Báo cáo thực tập
“Mở rộng cho vay kinh doanh ngắn
hạn đối với doanh nghiệp tại
Eximbank Hà Nội”
1
MỤC LỤC
Mở bài
.Hiện nay, với xu thế hội nhập thế giới, nhu cầu vốn nhằm để đầu tư xây dựng
và sản xuất kinh doanh đang là một vấn đề rất cấp thiết. Như ta đã biết rằng, hiện
nay doanh nghiệp khi cần vốn sẽ có hai cách huy đông: phát hành các giấy tờ có
giá và đi vay Ngân hàng. Nhưng với cách phát hành ra các giấy tờ có giá ở nước ta
vẫn chưa thực sự phổ biến, chính vì vậy vay ngân hàng vẫn là một hình thức
truyền thống của các doanh nghiệp nước ta.
2
Đặc biệt trong những năm gần đây, hoạt động ngân hàng tài chính đã được
Đảng - Nhà Nước và các tổ chức kinh tế trên thế giới có sự quan tâm rõ rệt, đó
chính là sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, dự án hiện đại
hoá ngân hàng của ngân hàng quốc tế (WB) tài trợ vv… Đó là những điều kiện
thuận lợi cho quá trình xây dựng, phát triển ngành ngân hàng - tài chính. Song trên
thực tế việc cung cấp, đáp ứng nhu cầu về tín dụng của ngân hàng đối với khách
hàng còn nhiều hạn chế, cụ thể đó là hình thức tín dụng chưa phong phú , nguồn
vốn còn hạn hẹp, quy mô còn nhỏ, chất lượng tín dụng còn chưa cao…
Chính vì vậy quá trình mở rộng cho vay là vấn đề hết sức quan trọng đố với
mỗi ngân hàng trong tình hình hiện nay. Bởi cho vay là một dịch vụ mang lại
nguồn thu nhập chính cũng như danh tiếng của ngân hàng. Với việc phát triển các
hình thức cho vay đã tác động trực tiếp tới các nghành kinh tế, tạo tính ổn định,
vững chắc trong vai trò trung gian tài chính. Đặc biệt trong xu hướng hiện nay thì
việc đầu tư vay vốn sản xuất kinh doanh đang ngày một lớn do xu thế phát triển
của nền kinh tế, chính vì vậy mở rộng cho vay kinh doanh đang là một vấn đề
quan tâm đối với ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng Eximbank Hà
Nội nói riêng.
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong
nền kinh tế.
1. 2.Chức năng của ngân hàng
1.2.1 Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là vận
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chứ
trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tôt chứu tạm thời thâm hụt chỉ tiêu, tức là chi
tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập vàvì thếhọ là những người cần bổ
4
sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức thu nhapạ hiện
tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại củahọ lớnhơn các
khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm.
Sự tồn tại hao loại cá nhân và tổ chứ trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng.
Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng
có lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa
hai nhóm. Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượng
lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng. Nếu
không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn.
Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp về quy
mô, thời gian, không gian…Điều này cản trờ quan hệ trực tiếp phát triển và là điều
kiện nảy sinh trung gian tài chính. Do chuyên môn hoá, trung gian tài chính có thể
làm giảm chi phí giao dịch. Như vậy trung gian tài chính đã làm tăng thu nhập cho
người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng
cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu tư) từ đó khuyến khích đầu tư.
Trung gian tài chính đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giải quyết
được mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp. Cơ chế hoạt động của trung gian sẽ có hiệu
quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các kỹ thuật nghiệp vụ để hạn chế, phân tán
rủi ro và giảm chi phí giao dịch.
Hầu hết các lý thuyết hiện đại đều giải thích sự tồn tại của ngân hàng bằng
cách chỉ ra sự không hoàn hảo trong hệ thống tài chính. Chẳng hạn bằng các
thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để
có được hàng và các dịch vụ theo yêu cầu.Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền
tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông (MO), thứ hai là
số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại các ngân hàng, thứ
ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn…
6
Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách
hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ. Do đó, bằng việc
cho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán (tham
gia tạo ra M1).
