Báo cáo thực tập
“Phân tích tình hình giảm chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm nhằm nâng cao khả
năng cho sản phẩm tại công ty 20”
1
1
MỤC LỤC
2
2
Lời nói đầu
Cùng với sự hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu như hiện nay,
Việt Nam đã có những bước đi mạnh mẽ cho riêng mình, nhưng mục tiêu cuối
cùng cũng chính là : hội nhập với nền kinh tế thế giới. Năm 2006 vừa qua đã
diễn ra một sự kiện mang tính lịch sử cho nền kinh tế nước nhà đó chính là :
Việt Nam là thành viên thứ 150 của WTO.
Cùng với sự hội nhập của nền kinh tế đất nước, đã tạo ra nhiều cơ hội
cho các doanh nghiệp nước ta. Tuy nhiên, để tồn tại và phát triển trong sự cạnh
tranh mạnh mẽ và khắc nghiệt của cơ chế thị trường cũng là một thách thức
không nhỏ đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải quan tâm hơn nữa tới chiến lược
kinh doanh của mình.
Hiệu quả kinh doanh luôn là bài toán khó đặt ra đối với mỗi doanh
nghiệp, chiến thắng đối thủ cạnh tranh khẳng định vị trí của mình thì doanh
nghiệp phải làm sao định vị được thị trường của mình, đồng thời thị phần phải
ngày càng được mở rộng.
Có lẽ, giải pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm để từ đó nâng
cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm luôn là một trong số chìa khoá quan
trọng để tìm ra lời giải đáp cho doanh nghiệp. Có thể nói đó cũng chính là chỉ
tiêu chất lượng tổng hợp, phản ánh trình độ quản lý, sử dụng lao động, trình độ
tổ chức công nghệ sản xuất sản phẩm. Tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản
phẩm giúp doanh nghiệp giảm được gía bán, đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản
phẩm, nâng cao lợi nhuận cho danh nghiệp, tăng khả năng mở rộng sản xuất
nhất định.Tuỳ thuộc vào việc thực hiện chức năng và vai trò khác nhau mà các
DN cũng đòi hỏi có những chi phí khác nhau .
Đối với hoạt động sản xuất,các chi phí mà DN phải bỏ ra trước hết là các chi
phí cho việc sản xuất sản phẩm .Trong quá trình tạo ra sản phẩm,DN phải tiêu
hao các loại vật tư như :nguyên ,nhiên vật liệu, phải chịu sự hao mòn của máy
móc, công cụ, dụng cụ ,phải trả tiền lương (hoặc tiền công) cho công nhân viên
chức của DN. Các chi phí này phát sinh thường xuyên và gắn liền với quá trình
sản xuất sản phẩm .
Ngoài việc sản xuất ra sản phẩm,các DN còn phải tổ chức tiêu thụ sản phẩm
nhằm thu tiền về .Để thực hiện được quá trình này,DN cũng phải bỏ ra những
chi phí nhất định như chi phí vận chuyển,bốc dỡ, bảo quản, bao gói sản
phẩm
Mặt khác,trong điều kiện sản xuất hàng hoá có cạnh tranh ,thị trường hàng
hoá ngày càng phong phú và đa dạng ,để sản xuất và tiêu thụ được sản phẩm
5
5
các DN phải bỏ ra chi phí để nghiên cứu thị trường ,quảng cáo,giới thiệu sản
phẩm,thực hiện việc bảo hành sản phẩm Những chi phí liên quan đến việc tiêu
thụ sản phẩm được gọi là chi phí tiêu thụ sản phẩm của DN hay còn được gọi
là chi phí lưu thông sản phẩm.
Như vậy ,từ góc độ hoạt động sản xuất,có thể thấy chi phí SX_KD của DN là
toàn bộ chi phí sản xuất ,chi phí tiêu thụ sản phẩm và các chi phí khác mà DN
phải bỏ ra để phục vụ cho hoạt động SX_KD trong một thời kỳ nhất định .
