Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội pot - Pdf 19

Nâng cao hiệu quả hoạt động huy
động vốn tại Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội
MỤCLỤC
Trang
LỜIMỞĐẦU
CHƯƠNG I: MỘTSỐLÝLUẬNCƠBẢNVỀHUYĐỘNGVỐNCỦA
NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠI
1. Vai trò - chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1. Ngân hàng thương mại và vai trò của nó trong nền kinh tế thị
trường
1.1.1. Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
1.1.2.Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị
trường
1.1.3. Ngân hàng thương mại là một công cụđể Nhà nước điều tiết vĩ
mô nền kinh tế
1.1.4. Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền
tài chính quốc tế
1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Chức năng làm trung gian tín dụng
1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán
1.2.3. Chức năng tạo tiền
2. Vốn - tầm quan trọng của vốn huy động đối với hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng thương mại
2.1. Vốn của Ngân hàng thương mại
2.1.1. Nguồn vốn chủ sở hữu
2.1.2. Nguồn vốn huy động
2.2. Vốn huy động và vai trò của nóđối với Ngân hàng thương mại
2.3. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại
2.3.1. Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi
2.3.2. Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá

vốn
2. 2. Có chính sách thích hợp trong việc khuyến khích khách hàng
mở và sử dụng tài khoản tại Ngân hàng.
2.2.1. Đối với thủ tục mở tài khoản tại chi nhánh
2.2.2. Mở rộng các loại hình dịch vụ Ngân hàng
2.3. Nâng cao chất lượng đầu ra
2.4. Nâng cao trình độ cán bộ Ngân hàng
2.5. Hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng
2.6. Đẩy mạnh chiến lược Marketing cho toàn bộ hoạt động Ngân
hàng
3. Một số kiến nghịđối với Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước
3.1. Đối với Nhà nước
3.1.1. Tạo môi trường pháp lýđồng bộ vàổn định
3.1.2. Tạo môi trường tâm lý
3.1.3. Tăng cường biện pháp quản lý Nhà nước đối với các doanh
nghiệp
3.1.4. Bảo đảm môi trường kinh tếổn định
3.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước
3.2.1. Tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế chính sách tiền tệ, tín dụng
cho các Ngân hàng thương mại
3.2.2. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát hoạt động của các
Ngân hàng thương mại
3.2.3. Nâng cao hiệu quả hệ thống bảo hiểm tiền gửi.
KẾTLUẬN
TÀILIỆUTHAMKHẢO
LỜIMỞĐẦU
Bằng viện huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, hoạt
động của các tổ chức tín dụng đã góp phần không nhỏ trong việc thu hút
lượng vốn lớn để cho các doanh nghiệp vay, thực hiện tái đầu tư thúc đẩy
nền kinh tế phát triển. Đây chính là hoạt động truyền thống, chủ yếu của

vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hảng Hải Hà Nội.
Do thời gian có hạn, vấn đề lại rất phức tạp vàđa dạng, hơn nữa khả
năng chuyên môn và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế, nên những gì
em trình bày trong luận văn khó tránh khỏi sai sót, rất mong có sự bổ xung,
góp ý hướng dẫn của các thầy, cô và cơ sở nơi em thực tập.

