Phân tích tình hình giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nhằm nâng cao khả năng cho sản phẩm tại công ty 20. - Pdf 32

Lời nói đầu
Cùng với sự hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu như hiện nay,
Việt Nam đã có những bước đi mạnh mẽ cho riêng mình, nhưng mục tiêu cuối
cùng cũng chính là : hội nhập với nền kinh tế thế giới. Năm 2006 vừa qua đã
diễn ra một sự kiện mang tính lịch sử cho nền kinh tế nước nhà đó chính là :
Việt Nam là thành viên thứ 150 của WTO.
Cùng với sự hội nhập của nền kinh tế đất nước, đã tạo ra nhiều cơ hội
cho các doanh nghiệp nước ta. Tuy nhiên, để tồn tại và phát triển trong sự cạnh
tranh mạnh mẽ và khắc nghiệt của cơ chế thị trường cũng là một thách thức
không nhỏ đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải quan tâm hơn nữa tới chiến lược
kinh doanh của mình.
Hiệu quả kinh doanh luôn là bài toán khó đặt ra đối với mỗi doanh
nghiệp, chiến thắng đối thủ cạnh tranh khẳng định vị trí của mình thì doanh
nghiệp phải làm sao định vị được thị trường của mình, đồng thời thị phần phải
ngày càng được mở rộng.
Có lẽ, giải pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm để từ đó nâng
cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm luôn là một trong số chìa khoá quan
trọng để tìm ra lời giải đáp cho doanh nghiệp. Có thể nói đó cũng chính là chỉ
tiêu chất lượng tổng hợp, phản ánh trình độ quản lý, sử dụng lao động, trình độ
tổ chức công nghệ sản xuất sản phẩm. Tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản
phẩm giúp doanh nghiệp giảm được gía bán, đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản
phẩm, nâng cao lợi nhuận cho danh nghiệp, tăng khả năng mở rộng sản xuất
kinh doanh , mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình. Vì vậy phân tích và
các giải pháp hạ thấp chi phí sản xuất từ đó hạ giá thành sản phẩm nhằm nâng
1
cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp luôn được các nhà
quản lý quan tâm.
Xuất phát từ thực tế đó, qua thời gian thực tập tại công ty 20, đối diện
với thực trạng quản lý sản xuất kinh doanh của công ty, tôi xin mạnh dạn đi sâu
nghiên cứu vấn đề “Phân tích tình hình giảm chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm nhằm nâng cao khả năng cho sản phẩm tại công ty 20” với thời

phẩm...
Mặt khác,trong điều kiện sản xuất hàng hoá có cạnh tranh ,thị trường hàng
hoá ngày càng phong phú và đa dạng ,để sản xuất và tiêu thụ được sản phẩm
3
các DN phải bỏ ra chi phí để nghiên cứu thị trường ,quảng cáo,giới thiệu sản
phẩm,thực hiện việc bảo hành sản phẩm...Những chi phí liên quan đến việc tiêu
thụ sản phẩm được gọi là chi phí tiêu thụ sản phẩm của DN hay còn được gọi
là chi phí lưu thông sản phẩm.
Như vậy ,từ góc độ hoạt động sản xuất,có thể thấy chi phí SX_KD của DN là
toàn bộ chi phí sản xuất ,chi phí tiêu thụ sản phẩm và các chi phí khác mà DN
phải bỏ ra để phục vụ cho hoạt động SX_KD trong một thời kỳ nhất định .
Đối với hoạt động kinh doanh,các chi phí mà DN phải bỏ ra đó là chi phí phát
sinh ở khâu mua ,vận chuyển ,dự trữ ,tiêu thụ hàng hoá ,chi phí quản lý DN
,các chi phí phục vụ quá trình mua bán hàng hoá nhằm mục tiêu lợi
nhuận...Ngoài ra, với hoạt động cung ứng dịch vụ và các hoạt động xúc tiến
thương mại như đại diện,môi giới,quảng cáo,triển lãm ...chi phí mà DN phải bỏ
ra là các chi phí về vật chất ,tiền vốn và sức lao động để thực hiện các hoạt
động đó trong một thời kỳ nhất định .
Từ góc độ của hoạt động kinh doanh ,có thể thấy rằng chi phí kinh doanh của
DN là toàn bộ các chi phí mà DN đã bỏ ra để thực hiện được các mục tiêu mà
DN đã đề ra trong một thời kỳ nhất định .Các chi phí này có đặc điểm là được
bù đắp bằng doanh thu kinh doanh của DN trong thời kỳ đó .
Trong nền kinh tế thị trường ,các chi phí nêu trên đều được biểu hiện bằng
tiền.
Vì vậy có thể nói rằng :Chi phí SX-KD của một DN là biểu hiện bằng
tiền của những hao phí về vật chất ,về sức lao động và các chi phí bằng tiền
khác liên quan và phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho quá trình SX-KD
của DN trong một thời kỳ nhất định đồng thời được bù đắp từ doanh thu
SX-KD của DN trong thời kỳ đó .
4

