Luận văn
1
Để tài: “Những giải pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động xuất khẩu mặt hàng da giày của
các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.”
MỤCLỤC
Trang
LỜINÓIĐẦU………………………………………………………………………………….… 1
Chương I:Khái niệm, vai trò và hiệu quả xuất khẩu hàng hoá 2
1. Khái niệm xuất khẩu………………………………………… ……2
2. Vai trò xuất khẩu…………………………………………….… ….2
2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân…………………………….….2
2.2. Đối với các doanh nghiệp……………………….……….… 3
Chương II: Thực trạng xuất khẩu da giày Việt Nam 3
1. Tình hình xuất khẩu da giày trước kia và những năm gần đây …3
2.Những khó khăn thách thức của da giày Việt Nam……………… 5
Chương III: Một số biện pháp chủ yếu nhằm mở rộng xuất khẩu
vànâng cao hiệu quả hàng da giày Việt
Nam 6
1. Mục tiêu chiến lược phát triển của ngành da giày Việt Nam………6
2.Đầu tư sản xuất, đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng………….7
3.Nghiên cứu mở rộng thị trường……………………………… …….8
4.Xây dựng cơ chế chính để khuyến khích đầu tư và mở rộng ….…9
5.Nâng cao hiệu quả xuất khẩu…………………………………… 10
KẾTLUẬN…………………………………………………………………………………… … 12
2
LỜIMỞĐẦU
Với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hoá- hiện đại
hoá thiên về xuất khẩu. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, cùng với việc
đẩy mạnh tiến trình vận động của nền kinh tế thế giới là toàn cầu hoá và tự do hoá
thương mại. Chúng ta cần phải tăng cường mở rộng thị trường xuất khẩu, dần thay thế
chi tiết linh kiện nhỏ nhất đến các loại máy móc khổng lồ, không chỉ có hàng hoá hữu
hình mà cả hàng hoá vô hình với tỷ trọng ngày càng lớn.
Như vậy, thông qua hoạt động xuất khẩu có thể làm gia tăng ngoại tệ, cải thiện
cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách cho nhà nước, kích thích đổi mới công nghệ,
cải tiến cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống của người dân.
Hình thức cơ bản của xuất khẩu hàng hoá chỉ là hình thức trao đổi hàng hoá giữa các
quốc gia, cho đến nay nóđã phát triển rất mạnh vàđược biểu hiện dưới nhiều hình
thức.
2. Vai trò xuất khẩu.
2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân.
4
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá hiện
đại hoáđất nước. Nguồn gốc quan trọng nhất để thực hiện công nghiệp hoá hiện đại
hoá là xuất khẩu. Nhờ hoạt động xuất khẩu có thể tranh thủ tối đa nguồn vốn kỹ thuật
công nghệ tiên tiến của nước ngoài nhằm thúc đẩy hàng hoá trong nước phát triển,
giải quyết việc làm cho người lao động, từng bước đưa nền kinh tế nước ta hoà nhập
với nền kinh tế thế giới.
Có xuất khẩu mới phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển, xây dựng nền sản
xuất xã hội chủ nghĩa, cải thiện đời sống của nhân dân. Giữa sản xuất và xuất khẩu có
mối liên hệ chặt chẽ. Quy mô, tốc độ phát triển của xuất khẩu do trình độ phát triển
của sản xuất quy định. Việc xuất khẩu những sản phẩm do trong nước sản xuất ra
cóảnh hưởng lớn đến sản xuất, đến công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân
dân, tăng thu nhập quốc dân.
Cóđẩy mạnh mới tăng thu ngoại tệ và tích luỹ vốn. Công cuộc công nghiệp hoá
hiện đại hoáđất nước và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội đòi hỏi
phải có một số vốn lớn. Xuất khẩu đóng vai trò khuyến khích và mở rộng sản xuất
phát triển, do đó góp phần đáng kể vào việc tích luỹ vốn phục vụ công nghiệp hoá.