CHƯƠNG I
MỘTSỐLÝLUẬNCƠBẢNVỀNGHIỆPVỤHUYĐỘNGVỐNC
ỦA NGÂNHÀNG THƯƠNGMẠI
1. VAITRÒ - CHỨCNĂNGCỦA NGÂNHÀNG THƯƠNGMẠI.
1.1. Ngân hàng thương mại và vai trò của nó trong nền kinh tế
thị trường.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong các ngành công nghiệp
ra đời sớm nhất. Ở Mỹ Ngân hàng thương mại đầu tiên được thành lapạ
năm 1782, trước khi Hiến pháp liên bang được thông qua và nhiều Ngân
hàng thương mại được thành lập từ những năm 1800 đến nay vẫn đang hoạt
động. Ở mỗi mỗi một nước, luật Ngân hàng thương mại có quy định khác
nhau, người ta thường dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của Ngân
hàng trên thị trường tài chính đểđưa ra cách hiểu về Ngân hàng thương
mại.
Ở Pháp, theo luật ngân hàng hàng năm 1941 thì "được coi là Ngân
hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của
công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác, các số tiền mà họ
dùng cho chính họ và các nghiệp vụ chứng khoán tín dụng hay dịch vụ tài
chính". Hay nhưởẤn Độ, luật ngân hàng năm 1950 vàđược bổ sung năm
1959 đã nêu: "Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay,
tài trợ, đầu tư". Và theo luật ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định
nghĩa: "Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác,
buôn bán vàng bạc, hàng nghề thương mại và các giá trịđịa ốc, các
phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân,

vốn. Bằng vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng,
Ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp
ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất. Nhờ có hoạt
động của hệ thống Ngân hàng thương mại vàđặc biệt là hoạt động tín dụng,
các doanh nghiệp, cá nhân cóđiều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc,
công nghệđể tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất
lượng sản phẩm cho xã hội.
1.1.2. Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị
trường.
Bước sang cơ chế thị trường, đòi hỏi sự phát triển của tín dụng Ngân
hàng đã làm biến đổi hoạt động ruỗng lát trong các nhà máy, xí nghiệp khơi
dậy sức sống bằng các dây chuyền sản xuất hiện đại năng suất cao, thực
hiện chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến. Điều không thể thực hiện
bằng vốn tự có của các doanh nghiệp vốn dĩđã rất ít ỏi. Bên cạnh đó, tín
dụng ngân hàng còn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong việc tăng
cường nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp. Một vấn đề luôn là mối
lo thường trực của các doanh nghiệp. Một khía cạnh khác đòi hỏi sự có mặt
của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp. Đó là một ngân quỹđể dành
cho việc đào tạo đội ngũ lao động phù hợp với sự phát triển của khoa học -
kỹ thuật - công nghệ cao. Đặc biệt trong điều kiện nước ta vẫn còn thiếu
nhiều những chuyên gia đầu ngành, những cán bộ có năng lực và những
công nhân lành nghề.
1.1.3. Ngân hàng thương mại là một công cụđể Nhà nước điều tiết
vĩ mô nền kinh tế.
Cùng với sự vận động của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được chia
làm hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng chuyên doanh
(NHTM). Các NHTM được Nhà nước sử dụng như công cụđể quản lý hoạt
động tiền tệ, điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia. Nhà nước điều tiết ngân
hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh
toán giữa các Ngân hàng thương mại trong hệ thống từđó góp phần mở

hàng
thương
mại

nhân

doanh
nghiệp
Đầu tư
Cho vay
Uỷ thác đầu tư
Với chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thương mại làm "cầu
nối" giữa người thừa vốn và người thiếu vốn và nóđã không chỉđem lại lợi
ích cho những người dư thừa vốn và những người thiếu vốn mà còn đem lại
lợi ích kinh tế cho bản thân nó và nền kinh tế. Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm
được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi
suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở cho
Ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển. Đối với nền kinh tế, chức năng
này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nóđáp
ứng nhu cầu vốn đểđảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục vàđể
mở rộng quy mô sản xuất. Với chức năng này, Ngân hàng đã biến vốn
nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân
chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
Đây chính là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại,
nó quyết định sự duy trì và phát triển của Ngân hàng đồng thời là cơ sởđể
thực hiện các chức năng sau:
1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán.
Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra
thanh toán hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang
tài khoản khác theo yêu cầu của họ. Thông qua chức năng này Ngân hàng