quản lý
doanh
nghiệp
Vậy vấn dề quan trọng đặt ra cho mỗi DN là phải kiểm soát được tình hình
chi phí SX-KD của DN .Quản lý và sử dụng chi phí hợp lý có ý nghĩa quan
trọng trong SX-KD vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình và kết quả kinh
doanh của DN .Nếu DN quản lý tốt chi phí thì sẽ có tác dụng thúc đẩy quá trình
hoạt động SX-KD ,tăng doanh thu và hiệu quả kinh tế và ngược lại nếu DN
quản lý không tốt chi phí thì kết quả kinh doanh sẽ bị hạn chế,hiệu quả kinh tế
giảm.
Nhờ có tiết kiệm chi phí mà DN có thể tăng được tích luỹ,hoàn thành nghĩa
vụ đối với Nhà Nước,tăng lợi nhuận cho DN ,đảm bảo đời sống cho người lao
động.
5
Từ các vai trò và tác dụng kể trên của chi phí ,ta thấy được việc thực hiện tốt
chi phí kinh doanh là cơ sở để DN thực hiện tốt các kế hoạch SX-KD mà DN
đã đề ra .Chi phí SX-KD là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh đầy đủ
tình hình hoạt động SX-KD của DN .Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá
hoạt động SX-KD giữa thực tế với kế hoạch ,giữa các kỳ với nhau hay giữa
các đơn vị trong cùng một ngành .
Do trong quá trình hoạt động SX-KD trong một thời kỳ nhất định có nhiều
loại chi phí của DN phát sinh không phục vụ hoạt động SX_KD cho DN trong
kỳ và đồng thời cũng không được bù đắp từ doanh thu hoặc thu nhập của DN
trong thời kỳ đó nên cần thiết phải xác định phạm vi của chi phí SX-KD để từ
đó DN lập kế hoạch chi phí hợp lý.
1.2 Phạm vi của chi phí SX-KD trong các DN .
Như đã nêu trên ,chi phí SX-KD của DN sẽ được bù đắp từ doanh thu hoặc
thu nhập của DN trong kỳ vì vậy về nguyên tắc tất cả các khoản chi phí phát
sinh trong kỳ được bù đắp từ các nguồn khác đều không phải là chi phí SX-KD
hợp lệ ,hơn nữa chi phí kinh doanh chỉ phục vụ hoạt động SX-KD của DN

