Luận văn
Phân tích tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành tại công ty điện
lực 1 và đề xuất một số giải pháp
hạ giá thành điện năng
Báo cáo tốt nghệp
1
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ LẬP KẾ HOẠCH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM 5
1.1. Ý nghĩa, nội dung, cơ cấu giá thành sản phẩm 5
1.1.1. Khái niệm về chi phí và giá thành sản phẩm: 5
1.1.2. Ý nghĩa của giá thành sản phẩm: 5
1.1.3. Nội dung cơ cấu giá thành sản phẩm: 6
1.2. Những căn cứ để lập kế hoạch giá thành sản phẩm: 10
1.2.1. Vị trí nhiệm vụ của kế hoạch giá thành: 10
1.2.2. Những căn cứ để lập kế hoạch giá thành sản phẩm: 11
1.3. Các phương pháp để tính giá thành sản phẩm: 11
1.3.1. Khái niệm 11
1.4. Các đặc điểm giá thành điện: 14
1.4.1. Đặc điểm của điện năng 14
1.4.2. Đặc thù của ngành điện 14
1.4.3. Giá thành sản xuất điện: 15
1.4.4. Giá thành truyền tải và phân phối điện: 17
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng lên giá thành sản phẩm điện năng: 20
1.5.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá thành sản xuất điện: 21
1.5.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá thành truyền tải và phân phối điện 23
1.5.3. Các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến giá thành điện 24
1.6. Các phương hướng biện pháp hạ giá thành: 27
1.6.1. Nâng cao năng suất lao động: 28
1.6.2. Hạ thấp mức tiêu hao của các nguyên vật liệu: 28
các nước. Năng lượng là nhân tố không thể thiếu trong việc phát triển kinh tế
của đất nước. Trong các dạng năng lượng thì điện năng có vai trò quan trọng
nhất. Điện lực là một ngành sản xuất trong nền kinh tế. Hoạt động điện lực bao
gồm: Quy hoạch phát triển ngành, Đầu tư xây dựng cơ bản nguồn điện và lưới
điện, sản xuất và phân phối đến hộ tiêu dùng. Điện lực là một ngành sản xuất
nên việc sản xuất và kinh doanh điện năng đóng vai trò quan trọng trong nền
kinh tế. Việc kinh doanh điện năng ngoài mục đích kinh tế ngành điện còn phải
đảm bảo các mặt xã hội của đất nước.
Ngành điện được chia ra làm 3 khâu đó là sản xuất, truyền tải và phân phối.
Để phát triển và đứng vững trong nền kinh tế thị trường th nhiệm vụ hạ giá
thnàh sản phẩm là chỉ tiêu quan trọng của ngành điện nước ta cũng như các
ngành nghề kinh doanh khác.
Sản phẩm điện năng hiện nay được nhà nước quy định giá bán đầu ra. Do
vậy giảm bớt chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm
là điều qua trọng đảm bảo cho ngành điện đem lại lợi nhuận cao hiện tại cũng
như sau này. Để góp phần vào việc quản lý giá thnàh, không ngừng hạ thấp giá
thành phân phối điện năng của công ty điện lực 1. Được sự giúp đỡ của cô TS.
Phạm Thị Thu Hà. Trong đồ án này tôi nghiên cứu đề tà:
“Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành tại công ty điện lực 1 và
đề xuất một số giải pháp hạ giá thành điện năng”
Đồ án này gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở phương pháp luận về lập kế hoạch giá thành sản phẩm.
Chương II: Phân tích tình hình thực hiện kế haọch giá thành tại công ty điện
lực 1 trong năm 2008.
Chương III: Đề xuất một số biện pháp hạ giá thành phân phối điện năng tại
công ty điện lực 1.
Để hoàn thành bản đồ án này, ngoài nỗ lực cảu bản thân còn có sự giúp đỡ
tận tình của các thầy cô trong khoa Kinh tế & Quản lý trường ĐHBK Hà Nội,
các phòng ban tại công ty điện lực 1.