Đối với hoạt động kinh doanh,các chi phí mà DN phải bỏ ra đó là chi phí
phát sinh ở khâu mua ,vận chuyển ,dự trữ ,tiêu thụ hàng hoá ,chi phí quản lý
DN ,các chi phí phục vụ quá trình mua bán hàng hoá nhằm mục tiêu lợi
nhuận Ngoài ra, với hoạt động cung ứng dịch vụ và các hoạt động xúc tiến
thương mại như đại diện,môi giới,quảng cáo,triển lãm chi phí mà DN phải bỏ
ra là các chi phí về vật chất ,tiền vốn và sức lao động để thực hiện các hoạt
động đó trong một thời kỳ nhất định .
Tổng
doanh
thu
_
Tổng chi
phí kinh
doanh
_
Chi phí
bán
hàng
_
Chi phí
quản lý
doanh
nghiệp
Vậy vấn dề quan trọng đặt ra cho mỗi DN là phải kiểm soát được tình hình
chi phí SX-KD của DN .Quản lý và sử dụng chi phí hợp lý có ý nghĩa quan
trọng trong SX-KD vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình và kết quả kinh
doanh của DN .Nếu DN quản lý tốt chi phí thì sẽ có tác dụng thúc đẩy quá trình
hoạt động SX-KD ,tăng doanh thu và hiệu quả kinh tế và ngược lại nếu DN
quản lý không tốt chi phí thì kết quả kinh doanh sẽ bị hạn chế,hiệu quả kinh tế
giảm.
Nhờ có tiết kiệm chi phí mà DN có thể tăng được tích luỹ,hoàn thành nghĩa
vụ đối với Nhà Nước,tăng lợi nhuận cho DN ,đảm bảo đời sống cho người lao
động.
7
7
Từ các vai trò và tác dụng kể trên của chi phí ,ta thấy được việc thực hiện tốt
chi phí kinh doanh là cơ sở để DN thực hiện tốt các kế hoạch SX-KD mà DN
Đó là các khoản mục sau:
Thứ nhất: Chi phí đầu tư dài hạn của DN .Chi phí đầu tư dài hạn của DN là các
khoản chi phí phát sinh cần thiết để tạo ra các yếu tố của quá trình
SX-KD của DN theo kế hoạch đầu tư dài hạn nhằm phục vụ cho hoạt động
SX-KD trong một thời gian dài của DN .
Nhóm chi phí này bao gồm :Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản ,chi phí mua sắm
TSCĐ ,bổ sung TSCĐ cần thiết hoặc hình thành TSLĐ cần thiết ban đầu ,chi
đào tạo dài hạn đội ngũ cán bộ quản lý kỹ thuật, nhân công,chi nghiên cứu khoa
học
Nhóm chi phí này được bù đắp từ nguồn vốn đầu tư dài hạn của DN vì vậy
chúng không thuộc vào chi phí kinh doanh của DN trong kỳ .
Thứ hai: Các khoản chi phúc lợi xã hội như chi về văn hoá ,thể thao, y tế, vệ
sinh ,chi ăn trưa,chi tiền thưởng ,ủng hộ nhân đạo ,trợ cấp khó khăn ,chi ủng hộ
các tổ chức xã hội Các khoản chi này cũng không tính vào chi phí của DN bởi
vì nguồn bù đắp chủ yếu của các khoản chi này lấy từ các quỹ chuyên dùng và
sự đóng góp ủng hộ của các tổ chức xã hội khác (nếu có).
Thứ ba: Các khoản tiền phạt vi phạm pháp luật như luật giao thông ,luật thuế
luật môi trường ,luật lao động ,vi phạm chế độ báo cáo thống kê,tài chính kế
toán và các luật khác. Nếu do tập thể cá nhân vi phạm luật thì tập thể hoặc cá
nhân đó phải nộp phạt .Ngoài khoản tiền đền bù nói trên,khoản tiền phạt còn
lại, DN phải lấy từ lợi nhuận sau thuế.
Thứ tư : là chi phí đi công tác nước ngoài vượt định mức DN .