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện thanh toán khi
cáckhoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở
cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì
sẽ tạo nên khoản thu ( tức là tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại một
ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vau mới. Trong khi không một ngân
hàng riêng lẻ nào có thể tao cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân
hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bội thông
qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng).
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống ngân hàng tạo ra
chịu tác động trực tiếp của các nhân tố như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt
bắt buộc, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi không phải
là tiền gửi thanh toán…
1.2.3 trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá
và dich vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân
hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc,
uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết
nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực
hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua
nhau:
8
Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang
chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng đượ coi là phương pháp chuyể dịch quỹ từ
người cho vay sang người đi vay.
Xét một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một dao dịch về tài sản trên cơ sở
có hoàn trả giữa hai chủ thể. Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và các
định chế tài chính khác, giữa các doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thức
cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời hạn nhất
định ngươì đi vay phải thanh toán gốc và lãi.
Vậy tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chê tài chính
cung cấp cho khách hàng.
Theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng được hiểu là một giao
dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hóa ) giữa bên cho vay ( ngân hàng và các định chế
tài chính) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong
một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm trả vô điều kiện
gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
2.2.Phân loại các nghiệp vụ tín dụng
Các ngân hàng thương mại lớn hiện nay thực hiện đa dạng hoá các hình thức
tín dụng từ cho vay ngắn, trung và dài hạn, bảo lãnh cho khách hàng, mua cá tàu
sản để cho thuê….Để mở rộng tín dụng cho có hiệu quả, các ngân hàng, bên cạnh
việc phải cây dựng và thực hiện chính sách tín dụng đúng đắn, phải không ngừng
đa dạng hoá các hình thức tín dụngcho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách
hàng.
2.2.1.phân theo hình thức cấp tín dụng
2.2.1.1.Chiết khấu thương phiếu
Thương phiếu được hình thành chue yếu từ quá trình mua bán chịu hàng
hoá và dịch vụ giữa khách hàng với nhau. Người bán (hoặc người thụ hưởng) có
9
thể giữ thương phiếu đến hạn để đòi tiền người mua (hoặc người phải trả) hoặc
ngân hàng xin chiết khấu. Do tối thiểu có hai người cam kết trả tiền cho ngân hàng
nên độ an toàn của thương phiếu tương đối cao (trừ trường hợp ngân hàng kí miễn
truy đòi đối với khách hàng). Hơn nữa , ngân hàng Nhà nước để đáp ứng nhu cầu
thanh khản với chi phí thấp (vì vậy thương phiếu còn được coi là loại tài sản có
khả năng chuyển nhượng –có tính thanh khoản cao).
2.2.1.2.Cho vay:
+Thấu chi:
Trục y: Số tiền gửi thanh toán (đồng)
Trục x: Thời gian
11
y
x
Hạn mức thấu chi
Vay ngân hàng (thực hiện thấu chi)
Số dư tiền gửi thanh toán.
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được
chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định
và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
Để đựơc thấu chi, khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi và
thời gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng).Trong quá trình
hoạt động, khách hàng có thể ký séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ…vựot quá số dư
tiền gửi đề chi trả (song trong hạn mức thấu chi). Khi khách hàng có tiền nhập về
tài khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi. Số lãi mà khách hàng phải trả:
Số lãi phải trả =Lãi suất thấu chi x Thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi
Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử
dụng hình thức này.
Thấu chi dựa trên cở sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thởi
gian và qui mô. Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dự đoán ngân
quỹ song không chính xác. Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi
cho khách hàng trong quá trình thanh toán: Chủ động, nhanh, kịp thời.
cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Khi khác hàng cps thể thực hiện việc vay trả nhiều lần, song dư nợ không
được vượt quá hạn mức tín dụng. Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn
mứac cuối kì. Dư nợ trong kì có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên đến cuối lì,
khách hàng phải trả nợ để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kì không được vượt quá
hạn mức.