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Phạm Thị Thu Hà người đã tận tình
định, tương ứng với việc sử dụng nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu là những chi
phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, tương ứng với việc sử dụng lao động là
chi phí tiền công, tiền trích BHXH, BHYT. Trong điều kiện nền kinh tế hàng
hoá và cơ chế hoạch toán kinh doanh, mỗi chi phí đều biểu hiện bằng tiền.
Trong đó chi phí về tiền công là biểu hiện bằng tiền của hao phí của lao động
sống, còn chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí về nguyên vật liệu là biểu hiện
bằng tiền của hao phí của lao động vật hoá.
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong
suốt quá trình tồn tại và hoạt động của doang nghiệp. Nhưng để phục vụ cho
quản lý và hoạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất được tính toán tập hợp theo
từng thời kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kỳ báo cáo. Chỉ
những chi phí sản suất kinh doanh mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong kỳ mới
được tính vào chi phí sản xuất trong kỳ.
1.1.2. Ý nghĩa của giá thành sản phẩm:
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt
động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền
Báo cáo tốt nghệp
5
vốn trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế - kỹ thuật mà doanh
nghiệp đã thực hiện, nhằm mục đích sản xuất được khối lượng sản phẩm nhiều
nhất với chi phí sản xuất tiết kiệm và hạ giá thành.
Trong phạm vi xã hội, giá thành hạ là cơ sở để bán sản phẩm rẻ hơn, Đời
sống văn hoá tinh thần của các nhân viên trong xã hội được tăng lên, tích luỹ
tăng.
Trong phạm vi doanh nghiệp, giá thành sản phẩm càng hạ thì hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng cao đem lại nguồn lại nhuận
đáng kể cho doanh nghiệp. Chính nguồn lợi nhuận đáng kể đó là cơ sở cho các
doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh chóng. Giá thành hạ lợi nhuận cao còn là nguồn
để các doanh nghiệp trích lập các quỹ doanh nghiệp, không ngừng mở rộng quy
mô sản xuất, khuyến khích đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho cán bộ công
vật liệu phụ, bán thành phẩm mua vào sản xuất, công cụ, phụ tùng. Chi phi
nguyên vật liệu phụ thuộc vào các yếu tố sau: mức tiêu hao, giá cả nguyên vật
liệu, quy trình sử dụng hao hụt, chất lượng nguyên liệu, máy móc thiết bị…
2. Chi phí nhân công: Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp, các
khoản trích theo lương của toàn bộ các cán bộ công nhân viên tham gia vào sản
xuất kinh doanh.
3. Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là chi phí của tài sản cố định như
máy móc, nhà xưởng trừ dần vào sản phẩm sản xuất ra. Chi phí khấu hao tài sản
cố định phụ thuộc vào các yếu tố sau: nguyên giá, thời gian, phương pháp, trình
độ tuân thủ quy trình.
4. Chi phí dịch vụ mua ngoài gồm: Toàn bộ số tiền phải trả cho các
dịch vụ mua ngoài vào hoạt động sản xuất kinh doanh như tiền điện, tiền nước,
tiền điện thoại, sửa chữa tài sản cố định… Chi phí này phụ thuộc vào yếu tố:
trình độ tuân thủ quy trình, ý thức của nhân viên…
5. Chi phí khác bằng tiền gồm: Các khoản tiền mà doanh nghiệp phải
trả trực tiếp dưới hình thái giá trị cho hoạt động sản xuất kinh doanh như: tiền
trả lãi vay, thuế phải nộp. Phụ thuộc vào yếu tố nào ví dụ: nguyên giá, thời gian,
hình thức trả lãi vay, trình độ tuân thủ quy trình.
Việc phân loại chi phí theo các yếu tố cho biết doanh nghiệp cần huy động
vào sản xuất kinh doanh bao nhiêu nguồn lực cho các loại trên cơ sở đó lập kế
hoạch cunng ứng vậy tư, lập dự toán chi phí, lập kế hoạc quỹ tiền lương, nhu
cầu vố lưu động cho kỳ tiếp theo.
b) Phân loại theo khoản mục chi phí:
Những chi phí được dùng chung vào một mục đích, địa điểm phát sinh được
xếp chung vào một khoản mục gọi là khoản mục chi phí.