Thứ năm :là các khoản thuộc nguồn kinh phí khác đài thọ như chi phí sự nghiệp
đã được ngân sách Nhà nước cấp ,cơ quan cấp trên cấp hoặc các tổ chức xã hội
9
9
khác hỗ trợ.Khoản chi trả lãi vay vốn đầu tư XDCB trong thời kỳ công trình
chưa hoàn thành đưa vào sử dụng sẽ được hạch toán vào chi phí đầu tư XDCB.
Thứ sáu :là các khoản chi phí SX_KD vượt mức quy định của chế độ tài chính
khoản chi này được bù đắp bằng quỹ khen thưởng phúc lợi .
Chi phí SX-KD gồm nhiều loại có nội dung ,công dụng và tính chất khác
nhau.Cho nên để tiện cho việc quản lý sử dụng và hạch toán chi phí ta cần tiến
hành phân loại chi phí .
1.3 Phân loại chi phí SX-KD của DN .
Để đáp ứng yêu cầu của quản lý chi phí ,xác định đúng đắn phương hướng
phấn đấu tiết kiệm chi phí SX-KD ,nâng cao lợi nhuận ,nâng cao hiệu quả sử
dụng các nguồn vật tư ,tiền vốn và lao động của DN ,việc nghiên cứu kết cấu
chi phí SX-KD của DN là cần thiết .
Tuỳ thuộc vào tính chất ,địa điểm ,ngành nghề kinh doanh và các mục tiêu
quản lý chi phí mà ta có thể phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức khác nhau.
1.3.1 Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế
Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế là căn cứ vào đặc điểm kinh tế giống
nhau của chi phí để xếp chúng vào từng loại. Mỗi loại là một yếu tố chi phí có
cùng nội dung kinh tế và không thể phân chia được nữa, bất kể chi phí đó dùng
làm gì và phát sing ở địa điểm nào.
Theo cách phân loại này, toàm bộ chi phí sản xuất khing doanh được chia làm
5 loại:
Chi phí vật tư mua ngoài: là toàn bộ giá trị các loại vật tư mua ngoài dùng
vào hoạt đọng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhên liệu,phụ tùng thay thế
Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương: là tonà bộ các khoản tiền
lương, tiền công Doanh nghiệp phải trả cho người tham gia vào hoạt động sản
11
11
xuất kinh doanh; các khoản chi phí trích nộp theo lương như chi phí
BHXH,BHYT, kinh phí công đoàn mà Doanh nghiệp phải nộp trong kỳ.
Chi phí khấu hao tài sản cố định: toàn bộ tiền khấu hao các loại TSCĐ trích
trong kỳ.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: toàn bộ số tiền Doanh nghiệp phải trả cho các
dịch vụ đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ do các đơn vị
nghiệp, các chi phí có liên quan đến hoạt động chung của Doanh nghiệp như
khấu hao TSCĐ phục vụ cho bộ máy quản lý; chi phí công cụ dụng cụ các chi
phí khác phát sinh ở phạm vi toàn doanh nghiệp như tiền lương và phụ cấp
lương trả cho Hội đồng quản trị, ban giám đốc, nhân viên các phòng ban quản
lý; chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, các khoản thuế, lệ phí, bảo hiểm, chi
phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng Doanh nghiệp. Các khoản chi phí dự
phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ khó đòi, công tác phí, các chi phí
giao dịch, đối ngoại
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí và tính giá
thành cho từng loại sản phẩm; quản lý chi phí tại địa điểm phát sinh để khai
thác khả năng hạ giá thành sản phẩm của Doanh nghiệp.
1.3.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mô sản xuất
kinh doanh
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp được
chia thành hai loại: Chi phí cố định và chi phí biến đổi.
Chi phí cố định là các chi phí không thay đổi (hoặc thay đổi không đáng kể)
theo sự thay đổi quy mô sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Thuộc loại chi
phí này bao gồm: Chi phí khấu hao TSCĐ(theo thời gian), chi phí tiền lương trả
13
13
cho cán bộ, nhan viên quản lý, chuyên gia, lãi tiền vay phải trả,chi phí thuê tài
sản, văn phòng.