13
Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay nộp
các chứng từ chứng minhđác mua hàng hoặc dịch vụ và nêy yêu cầu vay. Sau khi
kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát triển cho
khách hàng.
Đây chính là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn
thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong nghiệp vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ. Khi khách hàng
có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ do đó tạo chủ động quản kú ngân quỹ cho khách
hàng. Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên chỉ
có thể phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính, hoạc dư nợ lâu
không giảm sút.
+Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng
hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng cỏ thể cho vay để
mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc quý, người vay
phải làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau
về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng
tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể được thoả thuận trong 1 năm hợc vài năm. Đây
không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để cho vay nữa hay không tuỳ mối
quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng như tình hình tài chính của khách
hàng.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn
doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá đẻ dự đoán dòng
từ phía ngân hàng và làm đại lý thu tiền cho ngân hàng, hoặc khách hàng trả trực
15
tiếp cho ngân hàng. Đây là hình thức tín dụng tài trợ cho người mua (qua đó đến
người bán)nhằm khuyến khích tiêu thụ hàng hoá.
Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hoá
mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Nếu
người vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ của ngân hàng
cũng bị ảnh hưởng. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là lãi
suất cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
+Cho vay gián tiếp
Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp. Bên cạnh đó ngân
hàng cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp. Đây là hình thức cho vay
thông qua các tổ chức trung gian.
Ngân hàng cho vay qua các tổ chức, tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất,
Hội Nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ…Các tổ chức này thường liên kết
các thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ
quyền lợi cho mỗi thành viên. Vì vậy việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói
giảm nghèo luôn được các tổ chức này rất quan tâm.
Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay dang cá tổ
chức trung gian, như thu nợ, phát tiền vay…Tổ chức trung gian cũng có thể đứng
ra bảo đảm cho các thành viên vay, hoặc cácthành viên trong nhóm bảo lãnh cho
một thàh viên vay. Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc không đủ
tài sản thế chấp.
Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu
cào của quá trình sản xuất. Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế ngươờ vay sử
dụng tiền sai mục đích.
Cho vay trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của ngân hàng.Tuy
nhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của
mình, để tăng lãi suất cho vay lại,hoặc dữ lấy số tiền của cácthành viên khác cho
16
(4)
Hình 9:Thuê-mua
(1)Khách hàng làm đơn gửi ngân hàng nêu yêu cầu về tài sản cần thuê. Sau
khi phân tích dự án và tình hình tài chính của khách hàng, ngân hàng kí hợp
đồng thuê-mua vơi khách hàng.
(2)Ngân hàng tìm kiếm nhà cung cấp để kí hợp đồng mua (hoạc người thuê
chỉ định nàh cung cấp).
(3) Khách hàng có thể gặp nhà cung cấp để nêu yêu cầu về quy cách, chất lượng
tài sản thuê, nhận tài sản thuê, nhà cung cấp có thể phải cam kết bảo hành cho
người thuê.
(4) Ngân hàng kiểm soát tình hình sử dụng tài sản thuê, thu tiền thuê, hoặc thu hồi
tài sản nếu thấy người thuê vi phạm.
-Ngân hàng mua tài sản của người đi thuê để cho thuê lại
Trong những trường hợp khách hàng có tài sản cố định song lại có nhu cầu
mua nguyên nhiên vật liệu. Khách hàng có thể bán tài dản cho ngân hàng (lấy tiền)
với cam kêt s thuê lại tài sản đó. Trong trường hợp này, ngân hàng phải thẩm định
kỹ năng giá trị của tài sản, hiệu quả sử dụng tài sản, thời gian thuê lại…
-Ngân hàng thuê tài sản để cho thuê, hoạc mua trả góp tài sản để cho
thuê
18
Tuỳ theo những yêu cầu cụ thể của người đi thuê với NH, hoạc giữ NH với
những người cung cấp mà ngân hàng có thể đi thuê tài sản hoạc mua trả góp để
cho mua trả góp để cho thuê.