sự đóng góp ủng hộ của các tổ chức xã hội khác (nếu có).
Thứ ba: Các khoản tiền phạt vi phạm pháp luật như luật giao thông ,luật thuế
luật môi trường ,luật lao động ,vi phạm chế độ báo cáo thống kê,tài chính kế
toán và các luật khác. Nếu do tập thể cá nhân vi phạm luật thì tập thể hoặc cá
nhân đó phải nộp phạt .Ngoài khoản tiền đền bù nói trên,khoản tiền phạt còn
lại, DN phải lấy từ lợi nhuận sau thuế.
Thứ tư : là chi phí đi công tác nước ngoài vượt định mức DN .
Thứ năm :là các khoản thuộc nguồn kinh phí khác đài thọ như chi phí sự nghiệp
đã được ngân sách Nhà nước cấp ,cơ quan cấp trên cấp hoặc các tổ chức xã hội
7
khác hỗ trợ.Khoản chi trả lãi vay vốn đầu tư XDCB trong thời kỳ công trình
chưa hoàn thành đưa vào sử dụng sẽ được hạch toán vào chi phí đầu tư XDCB.
Thứ sáu :là các khoản chi phí SX_KD vượt mức quy định của chế độ tài chính
khoản chi này được bù đắp bằng quỹ khen thưởng phúc lợi .
Thứ bảy :là các khoản thua lỗ thiệt hại do chủ quan của đơn vị gây ra hoặc
khách quan đưa lại đã được Nhà nước hoặc cơ quan bảo hiểm thanh toán bồi
thường,các khoản chi trong kỳ do nguồn kinh phí khác tài trợ.
Riêng đối với DN Nhà nước ,theo thông tư số 76/T C/TCD của bộ Tài Chính
Nhà nước khống chế chi phí như tiếp tân ,hội họp giao dịch,đối ngoại, lãi vay
ngân hàng hoặc vay của các tổ chức tín dụng ,cá nhân...
Các khoản chi phí được hạch toán vào chi phí SX-KD là những khoản chi
phí phục vụ trực tiếp và gián tiếp cho hoạt động SX-KD của DN trong kỳ ,các
khoản chi phí đó được bù đắp bởi doanh thu của DN .
Có một số các khoản chi tiêu, chi phí của DN xét về mặt bản chất không phải
là chi phí SX-KD nhưng để thống nhất DN vẫn hạch toán và quyết toán vào
chi phí SX-KD trong kỳ.
Một số khoản chi không liên quan đến hoạt động SX-KD của DN nhưng
người lao động trong DN phải có nghĩa vụ đóng góp theo luật định thì vẫn được
phép hạch toán vào chi phí SX-KD .
Việc xác định đúng đắn phạm vi của chi phí SX-KD trong DN có ý nghĩa

Chi phí vật tư mua ngoài: là toàn bộ giá trị các loại vật tư mua ngoài dùng
vào hoạt đọng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhên liệu,phụ tùng thay thế...
Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương: là tonà bộ các khoản tiền
lương, tiền công Doanh nghiệp phải trả cho người tham gia vào hoạt động sản
9
xuất kinh doanh; các khoản chi phí trích nộp theo lương như chi phí
BHXH,BHYT, kinh phí công đoàn mà Doanh nghiệp phải nộp trong kỳ.
Chi phí khấu hao tài sản cố định: toàn bộ tiền khấu hao các loại TSCĐ trích
trong kỳ.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: toàn bộ số tiền Doanh nghiệp phải trả cho các
dịch vụ đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ do các đơn vị
khác bên ngoài cung cấp.
Chi phí bằng tiền khác:là các khoản phải chi bằng tiền ngoài các khoản trên.
Cách phân loại này cho thấy mức chi phí về lao đọng vật hoá và lao đọng
sống trong toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh lần đầu trong năm. Vì
vậy nó có tác dụng giúp cho Doanh nghiệp lập được dự toán chi phí sản xuất
theo yếu tố; kiểm tra sự cân đối giữa kế hoạch cung cấp vật tư, kế hoạch lao
động tiền lương, kế hoạch khấu hao tài sản cố định, kế hoạch nhu cầu vốn lưu
động.
1.3.2 Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh chi phí
Theo cách phân loại này những chi phí có cùng nội dung kinh tế và địa điểm
phát sinh được xếp vào một loại, gọi là các khoản mục chi phí.
Chi phí vật tư trực tiếp: là chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, dụng cụ sản
xuất trực tiếp dùng vào việc sản xuất sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.
Chi phí nhân công trực tiếp: là các khoản tiền lương, tiền công, các khoản cấp
có tính chất lương, các khoản chi BHXH,BHYT, kinh phí công đoàn của công
nhân trực tiệp sản xuất trong Doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí sử dụng ở các phân xưởng, bộ
phân kinh doanh như: tiền lương và phụ cấp lương của quản đốc, nhân viên

