BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Một số giải pháp nhằm mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty
cổ phần xi măng Cao Ngạn
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Những thành tựu phát triển kinh tế đất nước ta đạt được trong những
năm qua đã khẳng định được sự đúng đắn trong đường lối của Đảng và nhà
nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế nhiều
thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng XHCN. Trong cơ chế đó, mục tiêu của các doanh nghiệp là đáp
ứng tốt nhu cầu của thị trường và đạt được mục tiêu lợi nhuận của doanh
nghiệp. Để thực hiện được điều đó, vấn đề tiêu thụ trở nên sống còn đói với
doanh nghiệp. Qua thời gian thực tập tại công ty cổ phần xi măng Cao Ngạn
cùng với việc tìm hiểu xem xét tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của công
ty em thấy HĐSXKD của công ty đã đạt được một số kết quả nhưng bên cạnh
đó công ty cũng gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng tiêu thụ sản phẩm.
Xuất phát từ thực tế, cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn,Thầy giáo
GS.TS Đỗ Hoàng Toàn và sự giúp đỡ tận tình của ban lãnh đạo công ty, các
anh chị phòng kinh doanh, em đã mạnh dạn chọn đề tài : “ Một số giải pháp
nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần xi măng
Cao Ngạn “.
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận chuyên đề bao gồm 3 phần như sau:
Phần I : Lý luận chung về tiêu thụ sản phẩm.
Phần II : Tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty cổ phần xi măng Cao Ngạn.
2
Phần III : Những biện pháp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
của Công ty cổ phần xi măng Cao Ngạn.
3
Doanh nghiệp công nghiệp
Thị trường sản phẩm
đó xuất hiện phạm trù thị trường. Sản xuất hàng hoá và phân công lao động
càng phát triển thì đòi hỏi thị trường cũng phát triển theo
Cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh
lành mạnh, hợp pháp văn minh. Cạnh tranh vì lợi ích đất nước chứ không phải
phá sản hàng loạt, lãng phí nguồn lực và thôn tính lẫn nhau.
Cơ chế thị trường phát huy tích cực đến phát triển kinh tế xã hội đồng
thời cũng tác động tiêu cực với bản chất của CNXH. Do đó để vận dụng cơ
chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của nhà nước
nhằm ngăn ngừa hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực. Xóa bỏ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, hình thành đồng bộ các yếu tố của thị trường đồng
thời xây dựng, hoàn thiện các công cụ pháp luật, kế hoạch, các thiết chế tài
chính, tiền tệ và những điều kiện cho cơ chế thị trường hoạt động hữu hiệu.
1.2. Vai trò của thị trường đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Có thể thấy rằng thị trường có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đến sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bởi nếu doanh nghiệp sản xuất ra nhiêu
sản phẩm nhưng không tiêu thụ được thì hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp chắc chắn sẽ bị gián đoạn ngừng trệ, vòng quay của đồng vốn giảm. Vì
vậy mỗi doanh nghiệp trong quá trình sản xuất phải được diễn ra liên tục và
hoạt động theo chu kỳ: từ khi mua các yếu tố đầu vào là nguyên vật liêu, vật
tư, thiết bị đến khi tiết hành sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ để
tiêu thụ ra thị trường và quá trình này diễn ra liên tục biết đổi không ngừng,
kết thúc quả quá trình này là mở đầu của giai đoạn khác.
Nguồn : [7]
5
Tiền
Tiền
hơn so với đối thủ cạnh tranh.
6
2. Doanh nghiệp.
2.1. Khái niệm doanh nghiệp.
Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh
theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh" Nguồn [10]
2.2 Phân loại các loại hình doanh nghiệp.
Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau mà có thể chia doanh nghiệp ra thành
nhiều loại khác nhau.
Nếu dựa vào tiêu chí sở hữu thì doanh nghiệp có thể chia ra thành
Doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp quốc doanh), doanh nghiệp ngoài quốc
doanh.
+ Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn
thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích
nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội do Nhà nước giao. Dựa trên mục
đích và đặc điểm hoạt động, doanh nghiệp Nhà nước được chia thành doanh
nghiệp kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích.
+ Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là do các chủ thể khác nhau trong
nền kinh tế lập ra, tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh và mục tiêu lợi
nhuận là phương châm hay kim chỉ nan cho hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có thể chia ra thành: công ty hợp danh,
công ty TNHH, công ty Tư nhân, công ty Liên doanh, công ty có vốn đầu tư
nước ngoài, công ty cổ phần
3. Quan hệ giữa thị trường và doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được quyền tự chủ trong sản
xuất kinh doanh. Vì vậy giữa doanh nghiệp và thị trường có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Sản xuất và tiêu dùng gặp nhau trên thị trường để xác định giá
trị, giá trị sử dụng của hàng hoá một cách khách quan và tự nguyện. Do vậy 3
nhiên ở mỗi thời kỳ, mỗi cơ chế kinh tế khác nhau, hoạt động tiêu thụ sản
phẩm cũng được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau.
8
Tiêu thụ sản phẩm giải quyết mối quan hệ giữa người mua và người
bán, trực tiếp giải quyết những mâu thuẫn về quyền lợi thông qua giá cả.
Tiêu thụ là hoạt động nằm trong tổng thể chung cùng với các hoạt động
khác trong hệ thông kinh tế của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp muốn đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm thì phải nâng
cao tốc độ cạnh tranh trong sự cố gắng chung của doanh nghiệp.
1.3. V ai trò.
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình SX và là yếu tố quyết định
sự tồn tại, phát triển hay phá sản của doanh nghiệp. Thông qua việc tiêu thụ
sản phẩm mà vị thế và mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp được thực hiện.
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình lưu thông hàng hoá làm cho quá trình tái
sản xuất được diễn ra một cách thường xuyên và liên tục. Nhờ tiêu thụ làm
thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hoá phong phú và đa dạng hơn.
Thông qua tiêu thụ tạo mối quan hệ cung cầu doanh nghiệp sẽ tận dụng
cơ hội để khai thác nguồn lực của mình và tạo sức cạnh tranh trên thị trường.
Thông qua tiêu thụ cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, người tiêu dùng
có được giá trị và giá trị sử dụng mà minh mong muốn đồng thời doanh
nghiệp cũng đạt được mục tiêu kinh doanh của mình. Qua đó doanh nghiệp có
thể nắm bắt nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng để mở rộng sản xuất tạo ra
nhiều sản phẩm mới.
Như vậy tiêu thụ sản phẩm giúp doanh nghiệp thu hồi vốn từ vốn hàng
hoá chuyển sang vốn tiền tệ và vòng tuần hoàn của vốn hoàn thành theo công
thức T- H - T’ trong đó T’ = T + ∆T
Số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra (∆T ), C.Mác gọi là giá trị thặng
dư. Số tiền ứng ra ban đầu chuyển hoá thành tư bản. Vậy tư bản là giá trị
mang lại giá trị thặng dư. Mục đích lưu thông tư bản là sự lớn lên của giá trị,
là giá trị thặng dư, nên sự vận động của tư bản là không có giới hạn, vì sự lớn
thống và toàn diện về các thông tin về thị trường giúp các nhà quản trị có được
thông tin chính xác kịp thời, đầy đủ về sự biến động của thị trường để từ đó ra
10
Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứuThiết kế dự án nghiên cứu chính thứcThực hiện việc thu thập và xử lý số liệu
Xử lý thông tin
Tình bày và báo cáo kết quả nghiên cứu
quyết định đúng, là căn cứ quan trọng để các nhà quản lý hoạch định chiến
lược phát triển doanh nghiệp.
