BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Giới thiệu về thị trường thế giới và
biện pháp nâng cao hiệu quả xuất
khẩu hàng hoá của Việt nam
1
MỤC LỤC
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM
mở đầu
3
Cho đến nay, Việt nam đã ký hiệp định thương mại với trên 100 quốc gia
và vùng lãnh thổ.
Kinh nghiệm của một số quốc gia đang phát triển như Thái lan, Mêhicô, Trung
quốc cho thấy việc mở rộng quan hệ thương mại với các nước không những sẽ tạo
điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường thế
giới, tăng kim ngạch xuất khẩu, nhanh chóng tiếp cận được với một thị trường rộng
lớn, đa dạng, có tiềm lực khoa học công nghệ mà còn giúp nền kinh tế Việt nam hội
nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới nhanh chóng hơn và hiêụ quả hơn.
Vậy làm thế nào để các doanh nghiệp Việt nam (DNVN) có thể thâm nhập
vào thị trường thế giới? Đó là câu hỏi đang được rất nhiều người quan tâm, đặc biệt
là sau khi hiệp định TM có hiệu lực. Trong một chừng mực nào đó bài viết này sẽ
góp phần giải quyết có hiệu quả vấn đề trên.
Nội dung của bài viết bao gồm : Giới thiệu về thị trường thế giới và biện pháp nâng
cao hiệu quả xuất khẩu hàng hoá của Việt nam
Giới thiệu về thị trường thế giới và biện pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu hàng hoá của Việt nam
1. Giới thiệu khái quát về thị trường thế giới.
1.1.Văn hoá kinh doanh.
5
Để có thể thành công trong quan hệ làm ăn với thế giới, các DNVN phải có
được một cái nhìn tổng thể về thị trường.Đồng thời phải cố gắng nắm bắt những
chừng như nhỏ nhặt vậy nhưng đôi khi lại gây ra những thiệt hại rất lớn không chỉ về
lợi nhuận mà còn về vấn đề uy tín làm ăn về sau. Chú ý nắm bắt rút kinh nghiệm sẽ
giúp các DNVN có chỗ đứng vững hơn trong mắt các đối tác.
Vấn đề thứ hai, cũng rất quan trọng, đặc biệt là trong kinh doanh quốc tế đó là
nắm bắt thị hiếu của khách hàng. Trước hết phải thấy rằng thị trường thế giới là tiềm
năng nhiều dân tộc chuộng mua sắm và tiêu dùng. Họ có tâm lý là càng mua sắm
nhiều càng kích thích sản xuất và dịch vụ tăng trưởng, do đó nền kinh tế sẽ phát triển.
Ngày nay ,
Hàng hoá dù chất lượng cao hay vừa đều có thể được bán trên thị trường vì
các tầng lớp dân cư ở nước này đều tiêu thụ nhiều hàng hoá. Các nước đang phát
triển và Việt nam khi xuất hàng vào thị trường cần phải lấy yếu tố giá cả làm trọng,
mẫu mã có thể không quá cầu kỳ nhưng phải đa dạng và hợp thị hiếu.
Những đặc điểm riêng về địa lý và lịch sử đã hình thành nên một thị trường
người tiêu dùng khổng lồ và đa dạng. Tài nguyên phong phú,có sức mạnh kinh tế
khổng lồ và thu nhập cao cho người dân. Với thu nhập đó, việc mua sắm đã trở
thành nét văn hoá không thể thiếu trong văn hoá hiện đại . Cửa hàng là nơi họ đến
mua hàng, dạo chơi, gặp nhau, trò chuyện và mở rộng giao tiếp xã hội. Qua thời
gian, người tiêu dùng gần như tin tưởng tuỵêt đối vào các cửa hàng đại lý bán lẻ của
mình, họ có sự bảo đảm về chất lượng, bảo hành và các điều kiện vệ sinh an toàn
khác. Điều này cũng làm cho họ có ấn tượng rất mạnh với lần tiếp xúc đầu tiên đối
với các mặt hàng mới. Nếu ấn tượng này là xấu, hàng hoá đó sẽ khó có cơ hội trở
lại. Vì vậy sự xâm nhập của các nhà xuất khẩu đơn lẻ thường không mấy khi đe doạ
được sự hiện diện TM của người đến trước.