Theo chế độ hiện nay, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành 5 khoản
mục:
1.Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp gồm: Chi phí nguyên vật liệu chính,
phụ, nhiên liệu, dụng cụ, bán thành phẩm mua ngoài trực tiếp tham gia vào sản
Báo cáo tốt nghệp
Giá thành kế hoạch là: Giá thành sản phẩm trên cơ sở tính toán chi phí sản
xuất kế hoạch cũng như sản lượng kế hoạch. Việc này được tính toán trước khi
bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành kế hoạch của sản phẩm
là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp và là cơ sở để cân đối kế hoạch, lập và
Báo cáo tốt nghệp
8
lựa chọn các pương án kinh doanh có hiệu quả.Giá thành kế hoạch cũng là cơ sở
để phân tích so sánh trong quá trình thực hiện để tìm các biện pháp hạ giá thành.
Giá thành định mức là: Giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định
mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho giá thành đơn vị. Việc tính toán giá thành
định mức là công cụ quản lý mức cũng được xác định trước khi tiến hành quá
trình sản xuất. Giá thành địn mức là công cụ quản lý mức của doanh nghiệp, là
thước đo để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư lao động trong sản xuất,
giúp đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế - kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực
hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Giá thành thực tế là: Giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi
phí sản xuất thực tế doanh nghiệp đã bỏ ra và được tập hợp trong kỳ tương ứng
với khối lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất trong kỳ. Giá thành sản xuất thực tế
chỉ có thể tính toán được khi kết thúc quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm. Giá
thành sản phẩm thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu
của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp về tổ chức kinh tế
- kỹ thuật để thực hiện quá trình sản phẩm , là cơ sở để xác định kết quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
d) Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán:
Giá thành sản xuất bao gồm: Các chi phí sản xuất như nguyên vật liệu trực
tiếp, nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính chi những sản phẩm đã
hoàn thành (nhập kho hay giao cho khách hàng). Giá thành sản xuất của sản
phẩm là căn cứ để tính giá vốn hàng bánvà lãi gộp ở các doanh nghiệp sản xuất.
Giá thành công đoạn: Khi quá trình sản xuất sản phẩm trải qua nhiêu công
đoạn nối tiếp nhau. Việc tính giá thành sản phẩm trong phạm vi từng công đoạn
với các bộ phận kế hoạch khác đã được xây dựng xong như: Kế hoạch sản xuất,
tiêu thụ sản phẩm, kế hoạch vật tư, kế hoạch lao động tiền lưong, kế hoạch bảo
hộ lao động, kế hoạch đào tạo.
Kế hoạch giá thành một mặt phản ánh tổng hợp các chỉ tiêu của các bộ phận
kế hoạch khác, một số mặt có tác động tích cực trở lại các bộ phận kế hoạch đó.
Kế hoạch giá thành sản phẩm là cơ sở để lập kế hoạch giá sản phẩm. Nếu
giá thành sản phẩm cao hơn giá bán sản phẩm trên thị trường, doanh nghiệp tìm
mọi biện pháp để không ngừng giảm chi phí sản xuất, bằng cách giảm thấp định
mức tiêu hao vật tư, tăng năng xuât lao động cải tiến quy trình công nghệ.
Báo cáo tốt nghệp
Kế hoạch vật tư
Kế hoạch đào tạo
Kế hoạch SX,
tiêu thụ SP
Kế hoạch bảo
hộ lao động
Kế hoạch lao
động tiền lương
Kế hoạch giá
thành sản phẩm
10
Kế hoạch giá thành sản phẩm là cơ sở để lập kế hoạch huy động vốn lưu
động, kế hoạch tài chính tín dụng.
Nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch giá thành sản phẩm là không ngừng giảm
chi phí sản xuất kinh doanh, tăng sản xuất kinh doanh, tăng sản lượng sản phẩm,
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng tích luỹ, phát triển quy mô sản xuất.
Phát triển thêm mối quan hệ với các kế hoạch khác ….
