toán của nhà bảo hiểm. Và thông qua đó bảo vệ quyền lợi của người được bảo
hiểm.
Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường kinh doanh cả bảo hiểm gốc và cả tái
bảo hiểm. Nhưng cũng có những công ty chuyên làm về tái bảo hiểm, được gọi là
những công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp.
2.3. Giám định tổn thất
Giám định tổn thất là tổ hợp của các hoạt động giám định, điều tra, tính toán để
phân bổ tổn thất, làm đại lý giám định tổn thất và yêu cầu người thứ ba bồi hoàn.

Vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm là số vốn do các thành viên, cổ đông góp
hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ của doanh
nghiệp.
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì mức vốn
điều lệ đã góp không được thấp hơn mức vốn pháp định và phải được thường xuyên
bổ sung tương xứng với nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, DNBH sẽ thu tiền phí của khách hàng
trước, và có thể khi sự kiện được bảo hiểm xảy ra thì số tiền bồi thường được lấy từ
các khoản phí trên. Như vậy, nguồn vốn điều lệ sẽ là nguồn vốn nhàn rỗi và có thể
SVTH: Lê Mỹ Hạnh Kinh tế Quốc dân
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Vũ Cương
đem đi đầu tư. Trong thực tế, Pháp luật Việt Nam quy định vốn pháp định cho các
DNBH là tương đối lớn.
Doanh nghiệp Bảo hiểm phải ký quỹ một phần vốn điều lệ theo quy định của
Pháp luật, phần còn lại được đem đi đầu tư sinh lời.
Phần vốn đầu tư này chiếm tỷ trọng chưa phải lớn nhất nhưng khá quan trọng vì
nó là vốn tự có của DN nên ít chịu sự kiểm soát của pháp luật, tạo điều kiện cho
DNBH đầu tư vào những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao.
1.2. Quỹ dự trữ bắt buộc và quỹ dự trữ tự nguyện
DNBH cũng chính là một trung gian tài chính, với chức năng quan trọng là lưu
chuyển vốn từ nơi dư thừa đến nơi thiếu vốn, bằng cách thu phí BH của người tham
gia BH và đầu tư nguồn phí đó một cách hiệu quả. Nhưng trong quá trình hoạt động
kinh doanh, cũng như tất cả các trung gian tài chính khác, bản thân doanh nghiệp
cũng có thể gặp những rủi ro, làm giảm nguồn phí ban đầu, ảnh hưởng đến khả năng
thanh toán của doanh nghiệp và suy cho cùng là ảnh hưởng đến quyền lợi của người
tham gia bảo hiểm. Chính vì vậy, để đảm bảo khả năng thanh toán đồng thời quản lý
các doanh nghiệp bảo hiểm, Nhà nước yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm trích lập
các quỹ dự trữ bắt buộc. Mức tối đa của quỹ dự trữ bắt buộc là 10% vốn điều lệ của

- …
Cuối mỗi năm tài chính, DNBH phải trích lập các quỹ DPNV từ quỹ tài chính BH
cho từng nghiệp vụ và cho phần trách nhiệm còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong năm
tài chính tiếp theo, các quỹ DPNV thường không phải sử dụng để chi trả, bồi thường hết
ngay. Ngoài ra, DNBH có thể lấy từ chính tiền phí thu trong năm để chi trả, bồi thường
cho phần trách nhiệm phát sinh từ những hợp đồng được ký từ năm trước. Do vậy, sẽ có
một phần quỹ DPNV “nhàn rỗi” có thể đem đi đầu tư để thu lợi nhuận. Tuy nhiên, việc
xác định tỷ lệ đầu tư từ quỹ DPNV được quy định theo Pháp luật. Theo Nghị định của
Chính phủ số 46/2007/NĐ – CP ngày 27/03/2007, nguồn vốn từ dự phòng nghiệp vụ của
doanh nghiệp bảo hiểm là tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm trừ đi các khoản tiền mà
DNBH dùng để bồi thường bảo hiểm thường xuyên trong kỳ. Khoản tiền dùng để bồi
thường bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ không thấp hơn 25% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và được gửi tại các tổ
chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam. Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân
thọ thì con số trên là 5%.
Trong tất cả các nguồn đầu tư trên thì nguồn vốn đầu tư từ dự phòng nghiệp vụ
luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số vốn đầu tư của DNBH và cũng chính vì
vậy, việc đầu tư bằng nguồn vốn này chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật.
III. Hoạt động đầu tư trong công ty Bảo hiểm
SVTH: Lê Mỹ Hạnh Kinh tế Quốc dân
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Vũ Cương
1.Khái niệm và vai trò của hoạt động đầu tư
1.1. Khái niệm hoạt động đầu tư
Trước khi đi vào tìm hiểu hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm, chúng
ta cần phải biết, hoạt động đầu tư nói chung là gì. Có thể hiểu, đầu tư nói chung là sự
hi sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết
quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả
đó.
Tóm lại, mục tiêu của hoạt động đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với

- Hoạt động đầu tư gián tiếp chi phối chiến lược thiết kế và bán sản phẩm của
doanh nghiệp bảo hiểm thông qua việc định giá các sản phẩm bảo hiểm, mở rộng
phạm vi trách nhiệm hay tăng quyền lợi của khách hàng.
- Hoạt động đầu tư giúp doanh nghiệp bảo hiểm bù đắp sự mất giá của đồng tiền,
bảo toàn quỹ tài chính bảo hiểm trước rủi ro lạm phát.
- Hoạt động đầu tư đóng góp lớn vào sự tăng trưởng thu nhập và lợi nhuận của
doanh nghiệp bảo hiểm, tạo điều kiện tăng vốn, mở rộng quy mô doanh nghiệp, tăng
cổ tức cổ đông, tăng quỹ khen thưởng phúc lợi và thu nhập cho người lao động.
- Riêng đối với DNBH nhân thọ, hoạt động đầu tư còn giúp các doanh nghiệp
thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình đối với người tham gia bảo hiểm. Bởi vì bảo
hiểm nhân thọ không chỉ có tính rủi ro mà còn có tính tiết kiệm. Do đó việc đầu tư có
hiệu quả tiền phí bảo hiểm không chỉ đơn thuần là phát triển quỹ tài chính mà còn là
trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm để đảm bảo trả lãi cho khách hàng như đã
cam kết
- Ngoài ra hoạt động đầu tư còn có một số ý nghĩa quan trọng khác đối với doanh
nghiệp bảo hiểm như: tạo hình ảnh của công ty, khuếch trương hình ảnh thương
hiệu…
1.2.2. Đối với xã hội
Vai trò hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm đối với xã hội được thể hiện
rõ nét nhất thông qua việc huy động vốn cho nền kinh tế quốc dân. Bảo hiểm thực
chất là một dịch vụ tài chính, và các doanh nghiệp bảo hiểm thực chất là các tổ chức
trung gian tài chính. Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các
DNBH có một nguồn vốn nhàn rỗi lớn từ phí thu được của khách hàng bảo hiểm . Và
cũng như các trung gian tài chính khác như ngân hàng thương mại, công ty chứng
khoán…doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi này đầu tư vào nền kinh
tế một cách hiệu quả thông qua hàng loạt các hình thức khác nhau: mua cổ phiếu, trái
phiếu, công trái, đầu tư phát triển kinh tế xã hội…
Ngoài ra, hoạt động đầu tư còn có tác động không nhỏ đến sự phát triển của các
ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động,
góp phần ổn định xã hội, tăng thu cho ngân sách nhà nước, tăng tích lũy cho nền kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status