9
Đối với những đồ dùng cá nhân như quần áo, may mặc và giày dép nói chung
người tiêu dùng thích sự giản tiện nhưng hiện đại, hợp mốt và với yếu tố khác biệt,
độc đáo thì càng được họ ưa thích và mua nhiều.
. Các nhóm người khác nhau vẫn sống theo văn hoá tôn giáo của mình và theo thời
gian hoà trộn, ảnh hưởng lẫn nhau tạo sự khác biệt trong thói quen. Cùng một số đồ
vật nhưng thời gian sử dụng của họ có thể chỉ bằng một nửa thời gian sử dụng của
quan . Dấu hiệu nước sản xuất bắt buộc phải có đối với tất cả hàng hoá nhập khẩu
vào các nước này. Dấu hiệu này phải được viết bằng tiếng Anh và rõ ràng. Có thể
ghi “ MADE IN…; ASSEMBLE IN…; hoặc PRODUCT OF…”. Hàng hoá mang
nhãn hiệu giả hoặc sao chép, bắt chước một nhãn hiệu đã đăng ký bản quyền của
một công ty trong nước hoặc một công ty nước ngoài đã đăng ký bản quyền đều bị
cấm nhập khẩu vào nước đó. Bản sao đăng ký nhãn hiệu hàng hoá phải nộp cho cục
hải quan và được lưu giữ theo quy định. Hàng nhập khẩu có nhãn hiệu giả hoặc sao
chép các thương hiệu đã đăng ký mà không được phép của người có bản quyền sẽ bị
bắt giữ và tịch thu.
Tiêu chuẩn thương phẩm đối với hàng hoá nhập khẩu được quy định rất chi tiết và
rõ ràng đối với từng nhóm hàng. Ví dụ, theo quy chế của Tổ chức nông nghiệp và
nông sản thì nông sản. thực phẩm, tân dược… phải được kiểm định, có dấu, có ghi
thời hạn sử dụng, một số loại trái cây phải bảo đảm kích cỡ; một số mặt hàng điện
tử, dân dụng phải đảm bảo tiêu chuẩn tiết kiệm điện năng; đồ chơi trẻ em phải an
toàn… Trên bao bì của sản phẩm phải ghi rõ quy cách, hướng dẫn sử dụng và cảnh
báo, chẳng hạn lời cảnh báo ghi: “nếu không tuân thủ những chỉ dẫn này thì người
sản xuất hoàn toàn không chịu trách nhiệm”.
Hàng hoá nhập khẩu phải qua hải quan làm thủ tục . Nguyên tắc chung là khi
hàng đến thì các đại lý nhận hàng và đưa vào kho hải quan, sau đó đại lý thông báo
cho chủ hàng đến làm thủ tục theo các bước quy định ( xuất trình chứng từ, kiểm tra
13
và hoàn thành thủ tục). Các nhà xuất khẩu nước ngoài khi muốn làm thủ tục hải
quan để xuất khẩu vào có thể thông qua người môi giới hoặc các công ty vận tải.
Thuế suất có sự khác biệt rất lớn giữa những nước được hưởng quy chế TM bình
thường (NTR) với những nước không được hưởng (Non NTR), có hàng hoá có thuế,
có hàng không thuế Một điều đáng chú ý là ở một số nước có luật chống bán phá giá
và thuế đối kháng. Nếu hàng hoá bán vào thấp hơn giá quốc tế hoặc thấp hơn giá
thành thì người sản xuất ở nước hàng hoá được nhập khẩu có thể kiện ra toà, và như
vậy nước bị kiện sẽ phải chịu thuế cao không phải chỉ đối với chính hàng hoá bán
phá giá mà còn đối với toàn bộ hàng hoá khác của nước đó bán vào .