Xuất khẩu góp phần phục vụ tốt đường lối mở rộng quan hệ kinh tế với nước
ngoài của Đảng và Nhà nước.
2.2. Đối với các doanh nghiệp.
không có xuất khẩu thìđến năm 1992 đã xuất khẩu được 5triệu USD vàđã tăng liên
tục với tốc độ cao. Trong những năm gần đây da giày Việt Nam đã có mặt trên 129
quốc gia. Năm 2001 so với năm 1992 – tức là sau 9 năm – kinh ngạch xuất khẩu da
giày đã gấp 312 lần, bình quân một năm tăng tới 89.3%. Đó là tỗc độ tăng rất cao –
6
cao nhất so với các mặt hàng chủ lực khác trong thời gian tương ứng. Tám tháng đầu
năm 2002 kim ngạch xuất khẩu da giày đãđạt 1256 triệu USD. Đứng thứ 3 sau mặt
hàng dầu thô (1940 Triệu USD), dệt may (1593 triệu USD) so với tám tháng đầu năm
2001, là mức tăng cao nhất so với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác. Kim ngạch
xuất khẩu da giày Việt Nam từ chỗ không có gì sau 10 năm phát triển đã vượt lên
đứng thứ 4 Thế Giới sau Trung Quốc, Hồng Kông, Italia.
Bộ công nghiệp cho biết, nhờ các doanh nghiệp chủđộng xúc tiến thương mại,
chuyển đổi cơ cấu sản phẩm kim nghạch xuất khẩu da giày trong 3 tháng đầu năm
2006 vẫn đạt khoảng 816 triệu USD, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước.
Như vậy da giày là một trong những ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân về nhiều mặt, như giải quyết công ăn việc làm cho lao động xã hội, lợi thế
cạnh tranh trong xuất khẩu với kim ngạch khá cao và tăng liên tục.
2. Những khó khăn thách thức của da giày Việt Nam.
Bên cạnh những kết quảđãđạt được, ngành da giày nước ta năm vừa qua có biết
bao khó khăn thử thách. Các doanh nghiệp da giày đứng trước yêu cầu đòi hỏi của thị
trường.
Thứ nhất: Khâu nguyên vật liệu để sản xuất, cả nước hiện chỉ có 2 nhà máy
thuộc da nhưng cũng không đủ da để chế biến, phải nhập da muối từ nước ngoài: phần
nguyên liệu trong nước chỉ chiếm khoảng 20% nhu cầu sản xuất do hạn hán, lũ lụt
ảnh hưởng đến chăn nuôi gia súc…
Thứ 2: Phương thức hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất da giày xuất
khẩu là gia công, nên kim ngạch xuất khẩu thì lớn, nhưng kim ngạch thực thụ thìít.
Thứ 3: Vẫn còn tồn tại 20% doanh nghiệp Việt Nam là những doanh nghiệp
quy mô nhỏ, kỹ thuật sản xuất và công nghệ kém, năng suất lao động thấp, năng lực
cạnh tranh yếu. Trình độ cán bộ quản lý, trình độ tay nghề còn thấp, nhất là kỹ thuật
thế giới.
Theo đánh giá và nhận xét của các chuyên gia thế giới về ngành giày dép, trong
những năm tới các nước Châu Á và Viễn Đông sẽ chiếm tới 75% sản lượng da giày
trên toàn thế giới ( khoảng trên 10 tỷđôi). Trong đó Việt Nam cũng là một trong
những nước có tiềm năng để phát triển ngành hàng này.
Hiện nay, EU là thị trường nhập khẩu chủ yếu các sản phẩm da giày của Việt
Nam, theo số liệu từ Tổng cục Hải quan Việt Nam kim ngạch xuất khẩu của nghành
chiếm xấp xỉ 80%, với trị giá trên 2tỷ USD mỗi năm. Chúng ta cần củng cố và phát
triển thị trường này, khai thác tối đa các ưu đãi mà thị trường này còn dành cho Việt
Nam chưa bị quản lý bằng hạn ngạch được hưởng ưu đãi thuế quan, bằng 70% mức
thuế bình thường nếu bảo đảm tiêu chuẩn xuất xứ. Tăng cường các mối quan hệ kinh
doanh trực tiếp với các Nhà nhập khẩu EU, một vấn đềđang được EU quan tâm.