Nếu khách hàng yêu cầi thuê với thời gian ngắn hơn thời gian khấu hao của
tài sản, tài dản đó NH lại khó cho thuê lại, NH có thể chọn hình thức đi thuê để
cho thuê.
Nếu NH khó khăn về nguồn vốn để mua tài dản cho thuê, NH có thể chọn
hình thức đi thuê để cho thuê.
Nếu NH khó khăn về nguồn vốn để mua tài sản cho thuê,NH có thể sử
dụng hình thức mua trả góp để cho thuê.
thay thế tiền kí quỹ bằng bảo lãnh của ngân hàng.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: Là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thất
thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam
kết, gây hậu quả tổn thất cho bên thứ ba.
Các hợp đồng được bảo lãnh như hợp đồng cung cấp hàng hoá, xây dựng m
thiết kế…Việc khách hàng vi phạm hợp đồng như cung cấp không đúng hạn ,
không đúng chất lượng cam kết …đều có thể gây tổn thất cho bên thứ ba. Bảo lãnh
của ngân hàng một mặt bù đắp một phần tổn thất cho bên thứ ba,mặt khác thúc
đẩy khách hàng nghiêm chỉnh thực hiện hợp đồng.
Bảo lãnh đảm bảo tiền ứng trước: Nhiều người cung cấp yêu cầu khách hàng
(người mua hàng hoá dịch vụ) phải đặt trước một phần tiền trong giá trị hợp đồng
cung cấp. Tiền đặt cọc trước một phần tiền cung cấp có một phần vốn để sản xuất
kinh doanh, vừa có tác dụng ràng buộc người mua phải mua hàng đã đặt. Tuy
nhiên, đề phòng người cung cấp không cung cấp hàng đông thời lại không trả tiền
20
đặt cọc, bên mua yêu cầu bên cung cấp không cung cấp hàng đồng thời lại không
trả tiền đặt cọc, bên mua yêu cầu bên cung cấp phải có bảo lãnh của ngân hàng về
việc sẽ trả tiền ứng trước là cam kết của ngân hàng về việc sẽ hoàn trả tiền ứng
trước cho bên mua (người hưởng bảo lãnh) nếu bên cung cấp (người được bảo
lãnh) không trả.
Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay (bảo lãnh vay vốn):Nhiều tổ chức tín dụng
khi cho vay đòi hỏi phải có đảm bảo hoạc bằng hàng hoá, chứng khoán, bất động
sản, hoặc bảo lãnh của người thứ ba…Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng
có nhu cầu vay vốn bằng cách phát hành trái phiếu song nếu uy tín của người vay
trên thị trường đó chưa cao, việc phát hành sẽ rất khó khăn. Điều đó nảy sinh nhu
cầu bảo lãnh vay vốn. Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay và cam kết của ngân
hàng đối với người cho vay (tổ chức tín dụng các cá nhân…) về việc sẽ trả gốc và
lãi đúng hạn nếu khách hàng (người đi vay) không trả được.
Bảo lãnh đảm bảo thanh toán: Là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toán
tiền theo đúng hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân
Ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu, gồm cho vay xuất
khẩu, nhập khẩu và cho vay thanh toán.
Ngân hàng cho vay đối với các công ty xây dựng và phát triển đô thị.
Khoản cho vay này thường có thế chấp bằng chính bất động sản của người vay.
2.2.2.2.Tín dụng trung và dài hạn
-Doanh nghiệp có nhu cầu tín dụng trung và dài hạn để mua sắm trang thiết
bị, xây dựng, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ…Với sự phát triển nhanh chóng của
khoa học và công nghệ, để tồn tại và phát triển, nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày
càng tăng.
22
-Nhà nước vay trung và dài hạn để đầu tư phát triển. Vai trò của Nhà nước
trong phát triển ngày càng được nhấn mạnh đặc biệt tại các nước đang phát triển,
nơi mà khả năng tích lũy của các doanh nghiệp chưa cao.
-Ngân hàng cho vay đối với người tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu mua
sắm hàng tiêu dùng lâu bền như nhà cửa, phương tiện vận chuyển.