1.2.2. Những căn cứ để lập kế hoạch giá thành sản phẩm:
Kế hoạch giá thành sản phẩm không những phản ánh trình độ tổ chức lao
động, tổ chức sản xuất của doanh nghiệp trong năm kế hoạch mà còn phản ánh
a) Phương pháp tính giá thành trực tiếp:
Phương pháp này còn gọi là phương pháp tính giá thành đơn giản. Phương
pháp này được áp dụng tong trường hợp doanh nghiệp có quá trình công nghệ
giản đơn và quy trình công nghệ phức tạp về lắp ráp. Nếu doanh nghiệp chỉ sản
xuất một loại sản phẩm, sản phẩm sản xuất ra không có sản phẩm dở dang hoặc
sản phẩm dở dang quá ít, không cần đánh giá sản phẩm dở dang thì toàn bộ chi
phí sản xuất đã được tập hợp trong kỳ là tổng giá thành sản phẩm sản xuất của
kỳ đó.
Công thức tính giá thành toàn bộ và giá thành đơn vị sản phẩm như sau:
Z = C,
Q
C
Q
Z
z ==
Trong đó:
Z: Giá thành toàn bộ sản phẩm.
C: Tổng chi phí sản phẩm sản xuất được tập hợp theo đối tượng tương
ứng.
Q: Số lượng sản phẩm sản xuất ra.
z: Giá thành đơn vị sản phẩm.
Trong trường hợp sản phẩm dở dang chênh lệch đáng kể giữa đầu kỳ và
cuối kỳ thì giá thành toàn bộ sản phẩm được tính theo công thức:
ckdk
DDCZ −+=
Giá thành đơn vị sản phẩm được tính theo công thức:
Q
nhau và quy các nhóm ra thành sản phẩm tiêu chuẩn, tính giá thành sản phẩm
đơn vị tiêu chuẩn cho từng nhóm, rồi quy đổi lại theo hệ số, để ra giá thành đơn
vị của nhóm đó.
Ưu điểm của phương pháp tính giá thành này là đơn giản, dễ tính áp dụng
cho các doanh nghiệp sản xuất 1 sản phẩm.
b) Phương pháp tính giá thành phân bước:
phương pháp này được áp dụng trong trường hợp công nghệ chế biên phức
tạp kiểu liên tục, sản phẩm dở dang nhiều, địa bàn sản xuất rộng, có nhiều biến
động không ổn định. Phương pháp tính giá thành phân bước có 2 phương pháp
tính đó là tính giá bán thành phẩm và không tính đến giá thành sản phẩm.
* Phương pháp tính giá thành sản phẩm phân bước có tính đến giá thành bán
thành phẩm.
Áp dụng trong trường hợp bán thành phẩm được bán ra ngoài.
Mô hình tính toán giá thành của phương pháp này như sau:
Chi phí nguyên
vật liệu
+
Chi phí chế
biến bước 1
=
Giá thành bán
thành phẩm bước
1
+
Chi phí chế
biến bước 2
=
Giá thành bán
thành phẩm bước
n - 1
1.4. Các đặc điểm giá thành điện:
1.4.1. Đặc điểm của điện năng.
Mỗi loại hàng hoá đều có điện riêng. Các loại hàng hoá khác nhau về tính
chất lý hoá, giá trị, giá trị sử dụng… Điện năng cũng vậy, nó đặc biệt ở chỗ điện
năng không thể dự trữ được; quá trình sản xuất và tiêu thụ điện năng diễn ra
đồng thời. Điện năng được đưa từ nơi sản xuất và đến nơi tiêu thụ điện năng
thông qua hệ thống khép kín gồm: nhà máy điện, đường dây truyền tải, phân
phối điện, hệ thống trạm biến áp cao thế, trung thế và hạ thế. Một đặc điểm của
hàng hoá điện năng là trong quá trình sản xuất cũng như tiêu thụ loại hàng hoá
này luôn luôn có một lượng điện năng mất đi mà ta gọi là tổn thất điện năng.