NhậtBản là thị trường mà Việt Nam xuất khẩu giầy dép lớn nhất trong khu vực
Châu Á. Trong những tháng đầu năm, mức tăng trưởng xuất khẩu sang thị trường này
tăng khá cao, có thời điểm như hai tháng đầu năm 2006 tăng tới 75.8%. Xuất khẩu
giầy dép vào Nhật đang tăng cả về thị phần và kim ngạch. Việt Nam đã vượt qua
Indonsia vươn lên vị trí thứ 3 chỉđứng sau Trung Quốc và Italia.
Mỹ là nước có nhu cầu tiêu thụ và nhập khẩu lớn nhất Thế giới. Hàng năm nhập
khẩu khoảng 1.4 tỷđôi da giày các loại trị giá khoảng14 – 15 tỷ USD. Năm 2004 sản
lượng của ngành da giày xuất khẩu vào thị trường Mỹ tiếp tục gia tăng, đạt 423 triệu
USD, chiếm 15% kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành. Đóng góp cho con số này là
các công ty lớn của Việt Nam và các công ty có 100% vốn nước ngoài, đó là công ty
Huy Hoàng, công ty TNHH Duy Hưng.
2. Đầu tư sản xuất, đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm
9
Ngày nay, để sản phẩm có thể cạnh tranh và thâm nhập vào thị trường buộc
các nhà doanh nghiệp phải áp dụng khoa học tiên tiến, nhưng đểđạt hiệu quả cần phải
có sự lựa chọn vàđịnh hướng phù hợp với điều kiện của từng xí nghiệp và trình độ của
công nhân vì thế việc áp dụng một mô hình sản xuất chuyên môn hoá cao như các
nước phát triển làđiều không dễ dàng mà cần lựa chọn máy móc, công nghệ phù hợp
tiềm năng như Trung Đông, Châu Phi; đồng thơì tiếp tục đầu tư, đổi mới công nghệđể
sản xuất các sản phẩm cao cấp tập trung vào những mặt hàng không bịáp dụng thuế
như giầy thể thao và giày trẻ em. Chương trình xúc tiến Thương mại trọng điểm của
ngành Da giày Việt Nam năm 2005 đãđược thông qua. Các nội dung chính của
chương trình sẽđược triển khai trong năm nay và các năm tiếp theo. Đó là: Thông tin
thương mại, tuyên truyền xuất khẩu, lập cơ sở dữ liệu hỗ trợ DN; tổ chức các khóa
đào tạo, hội thảo liên quan đến hoạt động xúc tiến thương mại; tham gia các hội trợ
triển lãm quốc tế ngành da giày và khảo sát thị trường; ứng dụng giao dịch trực tuyến
trong thương mại điện tử của ngành da giày Việt Nam. Chương trình hội trợ, triển
lãm, khảo sát thị trường năm 2005 do Hiệp hội Da giày Việt Nam tổ chức bao gồm 8
chuyến đi: Cộng Hòa Liên Bang Đức, Đông Quan- Quảng Đông (Trung Quốc),
Tokyo-Oshaka-Ichia( Nhật Bản), Las Vegas(Hoa Kỳ), Dusedorf( CHLB Đức),
Thượng Hải- Ôn Châu(Trung Quốc), Brazin và TP. Hồ Chí Minh.
Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm năm 2005 chắc chắn sẽ mang lại
nhiều đơn hàng cho các doanh nghiệp, nâng cao trình độ cho các cán bộ nghiệp vụ;
tạo cơ hội xâm nhập thị trường mới; được cập nhật thông tin kịp thòi; quảng bá uy tín
11
DN trên thị trường quốc tế; thu lợi nhiều hơn từ kết quả sản xuất, kinh doanh và gia
tăng kim ngạch xuất khẩu.