Chi phí biến đổi là các chi phí thay đổi trực tiếp theo sự thay đổi của quy mô
sản xuất. Thuộc loại chi phí này bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền
lương trả cho công nhân trực tiếp sx, chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí dịch vụ
cung cấp như tiền điện, nước, điện thoại
Do đặc điểm của từng loại chi phí trên nên khi quy mô sản xuất kinh doanh
càng tăng thì chi phí cố định cho một đơn vị sản phẩm hàng hoá càng giảm.
Riêng đối với chi phí biến đổi việc tăng giảm hay không đổi khi tính chi phí
này cho 1 đơn vị sản phẩm hàng hoá còn phụ thuộc vào tương quan biến đổi
1.4 Yêu cầu quản lý và lập kế hoạch chi phí SX-KD của DN .
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý DN là tiết kiệm
được chi phí SX-KD. Yêu cầu cơ bản của việc quản lý và lập kế hoạch chi phí
SX-KD là đảm bảo tốt nhất quá trình SX-KD của DN trên cơ sở sử dụng hợp
lý, tiết kiệm mọi nguồn vật tư ,tiền vốn ,sức lao động của DN để đạt được lợi
nhuận tối đa trong khuôn khổ của luật pháp ,nâng cao năng suất lao động và
hiệu quả kinh tế của DN.
Để quản lý tốt chi phí sản xuất kinh doanh, các DN phải lập kế hoạch chi phí.
Lập kế hoạch chi phí thực chất là dùng hình thức tiền tệ tính toán trước mọi chi
phí SX-KD của DN trong kỳ kế hoạch cùng các biện pháp phấn đấu thực hiện
kế hoạch đó .Kế hoạch chi phí SX-KD là xác định mục tiêu phấn đấu của đơn
vị đồng thời cũng là căn cứ để đơn vị cải tiến công tác quản lý kinh doanh thực
hiện chế độ tiết kiệm ,hạ giá thành sản phẩm hàng hoá ,tăng lợi nhuận, tăng
hiệu quả kinh tế cho DN trong kỳ .
Chỉ tiêu chi phí SX-KD có ảnh hưởng tích cực đến các chỉ tiêu khác ví dụ
như chỉ tiêu vốn lưu động được xác định căn cứ vào dự toán chi phí SX-KD
15
15
của đơn vị ,lợi nhuận của DN nhiều hay ít phụ thuộc phần lớn vào giá thành sản
lượng hàng hoá kỳ kế hoạch và được xác định trên cơ sở dự toán chi phí SX-
KD trong kỳ .
Nhiệm vụ chủ yếu của việc lập kế hoạch chi phí SX_KD là phát hiện và động
viên mọi nguồn tiềm năng sẵn có của DN để không ngừng giảm bớt chi phí SX-
KD và chi phí tiêu thụ sản phẩm, tăng lợi nhuận nhằm đáp ứng yêu cầu tái sản
xuất mở rộng ,tái đầu tư và cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên chức
trong đơn vị .
Việc lập kế hoạch chi phí SX_KD cần phải căn cứ vào các kế hoạch kinh tế
liên quan như kế hoạch lưu chuyển hàng hoá ,vận tải ,khấu hao TSCĐ ,tiền
lương, đầu tư ra ngoài DN và hệ thống các tiêu chuẩn định mức
kinh tế-kỹ thuật của Nhà Nước ,của ngành hoặc của chính DN .Mặt khác DN
giao thanh quyết toán )
Giá thành trong công tác xây lắp bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, chi phí
nhân công, chi phí máy thi công và các khoản chi phí khác.
1.5.2 Các loại giá thành sản phẩm
1.5.2.1 Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu, giá thành sản phẩm được chia
thành:
Giá thành kế hoạch: là giá thành tính trước khi bắt đầu sản xuất kinh doanh
của kỳ kế hoạch, trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước cũng như căn cứ vào các
định mức và dự toán chi phí của kỳ kế hoạch. Giá thành kế hoạch do bộ phận
ké hoạch trong Doanh nghiệp thực hiện và được xem là mục tiêu phấn đấu của
Doanh nghiệp, là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá
thành, kế hoạch hạ giá thành của Doanh nghiệp.