Còn mặt hàng giày dép, tuy mới chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim
ngạch nhập khẩu , song trên cơ sở phát huy tối đa những lợi thế sẵn có.Thuỷ sản, cà
phê cũng là những mặt hàng Việt nam có thế mạnh.
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi để nuôi trồng thuỷ sản (bờ biển dài, vùng biển có
năng lực tái sinh học cao, tương đối sạch và nhiều cửa sông, lạch…), thuỷ sản lại là
một trong những mặt hàng được một số nước khuyến khích nhập khẩu (thuế suất
0%) và nhập khẩu lớn. Cho nên kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sẽ có những bước tiến
mạnh mẽ nếu được quy hoạch và đầu tư hợp lý.
Cà phê, với lợi thế được miễn thuế nhập khẩu vào một số nước lại chiếm được
sự ưa chuộng của người tiêu dùng ở thị trường này nên kim ngạch xuất khẩu trong
những năm qua đã tăng mạnh. Với việc chú ý hơn đến chất lượng hàng xuất khẩu
(giảm tỷ lệ hạt vỡ, đen…) kim ngạch xuất khẩu cà phê sẽ còn tăng hơn nữa.
Việc phê chuẩn hiệp định thương mại cũng giúp Việt nam tiến gần hơn đến
việc được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập chung (GSP) của Hoa kỳ áp dụng
mức thuế suất bằng 0 cho 4284 mặt hàng xuất khẩu từ các nước đang phát triển .
17
Tuy nhiên, cần phải khẳng định một điều là không phải mọi mặt hàng xuất
khẩu đều có khả năng tăng nhiều là nhờ vào việc chuyển sang mức thuế mới. Đơn
cử các mặt hàng nông sản như cà phê nhân , tiêu và dầu thô…đã được hưởng mức
thuế suất thấp gần 0%. Triển vọng tăng kim ngạch xuất khẩu là do tự bản thân hàng
hoá có sức cạnh tranh nếu được sự quan tâm, đầu tư, quy hoạch hợp lý.
3. Một số giải pháp nhằm tăng cường xuất khẩu hàng hoá Việt nam.
Mặc dù còn tồn tại nhiều khó khăn lớn song xuất khẩu vẫn được coi là
chủ lực đối với nhiều doanh nghiệp Việt nam. Họ tin tưởng rằng với sức mạnh cả về
kinh tế và chính trị tình hình thế giới sẽ được cải thiện sáng sủa hơn trong một thời
gian không xa. Khi đó cơ hội kinh doanh mở ra là rất lớn và dĩ nhiên là lợi nhuận dự
kiến thu được cũng không phải là nhỏ. Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để thâm
nhập vào thị trường một cách có hiệu quả, tránh được rủi ro và gây được uy tín ngay
từ những ngày đầu là câu hỏi mà trả lời nó không phải dễ dàng, liên quan đến cả hai
phía: Nhà nước và doanh nghiệp
Hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại.
Hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ra nước ngoài kể cả việc tháp tùng các
đoàn cấp cao của Đảng, Nhà nước, để thâm nhập thị trường phát triển kinh doanh
xuất khẩu.
Phối hợp và hỗ trợ các nghành, địa phương và doanh nghiệp xây dựng chiến
lược Marketing cho từng nghành hàng, mặt hàng quan trọng và tham gia các hội trợ,
triển lãm và các hoạt động xúc tiến thương mại ở nước ngoài. Có cơ chế tiếp xúc và
tham vấn định kỳ giữa BTM và các doanh nghiệp, các hiệp hội ngành hàng về các
vấn đề có liên quan đến xuất nhập khẩu.
Bước đầu xây dựng cơ sở pháp lý cho thương mại điện tử, tổ chức đào tạo
nhân lực cho lĩnh vực này.