Phần điện năng tổn thất cũng tương tựnhư hao tổn tự nhiên của một số loại hàng
hoá khác. Tổn thất điện năng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tuy nhiên tựu chung
lại có thể quy về hai loại:
+ Tổn thất điện năng do các yếu tố kỹ thuật gây ra như chất lượng dây dẫn,
chất lượng máy biến áp, cường độ dòng điện, cấp điện áp, chiều dài tải điện đi
xa…
+ Tổn thất do các nguyên nhân quản lý gây ra: Quản lý không chặt chẽ dẫn
đến tình trạng ăn cắp điện, dùng điện thẳng không qua đồng hồ, đồng hồ bấm
điện chạy chậm, thiếu chính xác…
Điện năng còn là loại hàng hoá không có khả năng dự trữ, sản xuất và tiêu
thụ luôn diễn ra song song đồng thời. Do vậy, điều quan trọng là phải nắm bắt
được những đặc điểm chính của lượng cầu và đường cầu, trên cơ đó tiến hành
quy mô hoá hệ thống sản xuất điện. Hệ thống sản xuất phải đáp ứng được nhu
cầu tiêu thụ vào thời điểm “nút” của hệ thống, tức là phải đáp ứng được những
thời điểm tăng cao của nhu cầu trong năm cũng như phải co dự trữ đề phòng xảy
ra sự cố. Đây là một trong những khó khăn của ngành điện.
Sản phẩm điện năng còn có giá thành thay đổi theo vị trí của đồ thị phụ tải.
Giá thành phải đủ bù đắp được chi phí sản xuất gây ra cho hệ thống. Vì vậy vào
thời điểm cao điểm chi phí để sản xuất ra 1 đơn vị điện năng lớn hơn nhiều so
với thời điểm thấp điểm do vậy giá thành giờ cao điểm cao hơn giá thành giờ
Các nhà
máy điện
Giá thành
PP
Các cty
truyền tải
Điện
Tự dùng
Tổn thất
T. tải
Giá bán lẻ
Chi phí SX - TT
Giá bán nội bộ
T. tải
Tổn thất
Giá thành PP
Các cty
điện lực
Khách
hàng
EVN
Chi phí quản lý
15
TDSX
SXD
tc
SXD
SXD
EE
: Giá một đơn vị nhiên liệu khấu hao.
C
kh
: Chi phí khấu hao: Chi phí khấu hao được xác định theo lượng tài sản cố
định tại nhà máy, giá trị của các tài sản cố định và theo hệ số khấu hao lụa chọn.
kh
C
=
Giá trị TSCĐ x hệ số khấu hao
Thời gian khấu hao
C
w
: Chi phí tiền lương công nhân viên: Là chi phí phải trả cho cán bộ nhân
viên của nhà máy điện căn cứ theo định biên lao động theo quy mô và đặc thù
của từng laọi nhà máy và theo mức lương bình quân (bao gồm tất cảc các khoản
phụ phí khác).
mlC
bqw
.=
m: Số công nhân viên:
bctb
KPm .=
P
tb
: Công suất trang bị của nhà máy.
K
bc
: Hệ số biên chế.
#
Điện sản xuất ra sau khi đã trừ đi tự dùng được gọi là điện thanh cái. Nhiều
mạng lưới truyền tải và phân phối điện toả đi khắp nơi, tới tận hộ tiêu thụ. Mạng
lưới truyền tải được Công ty truyền tải đảm nhận.
Hệ thống truyền tải gồm các máy biến áp và đường dây điện áp tử 110kV trở
lên được dùng để truyền tải công suất lớn với khoảng cách hành trăm km. Công
nghệ truyền tải điện năng là cả một quá trình vận hành liên tục, mang nặng các
đặc thù kỹ thuật riêng. Bên cạnh số trạm biến áp và đường dây là một loạt các
thiết bị đóng cắt và bảo vệ. Điện năng được truyền tải qua hệ thống đường dây
500kV, 220kV đến các trạm 110kV, bắt đầu quá trình phân phối, điện năng
được truyền tải qua hệ thống đường dây 110kV đến các trạm 110kV được hạ
cấp xuống điện áp 35KV, 10kV, 6kV Trong cả quá trình tải điện, đặt ra một
nhiệm vụ tính toán kinh tế của điện, phải xác định được các chỉ tiêu kinh tế kinh
tế cơ bản đặc trưng cho việc xây dựng và vận hành mạng.