17
17
Giá thành định mức: cũng giống như giá thành kế hoạch, việc tính giá thành
định mức cũng có thể thực hiện trước khi bắt đầu sản xuất, chế tạo sản phẩm cơ
sở các định mức hiện hành tại một thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch. Do
đó giá thành định mức luôn luôn thay đổi để phùhợp với sự thay đổi của các
định mức chi phí trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành. Giá thành định
mức được xem là thước đo chính xác để xác đinh kết quả sử dụng các loại tài
sản, vật tư, tiền vốn trong Doanh nghiệp, nhằm đánh giá các giải pháp mà
Doanh nghiệp đã áp dụng trong kỳ sản xuất kinh doanh với mục đích nâng cao
hiệu quả chi phí.
Giá thành thực tế: khác với hai loại giá thành trên, giá thành thực tế của sản
phẩm lao vụ chỉ được xác định khi quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm đã
hoàn thành và là chỉ tiêu được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh
trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành thực tế sản phẩm là chỉ tiêu kinh
tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của Doanh nghiệp trong việc tổ chức và
sử dụng các giải pháp kinh tế -tổ chức -kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất,
là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp,
doanh lỗ lãi của từng loại sản phẩm mà Doanh nghiệp thực hiện. Tuy nhiên, do
những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng và chi
phí quản lý cho từng loại sản phẩm nên cách phân loại này chỉ có ý nghĩa về
mặt lý thuyết.
1.6 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
trong quá trình snr xuất tạo ra sản phẩm. Chi phí biểu hiện mặt hao phí , còn giá
thành biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất, đây là hai mặt thống nhất
của từng quá trình, vậy chúng giống nhau về mặt chất. Chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm đùe bao gồm các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá.
2. Một số chỉ tiêu cơ bản về chi phí sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
Xác định hệ thống chỉ tiêu kế hoạch chi phí kinh doanh của DN phải căn cứ
vào tình hình đặc điểm SX-KD ,chế độ quản lý tài chính kế toán của Nhà
Nước, của ngành hoặc của chính DN trong từng thời kỳ kế hoạch cụ thể .
Tuỳ thuộc vào mục tiêu quản lý kinh tế ,quản lý tài chính ,quản lý chi phí của
các DN mà hệ thống chỉ tiêu kế hoạch chi phí SX-KD có thể rộng hẹp khác
nhau nhưng nhìn chung chúng bao gồm các chỉ tiêu sau :
2.1 Đối với hoạt động sản xuất có các chỉ tiêu :
19
19
2.1.1 Tổng mức giá thành sản phẩm
Trong hoạt động sản xuất ,khi quyết định lựa chọn phương án sản xuất một
loại sản phẩm nào đó ,DN cần tính đến lượng chi phí bỏ ra để sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm đó .Điều đó có nghĩa là DN phải xác định được giá thành của sản
phẩm .
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của DN để hoàn
thành sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định . Đó là biểu hiện chi phí
cá biệt của DN để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Cùng loại sản phẩm trên thị
trường có thể có nhiều DN cùng sản xuất nhưng do trình độ trang thiết bị ,công
nghệ sản xuất và trình độ quản lý khác nhau nên giá thành sản phẩm của các
Có nhiều tiêu thức phân bổ chi phí gián tiếp cho các loại sản phẩm. Những
tiêu chuẩn thường dùng là giờ công định mức ,tiền lương chính của CNSX,giờ
máy chạy
Chi phí tiêu thụ cũng phải lập dự toán nhưng khi phân bổ thông thường chỉ
phân phối cho sản lượng sản phẩm tiêu thụ .Phương pháp phân bổ chi phí tiêu
thụ thường là tính theo tỷ lệ % nhất định so với giá thành công xưởng sản phẩm
hàng hoá tiêu thụ .