2.1. Vốn của Ngân hàng thương mại
Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân
hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư
hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Vốn của ngân hàng được thể
hiện dưới các dạng: Nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn huy động.
2.1.1. Nguồn vốn chủ sỡ hữu.
Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại là vốn tự có do ngân
hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vốn
của các chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Ở những nước
khác nhau, định nghĩa về vốn tự có có thể khác nhau nhưng nét chung nhất
vốn tự có bao gồm các thành phần sau:
1 - Vốn góp của chủ sở hữu để thành lập hoặc mở rộng doanh
nghiệp.
2 - Các quỹ dự trữđược hình thành trong quá trình hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng theo cơ chế tài chính hoặc quyết định của chủ sở hữu
vốn như: Quỹđầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính
3 - Lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh chưa sử dụng
4 - Các khoản nợđược coi như vốn.
Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân
hàng, song lạ làđiều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Do
tính chất ổn định, nó thực hiện chức năng thành lập, chức năng bảo vệ
vàđiều chỉnh đối với hoạt động ngân hàng. Trong tổng nguồn vốn của ngân
hàng, thì vốn tự có của ngân hàng chiếm dưới 10%, như vậy vốn ký thác
của ngân hàng khoảng trên 90%. Các Ngân hàng Trung Ương quy định
mức vốn tự có của ngân hàng lớn hơn hoặc bằng 8% trên tổng tài sản có rủi
ro quy đổi, điều này muốn nói lên rằng chức năng chủ yếu của khối lượng
giới hạn vốn chủ sở hữu đãđược xem như là tài sản bảo vệ cho những
người gửi tiền. Chức năng bảo vệ không chỉđược xem như sự bảo đảm
thanh toán cho người gửi tiền khi ngân hàng vỡ nợ, mà còn góp phần duy
trì khả năng trả nợ, bằng cách cung cấp một khoản tài sản có dự trữđể ngân

phân tích nguồn hình thành vốn này, dựđoán trước tình hình cung cầu vốn
để cóđối sách phù hợp.
2.2. Vốn huy động và vai trò của nóđối với Ngân hàng thương mại.
Vai tròđầu tiên của vốn huy động đó là nó quyết định đến quy mô
của hoạt động và quy mô tín dụng của ngân hàng. Thông thường nếu so với
các ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tư và cho vay
kém đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho vay của các ngân hàng này
cũng nhỏ hơn. Trong khi các ngân hàng lớn cho vay được ở thị trường
trong nước, ngoài nước thì các ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi
hẹp, mà chủ yếu trong cộng đồng. Mặt khác do khả năng vốn hạn hẹp nên
các ngân hàng nhỏ không phản ứng nhạy bén được với sự biến động về
chính sách, gây ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp
dân cư và các thành phần kinh tế.
Thứ hai là vốn huy động quyết định đến khả năng thanh toán vàđảm
bảo uy tín của các ngân hàng trên thị trường trong nền kinh tế. Để tồn tại
và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động, đòi hỏi ngân hàng phải có uy tín
trên thị trường làđiều trọng yếu. Uy tín đó trước hết phải được thể hiện ở
khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng, khả năng thanh toán
của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn, đồng
thời với nó tạo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng lớn, đồng
thời với nó tạo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng với quy mô lớn,
tiến hành các hoạt động cạnh tranh có qhj, đảm bảo uy tín, nâng cao thanh
thế của ngân hàng trên thị trường.
2.3. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại.
2.3.1. Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi.
2.3.1.1. Tiền gửi không kỳ hạn.
Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà khách hàng
không có thoả thuận trước về thời gian rút tiền. Ngân hàng phải trả một
mức lãi suất thấp hoặc không phải trả một lãi cho số tiền gửi này. Bởi vì,
tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng rất biến động, khách hàng có thể rút