Những chỉ tiêu kinh tế cơ bản của mạng là: Vốn đầu tư, chi phí vận hành
hàng năm và giá thành tải điện. Vốn đầu tư V của mạng gồm có vốn đầu tư
đường dây V
D
và vốn đầu tư của trạm biến áp V
P
TD
VVV +=
Vốn đầu tư của đường dây gồm chi phí về khảo sát và chuẩn bị tuyến, về cột,
cách điện, dây dẫn, xây lắp
Vốn đầu tư trạm gồm các loại chi phí chuẩn bị địa điểm, máy biến áp động
lực, các thiết bị phân phối điện kể cả thiết bị điện và việc lắp ráp thiết bị
Vốn đầu tư được xác định theo chỉ tiêu chung về giá cả của các phần tử mạng
điện hoặc bằng cách lập các mảng dự toán.
Chi phí vận hành hàng năm cho mạng C gồm các chi phí khấu hao, sửa chữa
và quản lý đường dây C
:;;
DDD
OPa
Tiền khấu hao, sửa chữa và quản lý đường dây (%)
:;;
TTT
OPa
Tiền khấu hao, sửa chữa và quản lý trạm biến áp (%)
Tiền khấu hao dùng để đại tu đường dây và thiết bị trạm và để thay thế thiết
bị sau khi hao mòn. Thời gian phục vụ của các thiết bị càng nhỏ, thì khấu hao
càng lớn. Ví dụ tiền khấu hao cho trạm 10%, cho đường dây trung cao áp từ 6 –
110kV là 14,5% với cột gỗ, 11% với cột bê tông, cho đường dây cao áp >220kV
là 11%
Chi phí sửa chữa thường xuyên dùng để duy trì thiết bị lôn luôn ở trạng thái
làm việc. Trong thời gian sửa chữa thường xuyên có thể thay đổi cách điện, sơn
cột, vỏ bọc, thiết bị trạm, tu sửa những hỏng hóc nhỏ. Chi phí này tương đối
nhỏ, khoảng 0,5 – 1%.
Chi phí quản lý mạng gồm tiền lương công nhân vận hành, cho cá phương
tiện vận tải chi phí quản lý mạng đạt tới 3 - 4% đối với đường dây trên không
cột gỗ, 2% đối với đường dây trên không cột sắt hoặc bê tông cốt sắt, đường cáp
và 5% đối với trạm.
Giá thành tải điện G bằng tỷ số giữa tổng chi phí vận hành hàng năm và
lượng điện mà hộ tiêu thụ nhận được trong năm:
maxmax
.TP
C
A
C
Ba khâu đó được minh hoạ qua sơ đồ sau:
Đối với nhành điện do sản phẩm sản xuất ra bao nhiêu tiêu thụ hết bấy nhiêu.
Do vậy, giá thành trùng với tổng chi phí.
Chi phí = Giá thành.
PPDTTD
CCZ ++=
∑
SXD
W
PPTTTDSXHT
WWW ∆−∆−−=
PPTTSX
HTT
PPD
HTT
TTD
HTT
SXD
HTT
PPDTTDSXD
zzz
W
C
W
C
W
C
W
CCC
Z ++=++=
3. Chi phí nhân công trực tiếp.
4. Chi phí điện vô công.
5. Chi phí giải quyết sự cố.
6. Chi phí sản xuất chung.
7. Chi phí quản lý doanh nghiệp.
8. Chi phí bán hàng (tiêu thụ).
Áp dụng các nguyên tắc tính toán, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế của
điện 1 tính toán các chi phí trong giá thành điện khu vực của mình.
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng lên giá thành sản phẩm điện năng:
Như phân tích ở mục 1.4, điện năng khi sản xuất ra phải trải qua quá trình
truyền tải và phân phối mới đến được hộổư dụng và ứng với mỗi quá trình đó, ta
có một loại giá thành.