Công thức tính:
Giá thành 1 đơn vị
sản phẩm
=
Tổng giá thành sản phẩm sản xuất trong kỳ
Số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ
Giá thành toàn bộ
sản phẩm
=
Tổng số sản phẩm
sản xuất trong kỳ
x
Giá thành 1 đơn vị
sản phẩm
21
21
2.1.2 Mức hạ giá thành sản phẩm: là chỉ tiêu phản ánh quy mô tiết kiệm chi
phí của DN .
Các DN hoạt động trong cơ chế thị trường có điều tiết và cạnh tranh điều đó
buộc các DN phải hết sức quan tâm đến việc giảm chi phí ,hạ thấp giá thành
của sản phẩm có thể so sánh được.Sản phẩm có thể so sánh được là những sản
phẩm mà DN đã tiến hành sản xuất ở kỳ trước ,đã có tài liệu hạch toán về giá
thành ,đã ổn định về mặt kinh tế -kỹ thuật-công nghệ .
:Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ gốc.
Z
i1
:Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ kế hoạch .
S
i1
:Số lượng sản phẩm kỳ kế hoạch .
n :Loại sản phẩm so sánh được .
i :Loại sản phẩm so sánh thứ i.
2.1.3 Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm: là chỉ tiêu phản ánh tốc độ hạ giá thành
sản phẩm .
Công thức tính:
( )
100
1
0
1
×
×
=
∑
=
n
i
i
i
Z
Z
Z
S
Tổng mức chi phí kinh doanh được tính như sau:
Tổng mức
chi phí kinh
doanh
=
Chi phí mua hàng phân bổ
cho hàng hoá đã tiêu thụ
trong kỳ
+
CPBH và chi phí
QLDN phân bổ cho
hàng bán ra
Việc phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN cho hàng hoá dự trữ
trong kỳ theo chế độ hiện hành chỉ đặt ra với các DN kinh doanh không ổn
định,doanh thu trong kỳ nhỏ ,chi phí thực tế phát sinh lớn .
Đối với các DN sản xuất kinh doanh có tính chất ổn định ,chu kỳ kinh doanh
dài thì chi phí kinh doanh phân bổ cho hàng hoá tiêu thụ trong kỳ được xác
định như sau:
F=F
ĐK
+F
P S
-F
CK
Trong đó :
F : Chi phí kinh doanh phân bổ cho hàng hoá tiêu thụ trong kỳ
F
ĐK
:Chi phí phát sinh trong kỳ
23
DN và xác định số phải bù đắp từ thu nhập của DN trong kỳ.Nhưng chỉ tiêu này
không phản ánh được chất lượng của công tác quản lý chi phí kinh doanh của
DN trong kỳ đó ,vì vậy cần phải sử dụng chỉ tiêu tỷ suất chi phí .
24
24
2.2.2 Tỷ suất chi phí kinh doanh
Tỷ suất chi phí kinh doanh là một chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ
giữa tổng mức chi phí kinh doanh với mức lưu chuyển hàng hoá trong kỳ .Chỉ
tiêu được xác định bằng tỷ lệ % giữa chi phí kinh doanh với doanh thu kinh
doanh hoặc thu nhập của DN trong kỳ .
Công thức tính:
F' =
F
X 100
M
Trong đó F':Tỷ suất chi phí kinh doanh (%).
F: Tổng mức chi phí kinh doanh
M:Tổng thu nhập hoặc doanh thu của DN trong kỳ .
Chỉ tiêu tỷ suất chi phí kinh doanh phản ánh: cứ 100 đồng doanh thu bán
hàng hoặc thu nhập của DN đạt được trong kỳ thì mất bao nhiêu đồng chi phí.
Tỷ suất chi phí kinh doanh càng nhỏ thì hiệu quả quản lý và sử dụng chi phí
kinh doanh càng cao.Vì vậy ,có thể sử dụng chỉ tiêu này để phân tích và so sánh
trình độ quản lý chi phí kinh doanh giữa các kỳ của DN hoặc giữa các DN cùng
loại trong một thời kỳ cụ thể .
2.2.3 Mức độ tăng hoặc giảm tỷ suất chi phí
Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh tình tình và kết quả hạ thấp chi phí kinh
doanh của DN trong kỳ theo công thức :
F' =F'
1
- F'