Mục tiêu chủ yếu của nghiên cứu thị trường là đánh giá khả năng tiêu
thụ sản phẩm mà doanh nghiệp đã có hoặc dự báo trong tương lai gần sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ này sẽ được người tiêu dùng chấp nhận. Nghiên
cứu dự báo phải chỉ ra được khi nào thì khách hàng cần, số lượng là bao nhiêu,
chất lượng như thế nào, cơ cấu sản phẩm, mẫu mã bao bì, địa điểm cung cấp
ra sao Các loại nghiên cứu thị trường như sau
- Nghiên cứu mô tả (phát hiện vấn đề )
- Nghiên cứu thăm dò (nghiên cứu thái độ, dự định, hành vi của
khách hàng, số lượng và chiến lược của đối thủ cạnh tranh)
- Nghiên cứu nhân quả (chia tách các nguyên nhân quan trọng
ảnh hưởng đến một kết quả nào đó).
Các bước tiến hành nghiên cứu.
Nguồn[8]
2.2. Thiết kế công nghệ và sản phẩm.
Sau khi đánh kết thúc giai đoạn nghiên cứu và dự báo thị trường, doanh
nghiệp đi vào tiến hành nghiên cứu để đưa ra các sản phẩm phù hợp với thị
hiếu của người tiêu dùng và công nghệ để tạo ra sản phẩm này. Việc thiết kế là
quá trình chuyển từ những thông tin ý tưởng thành những sản phẩm hữu hình
thông qua công nghệ của nó. Nguyên tắc cơ bản của thiết kế sản phẩm là bắt
đầu đi từ thị trường, sản phẩm được tạo ra sao cho người sử dụng có thể nhận
biết được sản phẩm, hiểu được sản phẩm và biết sử dụng sản phẩm mà không
11
nghiệp có trên thị trường và được thị trường chấp nhận, doanh thu trừ chi phí
phải đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Việc đánh giá chiến lược sản phẩm
được thông qua chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất, cụ thể: Chỉ tiêu này gồm
nhiều chỉ tiêu phản ánh từng mặt khác nhau của kết quả sản xuất. Kết quả
đánh giá phải đi từ tổng quát đến cụ thể thông qua hệ thông chỉ tiêu phù hợp
với từng loại hình doanh nghiệp. Việc phân tích và đánh giá khả năng thích
ứng của sản phẩm đối với thị trường là việc làm hết sức quan trọng vì uy tín
của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Khi phân tích phải đánh giá
đúng chất lượng sản phẩm thông các chỉ tiêu về bao bì, mẫu mã, chất lượng,
kích thước, từ việc tìm hiểu thị hiếu khách hàng, nghiên cứu ưu thế cạnh
tranh để có sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường. Thị trường không
ngừng vận động và biến đổi, do vậy doanh nghiệp phải có những cái nhìn mới
để tìm ra con đường đi riêng của mình trên thị trường, để phát triển và phát
triển một cách bền vững.
2.3.12. Chính sách giá.
Giá cả của sản phẩm liên quan đến nhiều yếu tố như liên quan đến sự
chu chuyển của tiền tệ, lên quan đến tất cả giá trị trên tất cả các biến số vô
hình và hữu hình, đặc diểm sản phẩm, ấn tượng mua hàng, địa điểm bán hàng.
Nghĩa là việc hoạch định chính sách giá của sản phẩm gắn liền với bản thân
sản phẩm với phân phối chính sách thúc đẩy. Việc xây dựng chính sách giá cả
có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp. Các chính
sách giá thường được áp dụng:
* Chính sách giá linh hoạt:
Chính sách giá này phản ánh phương thức áp dụng mức giá đối với các
đối tượng khách hàng như thế nào. Để từ đó doanh nghịêp đưa ra chính sách
một giá hay chính sách giá kinh hoạt.
- Chính sách giá linh hoạt là chính sách giá đưa ra cho khách hàng khác
nhau với các mức giá khác nhau trong điều kiện tương đối giống nhau và cùng
một khối lượng.
13
Người sản xuất
Nhà phân phối trung gian
Người tiêu dùng
Người sản xuất Người bán buôn Người môi giới Người bán lẻ Người tiêu dùng
người bán buôn
Người bán lẻ
Người sản xuất
hoạt động theo không gian tư khi kết thúc quá trình sản xuất và cuối cùng là
người tiêu dùng nhận được sản phẩm.