4.Xây dựng cơ chế chính sách để khuyến khích đầu tư và mở rộng.
Thu hút sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, kết hợp với việc nâng cấp vàđổi mới
công nghệ. Ngành da giày hiện nay đang cần rất nhiều vốn đểđầu tưđổi mới công
nghệ nhằm phát triển đồng bộ. Trong những năm này, nhu cầu về nâng cấp máy móc
hiện đại là rất lớn để sản xuất ra da chất lượng cao, mẫu mãđa dạng.
Việc sử dụng nguồn vốn huy động phải đựơc phân bố một cách hợp lý, phải
tính đến hiệu quả tài chính là cơ sởđánh giá quan trọng nhất kết hợp với hiệu quả
chung lợi ích của xã hội.
Ngành da giày Việt Nam phải chú trọng đến giải pháp đầu tư chiều sâu, nâng
cấp đổi mới công nghệđể phát triển ngành da giày Việt Nam thực sựtrở thành một
ngành mũi nhọn cho xuất khẩu, có năng lực cạnh tranh cao trên các thị trường lớn.
trực tiếp của nước ngoài , bởi các đối tác trực tiếp nước ngoài chủ yếu là các nước,
các công ty trong khu vực Đông Nam Á. Vì thế khi xảy ra khủng hoảng tài chính , các
nước này gặp nhiều khó khăn buộc họ phải rút vốn vềđểổn định hoạt động kinh doanh
trong nước .
Cải cách hành chính giảm khó khăn về thủ tục cho nguồn xuất khẩu: Trên
thị trường, giá cả có thể rất quan trọng. Nhưng chất lượng luôn là yếu tốđược quan
tâm hàng đầu. Người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà các
dịch vụ khách hàng bao gồm cả dịch vụ sau khi bán hàng . Nét độc đáo vàđặc biệt của
sản phẩm so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh sẽ có thu hút lớn đối với người
tiêu dùng. Do đó, cần đầu tư cho các khâu quản cáo, tiếp thị, cải tiến công nghệ ,
13
nghiên cứu va phát triển để tạo ra sự khác biệt giữa sản phẩm của mình đối với đối
thủ cạnh tranh . Bí quyết ởđây chính là tính sáng tạo. Các công ty da giày Việt Nam
cần tận dụng mọi cơ hội nghiên cứu thị trường và kế hoạch để nắm được đặc điểm của
thị trường: Nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng và kênh phân phối trên thị trường,
từđóđưa ra các biện pháp thích hợp để cải tiến, nâng cao vàđa dạng hóa sản phẩm.
KẾTLUẬN
Triển vọng phát triển của ngành da giày Việt Nam trong những năm tới là to
lớn, trên cơ sở khai thác tiềm năng và lợi thế mà nước ta cóđược phù hợp với yêu câù
và cơ hội phát triển của ngành da giày xuất khẩu. Bên cạnh những tiềm năng và lợi
thế, chúng ta có không ít những vấn đề cần được giải quyết như nêu trên đểđưa ngành
gia công xuất khẩu giày còn non trẻ hiện nay thành một ngành công nghiệp da giày
vững mạnh cóđủ khả năng hội nhập và cạnh tranh có hiệu quả trong những năm tới.
Qua đó ta có thể rút ra được ngành xuất khẩu nói chung, ngành xuất khẩu da giày Việt
Nam nói riêng có một vị trí hết sức quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Nó
14
tham gia góp phần tạo nên vị thế của Đất nước trên thương trường quốc tế. Để có thể
phát triển được nó hay không điều đóđang còn là một câu hỏi lớn mà các nhà doanh
nghiệp Việt Nam cần phải trả lời nó. Bằng việc đánh giá khách quan về vị trí xuất
khẩu da giày của Việt Nam nhìn thẳng vào những gìđãđạt được và những gì còn là