tháng, 6 tháng mục đích là tạo cho khách hàng cóđược nhiều kỳ hạn gửi
phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có. Chính vì là loại
tiền gửi mà ngân hàng có quyền sử dụng nó trong thời gian nhất định nên
loại tiền gửi này được trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.
2.3.1.3. Tiền gửi tiết kiệm.
Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm hưởng lãi.
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng cấp cho khách hàng một
cuốn sổ, khách hàng phải quản lý và mang theo mỗi khi đến ngân hàng
giao dịch.
Xét về bản chất, tài khoản tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập
của cá nhân người lao động mà họ chưa đưa vào tiêu dùng, và là một dạng
đặc biệt để tích luỹ tiền tệ thay cho hình thức cất trữ vàng, hàng hoá. Tiền
gửi tiết kiệm có ba loại:
* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất
cứ lúc nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho
người khác. Số dư tiền gửi này không lớn, nhưng ít biến động, vì vậy đối
với loại tiền gửi này các Ngân hàng thương mại thường trả lãi suất cao hơn
với tiền gửi thanh toán.
* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về
thời gian gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ
hạn. Loại hình tiết kiệm này khá quen thuộc ở Việt Nam, các Ngân hàng
thương mại Việt Nam thường huy động tiết kiệm với thời hạn phong phú từ
ba tháng đến một năm.
* Tiết kiệm dài hạn: Đây là loại tiền gửi phổ biến ở một số nước
công nghiệp. Loại tiết kiệm này có tính ổn định cao bởi vì thời gian gửi tiền
từ một năm trở lên, do đó ngân hàng chủđộng sử dụng nguồn vốn này, nó
tạo cho ngân hàng có tính chủđộng sử dụng vốn cho mục đích vốn dài hạn.
Để thu hút vốn này, ngân hàng thường phải trả lãi suất cao.
2.3.2. Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá.
Giấy tờ có giá mà các Ngân hàng thương mại dùng để huy động vốn

ngân hàng đặc biệt, như Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng xuất nhập
khẩu. Các ngân hàng trên được phép phát hành phiếu nợ này ở trong nước
và nước ngoài, còn với các ngân hàng khác chỉđược phát hành ở nước
ngoài.
Huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá các Ngân
hàng thương mại phải trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi. Vì vậy khi phát
hành các Ngân hàng thương mại phải căn cứ vào đầu ra để quyết định đến
khối lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động phù
hợp.
2.3.3. Vay Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng khác.
Đây là nguồn vốn mà Ngân hàng thương mại cóđược nhờ thông qua
quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng thương mại với Ngân hàng Trung Ương
hoặc các Ngân hàng thương mại với nhau hay với các tổ chức tín dụng
khác. Vốn đi vay là nguồn vốn mà ngân hàng chịu chi phí cao hơn vốn huy
động vì vậy chỉ trong trường hợp ngân hàng thiếu vốn khả dụng trong thời
gian ngắn nào đó thì ngân hàng mới tìm đến các Ngân hàng thương mại
khác để thoả mãn nhu cầu vốn khả dụng.
Nếu Ngân hàng thương mại không thoả mãn được nhu cầu đó từ phía
các Ngân hàng thương mại khác thì giải quyết tiếp theo làđi vay của Ngân
hàng Trung Ương. Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, các
Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng Trung Ương các loại vốn:
Vốn vay ngắn hạn bổ sung vốn ngắn hạn còn thiếu của Ngân hàng thương
mại hoặc vốn vay để thanh toán giữa các ngân hàng nhằm bùđắp những
thiếu hụt tạm thời trong thanh toán, hoặc các Ngân hàng thương mại mang
các giấy tờ có giáđến Ngân hàng Trung Ương xin tái chiết khấu (tái cấp
vốn).
Ngân hàng Trung Ương thông qua nhu cầu vay vốn của Ngân hàng
thương mại với Ngân hàng Trung Ương nhằm mục đích phát hành thêm
tiền Trung Ương theo kế hoạch, bổ sung lượng vốn khả dụng cho Ngân
hàng thương mại một cách thường xuyên và là cứu cánh cho vay cuối cùng