Báo cáo tốt nghệp
Vật liệu phụ dùng
cho sản xuất
- Dầu máy BT
- Hoá chất các loại
khác
Chi phí nhân
công trực tiếp
- Tiền lương
- BHXH, BHYT,
KPCĐ
Chi phí giải quyết
sự cố.
- Vật liệu
- Chi phí khác.
Chi phí
nhiên liệu
GIÁ THÀNH
a) Suất đầu tư: Suất đầu tư là chi phí đầu tư là chi phí đầu tư cho 1kW công
suất.
Theo thực tế tính toán tuabin khí và tua bin hỗn hợp là công nghệ phát điện
có suất đầu tư thấp nhất cho mỗi kW công suất,dưới 500 USD/kWW.
Trong khí đó, suất đầu tư cho thuỷ điện hoặc nhiệt điện đều từ 1000 – 1500
USD/kWW. Nó thể hiện chi phí xây dựng nhà máy ở thuỷ điện và nhiệt điện cao
hơn là tuabin khí và tua bin khí hỗn hợp.
b) Hệ số phụ tải.
Hệ số phụ tải của hệ thống m bằng tỷ số giữa phụ tải trung bình x phụ tải
cực đại:
Báo cáo tốt nghệp
Giá thành sản xuất
điện C (đ/kWh)
Chi phí công suất
(đ/kWh)
Chi phí điện năng
(đ/kWh)
CP công suất
cố định
CP O&M công
suất cố định
CP O&M công
suất biến đổi
Chi phí
nhiên liệu
21
10;
.
phí trung bình cả đời dự án của 1kWh được sản xuất từ tổ hợp thuỷ điện là 0,045
USD/kWWh, cao hơn từ tuabin khí hỗn hợp, chỉ có 0,039 USD/kWh.
Với cơ cấu công suất thuỷ điện hiện nay trên 56%, kèm với sự biến động bất
thường, việc xây nguồn mới từ thuỷ điện nên việc xem xét lại về tính kinh tế.
c) Suất chi phí bảo dưỡng và vận hành (O&M) cho 1kWhddieenj năng.
Suất chi phí bảo dưỡng và vận hành thường xuyên cho 1kWh điện năng từ
tuabin khí hỗn hợp đốt khí là 0,4 cet/kWh, thấp hơn so với nhiệt điện đốt than và
thuỷ điện. Trong đó suất chi phí bảo dưỡng và vận hành từ tuabin khí chạy bằng
dầu Diezel là 0,83 cent/kWh. Vì rằng hệ số bảo dưỡng của tua bin khí chạy bằng
dầu Diezel gấp 2 lần hệ số bảo dưỡng của tuabin khí đốt khí.
d) Giá nhiên liệu.
Chi phí nhiên liệu cho 1kWh điện chiếm khá cao từ 50 -60%. Vì thế để giảm
bớt chi phí sản xuất điện thì điều quan tâm đầu tiên là chi phí nhiên liệu, cụ thể
là giá nhiên liệu có thể dùng để sản xuất điện.
Giá nhiên liệu thay đổi khá trong một giới hạn rộng.
Đối với các nhà máy nhiệt điện, giá thành sản xuất điện biến đổi rất lớn khi
giá nhiêu liệu thay đổi và sự biên đổi này theo chiều thuận nghĩa là kh8i giá
Báo cáo tốt nghệp
22
nhiên liệu tăng lên làm tăng chi phí nliệu làm giá thành điện năng cũng tăng và
ngược lại. Giá thành điện năng của nhiệt điện than dao động tư 3,26 – 4,22
cent/kWh; khi từ 2 – 4,5 USD/10
6
BTU.
Nhìn chung thì giá thành điện của nhiệt khí thấp nhất (ngoại trừ khi giá tăng
từ 4 – 4,5 USD/10
6
BTU), sau đó là nhiệt điện thanvà cao nhất là nhiệt điện dầu.
1.5.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá thành truyền tải và phân phối điện.