- Kênh phân phối là tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập và
phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa hàng hoá từ sản xuất đến tiêu
dùng. Hay nói cách khác đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện
các hoạt động làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ sẵn sàng cho người tiêu dùng
hoặc sử dụng công nghiệp, để họ có thể mua và sử dụng. Nguồn [6]
Xây dựng chiến lược phân phối với mục tiêu cung cấp cho khách hàng
đúng sản phẩm, đúng thời gian. Ngoài ra còn góp phần thúc đẩy sản xuất hàng
hoá, kích cầu tiêu dùng, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Có nhiều hình thức phân phối hàng hoá nhưng phần lớn được thông
qua 2 kênh chủ yếu: kênh trực tiếp và kênh gián tiếp.
Kênh 1 cấp
Kênh 2 cấp
Kênh 3 cấp
Kênh 4 cấp
Nguồn: [5]
15
Người tiêu dùng
Trong đó:
Kênh 1 cấp - Kênh tiêu thụ trực tiếp
Kênh 2 cấp - Kênh tiêu thụ trực tiếp
Kênh 3 cấp - Kênh tiêu thụ gián tiếp
chào hàng phát giá, bên mua và bên bán có thể thoả thuận trao đổi để thực
hiện mua bán sản phẩm. Phương thức này tạo điều kiện cho cả người sản xuất
lẫn trung gian hoàn toàn chủ động trong sản xuất cũng như tiêu thụ với mức
giá của mình.
+ Hình thức liên kết và tiêu thụ sản phẩm: Tuỳ theo điều kiện sản xuất
của doanh nghiệp và khả năng hợp tác của đối tác để quyết định hình thức liên
kết sản xuất và tiêu thụ. Hình thức này tạo thêm nguồn hàng đáp ừng nhu cầu
xã hội.
Ưu điểm: Doanh nghiệp có khả năng tiêu thụ khối lượng hàng hoá lớn
trong thời gian ngắn, đẩy nhanh quá trình sản xuất và vòng quay của đồng
vốn. Nhà sản xuất và nhà phân phối có khả năng chuyên môn hoá cao. Vậy
nên doanh nghiệp sản xuất có thể đầu tư vào sản xuất và tăng năng xuất lao
động và tăng khả năng cung ứng cho thị trường.
Nhược điểm: Thời gian lưu thông hàng hoá dài, chi phí cao do đó dẫn
đến giá cả hàng hoá đến tay người tiêu dùng cao so với nơi sản xuất. Doanh
nghiệp không thể kiểm soát được giá bán trên thị trường đối với các trung
gian. bên cạnh đó doanh nghiệp cũng không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng
cuối cùng nên những thông tin về nhu cầu khách hàng đối với sản phẩm còn
chậm.
Hai phương thức trên đều có những ưu và nhược điểm nhất định. Do đó
trong thực tế doanh nghiệp thường áp dụng cả 2 hình thức để đảm báo lợi ích
cho nhà sản xuất, người trung gian và người tiêu dùng.
17
2.3.3. Công tác yểm trợ xúc tiến bán hàng.
Ngày nay nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập và phát triển với sự
ra đời của nhiều ngành mới, lĩnh vực mới nhằm đáp ứng nhu cầu của con
người. Đó là cơ hội lớn đối với doanh nghiệp vì khi nhu cầu tăng thì kéo theo
nhu cầu về sản phẩm cũng tăng theo. Xong bên cạnh đó doanh nghiệp cũng
gặp phải những thách thức trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đắc
biệt là vấn đề tiêu thụ sản phẩm. Do sự cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh
tin do quảng cáo cung cấp không chi giới thiệu một cách thuần tuý về loại
hàng hoá dịch vụ mà doanh nghiệp muốn cung cấp cho người nhận những giá
trị thẩm mỹ khác, khó có thể tìm thấy qua âm thanh và sự tinh tế. Hơn nữa
nghệ thuật còn thể hiện sự lôi cuốn khác hàng, có nhiều hình thức quảng cáo
khác nhau như truyền hình, đài phát thanh, báo chí, Tuy nhiên mỗi loại hình
đều có những ưu nhược điểm riêng, do vậy tuỳ thuộc vào đặc thù của mỗi
ngành, mỗi doanh nghiệp mà lựa chọn cho mình một hình thức phù hợp.