động số 001/NH - GP ngày 08/6/1991 và các chi nhánh:
+ Chi nhánh tại Hà Nội: Giấy phép hoạt động số 001/NH - GP ngày
08/6/1991.
+ Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh: Giấy phép số 001/NH - GP
ngày 08/6/1991.
+ Chi nhánh tại Quảng Ninh: Giấy phép số 0001/NH - GTC ngày
15/9/1992.
+ Chi nhánh tại Cần Thơ: Giấy phép số 0007/NH - GTC ngày
29/3/1993.
+ Chi nhánh tại Đà Nẵng: Giấy chập thuận số 0008/GTC ngày
10/5/1993.
+ Chi nhánh tại Vũng Tàu: quyết định số 185/QĐ - NH5 ngày
12/7/1996.
Là một ngành thương mại cổ phần, hoạt động theo luật Ngân hàng và
các tổ chức ttín dụng, luật doanh nghiệp, MSB tiến hành các hoạt động
nghiệp vụ huy động vốn trên các loại như: vốn ngắn, trung, dài hạn (tiền
gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm) bằng VND và ngoại tệ
trong nước và ngoài nước đềđầu tư trực tiếp cho nền kinh tế. Đối với hoạt
động sử dụng vốn MSB cho vay ngắn hạn với các tổ chức kinh tế và cá
nhân được phép hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, thương
mại và các nhu cầu hợp pháp khác. cho vay trung và dài hạn tuỳ theo tính
chất và khả năng nguồn vốn mang lại hiệu quả kinh tế và lợi nhuận, hoàn
vốn đúng hạn MSB thực hiện các nhiệm vụ khác như chiết khấu thương
phiếu, trái phiếu và các giấy tờ khác, hùn vốn và liên doanh theo pháp luật
hiện hành và do hội đồng quản trị quyết định, thực hiện các nhiệm vụ kinh
doanh đối ngoại và các nhiệm vụ khác khi được ngân hàng Nhà nước cho
phép.
MSBHN là chi nhánh của MSB ra đời cùng với sự ra đời của MSB
và tiến hành hành các hoạt động nghiệp vụ như trên dưới sự chỉđạo của
MSB, chi nhánh MSBHN hoạt động tại 44 Nguyễn Du, là chi nhánh hoạt

lợi ích cho MSBHN. Điều này có thể nói rằng: chính sách khách hàng của
MSBHN chưa có tính cạnh tranh, chi nhánh chưa có khả năng đáp ứng
được nhu cầu của khách hàng lớn, trong khi đó nhiều doanh nghiệp vừa và
nhỏ có uy tín chi nhánh chưa tiếp cận được.
1. 3. Nguồn vốn của MSBHN.
Phòng
dịch vụ
khách
hàng
Phòng
tài
chính
kế toán
Phòng
kiểm
soát
nội bộ
Phòng
Hành
chính -
Tổng
hợp
Phòng
tín
dụng
Phòng
xử lý
rủi ro
kinh
doanh

1 Hoạt động TCKT$CN 200.000 6,000 293.000 80.46 298.00
0
3,400 350.70
0
66
1.1 N.hạn dưới 12 tháng 176.000 4,531 246.231 220.40
0
1,850 249.07
5
1.2 Trung hạn trên 12
tháng
24.000 4,469 46.769.500 77.600 1,551 101.62
5
2 Huy động TCTDMSB 5.632 0 5.632 1,5 015 0 8,05 2
2.1 Ngắn hạn dưới 12
tháng
58 0 58 15 0 15
2.2 Trung hạn trên 12
tháng
5.574 0 5.574 8000 0 8000
3 Nhận USD vốn từ trụ sở
chính
0 2,000 31.000 8,5 0 8,971 139.05
0
26
3.1 Ngắn hạn dưới 12
tháng
0 1,526 1.526 0 5,971 92.552
3.2 Trung hạn trên 12
tháng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status