Như đã biết, giá thành truyền tải và phâmn phối phụ thuộc vào chi phí hàng
khác nhau.
b) Hệ số tổn thất:
tthphtt
ph
tth
AAA
A
A
K −== %;100.
Hệ số tổn thất giao động trong phạm vi khá rộng từ 1 – 1,5%. Hệ số tổn thất
đặc trưng cho tổn thất ở trong mạng điện. Tổn thất càng lớn, chi phí về tổn thất
Báo cáo tốt nghệp
23
điện năng càng cao dẫn tới giá thành tải điện sẽ lên cao. Hệ số tổn thất truyền tải
và phân phối phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ yếu là:
- Cơ cấu của hệ thống.
- Sự phân bố các nhà máy điện và các hộ tiêu thụ.
- hình dáng của mạng điện.
- Điện áp của các lưới điện.
- Phụ tải của lưới điện.
- Quan hệ giữa phụ tải cực đại và khả năng truyền tải tính toán của đường
dây tải điện.
- Chế độ vận hành trạm và đường dây.
- Tổn thất điện năng trong mạng ảnh hưởng lớn đến chi phí vận hành hàng
năm và giá thành tải điện. Để vận hành và giảm chi phí giá thành tải điện. Để
vận hành và giảm chi phí giá thành cần biêt xác định tổn thất và biết cách làm
giảm bớt tổn thất.
1.5.3. Các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến giá thành điện.
Môi trường, xã hội và sự phát triển kinh tế có mối quan hệ tương tác hữu cơ
phương thức ít ô nhiễm hơn hiện nay. Thuế môi trường làm tăng chi phí sản suất
theo hệ số ô nhiễm thải ra, vì vậy hệ số phụ tải của các nhà máy điện than, hiệu
suất thấp sẽ giảm đi, đồng thời tăng hệ số phụ tải của các nhà máy điện than,
hiệu suất thấp sẽ giảm đi, đồng thời tăng cường hệ số phụ tải của cá nhà máy
thuỷ điện, nhiệt điện khí và cả nhà máy chạy dầu. Mặc dù chi phí xuất tăng lên,
nhưng ô nhiễm môi trường sẽ giảm môi trường sẽ giảm đi đáng kể. Trong khi
đó, đối với quy hoạch dài hạn, thuế môi trường làm tăng kinh tế sản xuất củâ các
công nghệ ô nhiễm do đó sẽ trì hoãn hoặc thay thế các công nghệ ô nhiễm bằng
công nghệ “sạch hơn” kết quả là tổ hợp nguồn điện khi có thuế môi trường sẽ có
lượng khí thải thấp hơn.
Trong hoàn cảnh kinh tế xã hội như nước ta hiện nay, việc thực hiện thuế
môi trường tỏ ra hấp dẫn hơn các biện pháp khác. Áp dụng thuế môi trường tạo
điều kiện cho các dạng năng lượng mới (khí sinh học, năng lượng mặt trời, địa
nhiệt…) phát triển. Quan trọng hơn, không những thuế môi trường sẽ làm giảm
ô nhiễm mà còn tăng thu cho ngân sách nhà nước.
* Chính sách giá bán: Giá bán điện mới được áp dụng từ 1 tháng 10 năm
1999 vẫn chưa phản ánh được hết cơ cấu giá thành điện năng. Chỉ có giá điện
năng là một thành phần mà chưa đề cập đến giá theo công suất, tạo ra sự hợp lý
trong quá trình cung ứng và thu lợi. Công bằng thì các hộ lớn phải chịu một
phần chi phí phát triển dung lượng đặt của các nguồn điện. Mặt khác, giá bán
chưa đề cập tới chi phí xử lý hậu quả ô nhiễm môi trường do việc phát triển hệ
thống điện gây ra.
b) Chính sách phát triển công nghiệp.
Có chính sách cho rằng, nhu cầu đầu tư cho ngành công nghiệp điện của Việt
Nam vào khoảng 1 - 1.5 tỷ USD mỗi năm, trong vòng ít nhất là 2 thập kỷ, Chính
Báo cáo tốt nghệp
25