+ Hội chợ, triển lãm:
Hội chợ thương mại là hoạt động tập trung trong một thời gian và địa
điểm nhất định, ở đó cá nhân sản xuất kinh doanh được trưng bày, giới thiệu
sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng.
Triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại thông qua việc
trưng bày hàng hoá, tài liệu về sản phẩm của doanh nghiệp.
Thông qua hội chợ triển lãm doanh nghiệp vừa quảng cáo vừa giới thiệu
sản phẩm của mình tới khách hàng, đồng thời thu thập thông tin về thị trường
đối thủ cạnh tranh tạo điều kiện mở rộng thị trường.
+ Các dịch vụ sau bán hàng: công tác chăm sóc khách hàng ngày càng
được doanh nghiệp quan tâm như công tác bảo hành và sửa chữa sản phẩm.
2.4. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm.
19
Sau khi xác định được các yếu tố trên, doanh nghiệp tiến hành đưa sản
phẩm ra ngoài thị trường và đưa ra các phương án cụ thể để ra quyết định cho
quá trình tiêu thụ.
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của hoạt động kinh doanh, hoạt động
này là hoạt động mang tính nghệ thuật và tác động đến tâm lý người tiêu dùng
nhằm mục đích là bán được nhiều nhất hàng hoá. Quá trình bán hàng bao gồm
nhiều giai đoạn có quan hệ mật thiết với nhau. công việc tổ chức bao gồm việc
xác định cơ cấu và liên kết các hoạt động khác nhau của tổ chức. Nguồn [11]
2.5. Phân tích và đánh giá kết quả tiêu thụ.
Sau mỗi một kỳ kinh doanh, doanh nghiệp nghiệp nào cũng vậy họ phải
doanh nghiệp vì doanh nghiệp là một tế bào trong nền kinh tế quốc dân. Hoạt
động tiêu thụ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố nhưng quy
về hai nhóm nhân tố chính là nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan
Nguồn [6] và Nguồn [4]
1. Nhân tố khách quan.
Nhân tố khách quan là bao gồm các điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và
hoạt động nhưng đó là những yếu tố nằm ngoài doanh nghiệp mà doanh
nghiệp không thể kiểm soát được mà chỉ thích ứng nó theo để phát triển.
Môi trường khách quan có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh
doanh nói chung và hoạt động tiêu thu của doanh nghiệp nói riêng, nó có thể
tạo ra cơ hội kinh doanh thuận lợi cũng như thách thức trở ngại đối với doanh
nghiệp.
Một số nhân tố khách quan chính gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn [1]
* Môi trường kinh tế:
Các nhân tố thuộc môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó có vai trò cực kỳ quan trọng và
quyết định hàng đầu. Bao gồm các yếu tố:
21
- Lãi suất: lãi suất cao hay thấp đều có ảnh hưởng trực tiếp đến kinh
doanh và nhu cầu thị trường, lãi suất cao thì người tiêu dùng sẽ bỏ tiền vào tiết
kiệm và khi đó đầu tư cho sản xuất sẽ giảm đi và nhu cầu về thị trường về tư
liệu sản xuất sẽ giảm đi và ngược lại.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng phản ánh
tốc độ phát triển của thị trường.
- Tỷ lệ lạm phát: đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh tính chất ổn định hay
bất ổn của nền kinh tế. Lạm phát cao giúp cho doanh nghiệp phát triển nóng,
nhưng không bền vững.
* Môi trường chính trị – pháp luật:
Các yếu tố chính trị và luật pháp là nền tảng quy định các yếu tố khác
phú và được người tiêu dùng chấp nhận nhiều hơn.