21
Khuyến khích, tạo điều kiện và tăng cường quan hệ với các cơ quan chức
năng, báo chí đối ngoại và các doanh nghiệp, đẩy mạnh tuyên truyền đối ngoại phục
vụ mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu.
Tổ chức tốt việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin thương mại cho các
doanh nghiệp.
Tổ chức cung cấp định kỳ hàng năm, hàng quý các ấn phẩm về thị trường
hàng hoá thế giới cho các doanh nghiệp.
Xây dựng kênh thông tin thương mại thông suốt từ các cơ quan thương vụ
Việt nam ở nước ngoài, BTM đến các Sở thương mại và các doanh nghiệp.
Ngoài việc cung cấp thông tin theo phương thức hỗ trợ của nhà nước cho các doanh
nghiệp, cần thực hiện thương mại hoá thông tin và áp dụng các phương thức linh
hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể, kịp thời của các doanh nghiệp.
Sớm xây dựng và ban hành cơ chế về công tác thị trường ngoài nước, trong
đó xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước có liên quan ở trung ương
cũng như địa phương và trách nhiệm của doanh nghiệp; quy chế phối hợp giữa các
cơ quan có trách nhiệm và doanh nghiệp trong công tác thị trường ngoài nước. Đồng
thời, Nhà nước có chính sách cụ thể bảo đảm các điều kiện vật chất và tài chính để
thực hiện trách nhiệm được giao trong công tác thị trường ngoài nước.
vụ, giữ uy tín cho doanh nghiệp và cho sản phẩmViệt nam…Toàn bộ những việc
làm đó, nếu được thực hiện tốt sẽ giúp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Việt
nam trên thị trường quốc tế và ngay trên thị trường Việt nam.
Sau đây là một vài phân tích để rút ra các bước đi có thể sẽ giúp ích phần nào cho
các doanh nghiệp Việt nam trong việc tiếp cận thị trường này như sau:
Trước hết, có thể thấy rằng cùng với sự gia tăng xuất khẩu là tạo ra việc làm
từ nhiều sản phẩm và dịch vụ khác nhau, kể cả du lịch sẽ góp phần tích cực để nâng
25
cao tốc độ tăng trưởng kinh tế. Về lâu dài, việc quan hệ trực tiếp với các doanh
nghiệp Mỹ cho phép các doanh nghiệp Việt nam tiếp cận trực tiếp với công nghệ
tiên tiến, hiện đại; với nền kinh tế tri thức, các trường đại học và viện nghiên cứu
tiên tiến. Đồng thời nó cũng cho phép các doanh nghiệp Việt nam có thể tiếp cận và
học hỏi nhiều mặt từ các đồng nghiệp trong sản xuất, kinh doanh, quản lý…
Để tận dụng và khai thác có hiệu quả các nguồn lợi đó, các doanh nghiệp Việt nam
phải có ngay một chương trình hành động cụ thể: bắt đầu từ việc nâng cao trình độ
tiếng Anh thương mại, chuẩn bị làm việc trong môi trường tiếng Anh là chủ yếu;
nghiên cứu luật pháp liên bang và các bang của Mỹ; xây dựng quan hệ thương mại;
tìm kiếm đối tác, tổ chức tiếp thị…để ký kết hợp đồng với các doanh nhân và doanh
nghiệp Mỹ trong quan hệ xuất nhập khẩu.