+Mua t rái phiếu
Các ngân hàng mua các trái phiếu trung và dài hạn doanh nghiệp nhằm tài
trợ cho quá trình hình thành tài sản cố định. Kì hạn và khả năng chuyển đổi của
trái phiếu , lãi suất trái phiếu, tình hình tài chính doanh nghiệp, các kế hoạch tương
lai…đều được ngân hàng tính tóan khi mua trái phiếu.
+Cho vay theo các dự án
Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định nhằm thực
hiện dự án nhất định, có thể xin vay ngân hàng. Một trong những yêu cầu của ngân
hàng là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư cũng
như quá trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh). Phân tích (và thẩm định ) dự
án là cơ sở để ngân hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn
trả của doanh nghiệp.
Dự án được xây dựng gồm nhiều mục như phân tích thị trường, nguồn nhân
lực, địa điểm, công nghệ, quy trình sản xuất, phân tích tài chính…trong đó phân
tích tài chính là mục tiêu quan tâm hàng đầu của ngân hàng.
hoạt động huy động vốn chủ yếu. Chính vì vậy với sự phù hợp về lãi suất và thời
hạn, các ngân hàng chủ yếu cho vay ngắn hạn.
3.2.Lý do cho vay kinh doanh ngắn hạn
24
3.2.1.Xuất phát từ nhu cầu vốn của doanh nghiệp
Trong sản xuất kinh doanh, ngoài số vốn ban đầu khi thành lập, doanh
nghiệp còn luôn phải bổ sung, tăng vốn theo quy mô sản xuất, hoạt động. Doanh
nghiệp có nhiều cách khác nhau để huy động nợ, trong đó vay ngân hàng là một
nguồn hết sức quan trọng. Mỗi doanh nghiệp, căn cứ vào nhu cầu vốn, cơ cấu vốn
và chi phí vốn của mình để lựa chọn cách thức huy động nợ phù hợp.
-Xét về cơ cấu vốn, doanh nghiệp vay ngắn hạn bởi vì:
+Doanh nghiệp thiếu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tình trạng
thiếu vốn thường xuyên đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm kiếm các nguồn vốn
ngắn hạn thích hợp.Trong khi các nguồn huy động khác gặp khó khăn thì nguồn
vốn ngắn hạn được vay tại ngân hàng lại tỏ ra dễ tiếp cân hơn.Với chức năng huy
động và cho vay, là nơi tập trung vốn lớn, là nơi cung cấp vốn quan trọng cho nền
kinh tế. Ngân hàng thương mại là nơi doanh nghiệp có thể tìm được nguồn vốn tài
trợ lớn, đáp ứng những nhu cầu của mình.
+Doanh nghiệp duy trì một cơ cấu vốn hợp lý. Vay ngắn hạn các NHTM có
thể nhằm duy trì cơ cấu vốn hợp lý cho doan nghiệp. Nói đến cơ cấu vốn là nói
đến tỷ trọng các nguồn vốn chủ sở hữu.Một cơ cấu vốn tối ưu mà doanh nghiệp
muốn đạt được là cơ cấu làm tối đa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Sử dụng nợ như
thế nào để đạt được chi phí vốn tối ưu, từ đó tối đa giá trị cổ phiếu của doanh
nghiệp, đó là vấn đề quan trọng khi vay vốn ngân hàng nói chung và vay ngắn hạn
nói riêng.
+Doanh nghiệp sử dụng nợ để tạo đòn bẩy tài chính.Vì chi phí nợ là chi phí
trước thuế nên so với việc sử dụng vốn chủ sở hữu thì việc sử dụng nợ sẽ tiết kiệm
được thuế cho doanh nghiệp, làm khuếch đại thu nhập cho chủ sở hữu. Do đó khi
thiếu vốn tạm thời, cân nhắc giữa sinh lời và rủi ro, doanh nghiệp thích lựa chọn
vay ngắn hạn để tạo đòn bẩy này.