- Phong tục tập quán, truyền thống văn hoá tín ngưỡng ảnh hưởng lớn
đến thói quen tiêu dùng của người dân thuộc những tầng lớp khác nhau, các
dân tộc khác nhau. Để từ đó doanh nghiệp cần phải có chiến lược sản phẩm
thích ứng cho từng thời điểm, vùng và tập quán tiêu dùng tác động mạnh đến
quá trình tiêu thụ sản phẩm và tác động đến phương thức tiêu thụ của doanh
nghiệp.
* Môi trường cạnh tranh giữa các nhà sản xuất
- Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Là những đối thủ chưa xuất hiện nhưng sẽ
xuất hiện trong tương lai đối với mỗi mỗi ngành hay doanh nghiệp khác nhau
thì sức ép của đối thủ tiềm ẩn cũng khác nhau nó phụ thuộc vào rào cản xâm
nhập, lợi thế do quy mô sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm, sự đòi hỏi phải có
nguồn tài chính lớn, chi phí chuyển đổi mặt hàng cao, khả năng hạn chế trong
việc xâm nhập các kênh tiêu thụ
- Sức ép của nhà cung cấp
Doanh nghiệp thường xuyên có mối quan hệ với nhà cung cấp khác
nhau: Nhà cung cấp thiết bị lao động, tài chính và nhà cung cấp vật tư. Lực
23
lượng này có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Điều cần quan tâm đối với các doanh nghiệp đó là những tác động tiêu
cực có thể đe doạ doanh nghiệp, những lực lượng này chỉ gây sức ép đối với
doanh nghiệp khi có ít nhà cung cấp, có ít sản phẩm thay thế và khi nhà cung
cấp có ưu thế chuyên biệt hoá sản phẩm và dịch vụ. Chính sức ép của nhà
cung cấp về giá cả và về chất lượng sản phẩm và thời gian cung cấp đã ảnh
hưởng rất nhiều đến kế hoạch sản xuất và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp.
- Sức ép từ phía khách hàng
Ngày nay nhu cầu của con người ngày càng cao, yêu cầu của người tiêu
dùng về chất lượng, mẫu mã và giá cả ngày càng lớn do đó sức ép của người
tiêu dùng đối với nhà sản xuất ngày càng cao, tuy nhiên sức ép này cao hay
định lượng được. Nó bao gồm: Vốn (tài chính), Máy móc thiết bị (cơ sở vật
chất), nguồn nhân lực
+ Yếu tố tài chính, yếu tố này là yếu tố sống còn, yếu tố đầu tiên của
quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm. Khi đề cập đến vấn đề vốn
người ta thường quan tâm đến quy mô vốn, cơ cấu vốn (cơ cấu sở hữu, cơ cấu
vốn lưu động và vốn cố định), tốc độ thu hồn vốn, khả năng thanh toán (thanh
toán nhanh, khả năng chi trả dài hạn ), nguồn huy động vốn, chất lượng sử
dụng vốn
+ Nguồn lực về cơ sở vật chất kỹ thuật:
Đó là toàn bộ cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, máy móc trang thiết bị, phương
tiện giao thông vận tải Đây là nhân tố quyết định trực tiếp đến chi phí, giá
thành, năng suất chất lượng sản phẩm và khả năng đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ
sản phẩm. Công nghệ càng hiện đại thì sản phẩm sản xuất ra có chất lượng,
giảm chi phí hạ giá thành đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, và
sản phẩm được khách hành sử dụng thì thị phần của doanh nghiệp ngày càng lớn.
+ Yếu tố lao động (nguồn nhân lực). Chất lượng nguồn nhân lực là yếu
tố sống còn của doanh nghiệp, vì con người vận hành máy móc tạo ra sản
phẩm và tiêu thụ sản phẩm, điều đó có nghĩa là không gì có thể thay được con
người trong quá trình tạo ra và tiêu thụ sản phẩm. Khi xem xét đến các yếu tố
25