Phải bằng mọi cách tìm hiểu thị trường , khai thác mọi thông tin có liên quan
đến thị trường này từ các nguồn như tổ chức xúc tiến thương mại, tham tán thương
mại, mạng Internet, Việt kiều đang sinh sống làm ăn tại các quốc gia, các thương
gia, nhà doanh nghiệp nước ngoài đến làm ăn ở Việt nam …
Các doanh nghiệp nên theo dõi, tranh thủ cơ hội để cử người của mình đi
tham dự các cuộc hội thảo về quan hệ thương mại sông phương, ở đó nhiều chuyên
gia kinh tế và cả những luật sư ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển nói chuyện
về cách thức tiếp cận thị trường này,về những đặc tính của người tiêu dùng ở những
nơi mà doanh nghiệp việt nam đang quan tâm cần chú ý khi đàm phán, thương
lượng và đặc biệt là những bước đi cụ thể khi thâm nhập vào thị trường như: thủ tục
nhập khẩu, cách lập hoá đơn, giới thiệu các kênh phân phối, lập kế hoạch tiếp thị,
Các nước có một hệ thống luật pháp về thương mại vô cùng rắc rối và phức tạp. Để
nắm được cung cách làm ăn của người dân nước ngoài các doanh nghiệp Việt nam
phải tìm hiểu, nghiên cứu các luật lệ của họ ở cả liên bang và từng tiểu bang Bên
cạnh đó là hàng loạt các luật khác, trong đó đặc biệt đáng chú ý là luật về trách
29
nhiệm sản phẩm (Product Liability Law) theo đó, nhà sản xuất và người bán hàng
chịu trách nhiệm đối với người tiêu dùng về chất lượng hàng hoá được bán trên thị
trường. Tại đất nước này quyền lợi của người tiêu dùng được đặt lên hàng đầu, có
không ít trường hợp do khinh suất mà các nhà xuất khẩu đã phải trả giá quá đắt cho
các vụ kiện cáo của người tiêu dùng. Chính vì vậy các doanh nghiệp Việt nam phải
hết sức thận trọng, tìm hiểu kỹ các luật lệ kinh doanh của họ, nếu cần phải thuê cả
luật sư nước ngoài cho dù giá cả dịch vụ tư vấn ở nước ngoài là khá đắt. Việc đụng
chạm với người tiêu dùng ở nước sở tại là thiếu khôn ngoan.
Để có một phi vụ xuất khẩu thành công, trước khi xuất khẩu hàng sang nước khác,
các doanh nghiệp cần phải hiểu biết kỹ về:
Các quy định đặc biệt áp dụng cho từng giai đoạn xuất khẩu.
Sản phẩm phù hợp.
Thị trường, bao gồm: kinh nghiệm mua và bán ở nước ngoài, tính không ổn
định của thị trường, chất lượng hàng hoá, ai chi phối thị trường, thị trường ở đâu,
tìm kiếm khách hàng tiềm năng ở đâu…
Tính hết chi phí cho một phi vụ.
Quan hệ tốt với nhà phân phối sản phẩm.
Cơ cấu giá bán buôn và bán lẻ.
Vốn lưu động tương xứng.
Lợi thế cạnh tranh của bạn…
Bước bốn sẽ quan tâm là làm thế nào sản phẩm vào được thị trường đó.
Trước khi có được hợp đồng xuất khẩu, một vấn đề không thể thiếu đó là đàm phán
ký kết hợp đồng. Dù đã chuẩn bị chu đáo mà trong khâu đàm phán mà ta bộc lộ sơ
xuất thì rất có thể cơ hội kinh doanh sẽ thất bại. Vậy làm thế nào để đàm phán thành
công?. Không có cách nào tốt hơn là phải nắm rõ phong cách đàm phán của đối tác,
33
cho các nước được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP) . Song đây chỉ là
con đường vòng bất đắc dĩ, mục tiêu lâu dài của chúng ta là phải đạt được quy chế
này. Khi đó, hàng Việt nam xuất khẩu sang sẽ được hưởng mức thuế suất là 0%
hoặc nếu có thì cũng thấp hơn mức hiện giờ rất nhiều.
Nhìn chung, tất cả những doanh nghiệp muốn thâm nhập và thâm nhập thành
công thị trường nước ngoài cần phải làm rất nhiều việc, thực hiện qua nhiều bước.
Vấn đề là phải thực hiện các bước đó như thế nào, cân đối ra sao cho phù hợp với
từng doanh nghiệp, từng mặt hàng xuất khẩu cụ thể.
35
37