11
Chi phí biến đổi là các chi phí thay đổi trực tiếp theo sự thay đổi của quy mô
sản xuất. Thuộc loại chi phí này bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền
lương trả cho công nhân trực tiếp sx, chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí dịch vụ
cung cấp như tiền điện, nước, điện thoại...
Do đặc điểm của từng loại chi phí trên nên khi quy mô sản xuất kinh doanh
càng tăng thì chi phí cố định cho một đơn vị sản phẩm hàng hoá càng giảm.
Riêng đối với chi phí biến đổi việc tăng giảm hay không đổi khi tính chi phí
này cho 1 đơn vị sản phẩm hàng hoá còn phụ thuộc vào tương quan biến đổi
giữa quy mô sản xuất kinh doanh và tổng chi phí biến đổi của Doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp cho Doanh nghiệp thấy dduwowcj xu hướng biến đổi
của từng loại chi phí theo quy mô kinh doanh, từ đó Doanh nghiệp có thể xác
định được sản lượng hoà vốn cũng như quy mô kinh doanh hợp lý để đạt được
hiệu quả cao nhất.

-Phân loại chi phí SX_KD của DN phải phù hợp với tình hình đặc điểm SX-
KD và các mục tiêu quản lý kinh tế của DN ,điều đó sẽ giúp DN xác định được
xu hướng hình thành kết cấu của chi phí sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ
khác nhau ,đồng thời làm cơ sở cho công tác kế hoạch hoá ,kiểm tra, phân tích
đánh giá tình hình thực hiện ké hoạch chi phí của DN .Cũng nhờ đó DN tìm ra
được các biện pháp quản lý chi phí tốt hơn, giảm chi phí SX-KD hạ giá thành
sản phẩm, hạ thấp chi phí của DN ,nâng cao hiệu quả kinh tế của DN.
Kết cấu của chi phí được biểu hiện qua tỷ trọng tính thành phần % của từng
loại chi phí trong tổng số chi phí của DN trong một thời kỳ nhất định.Nó chịu
sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau như đặc điểm công nghệ ,công tác
quản lý ngoài ra còn phụ thuộc vào các thời kỳ khác nhau. Cùng với sự phát
triển của khoa học công nghệ ,xu hướng biến đổi chung là tỷ trọng các chi phí
12
về lao động vật hoá ngày càng tăng lên trong khi tiền lương thì có xu hướng
giảm xuống một cách tương đối trong tổng chi phí kinh doanh của DN .

KD và chi phí tiêu thụ sản phẩm, tăng lợi nhuận nhằm đáp ứng yêu cầu tái sản
xuất mở rộng ,tái đầu tư và cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên chức
trong đơn vị .
Việc lập kế hoạch chi phí SX_KD cần phải căn cứ vào các kế hoạch kinh tế
liên quan như kế hoạch lưu chuyển hàng hoá ,vận tải ,khấu hao TSCĐ ,tiền
lương, đầu tư ra ngoài DN ... và hệ thống các tiêu chuẩn định mức
kinh tế-kỹ thuật của Nhà Nước ,của ngành hoặc của chính DN .Mặt khác DN
cần phải tiến hành phân tích ,đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi phí SX-
KD của kỳ trước ,những khả năng ,những mặt mạnh ,mặt yếu của DN, các nhân
tố ảnh hưởng và những biện pháp xử lý trong kỳ kế hoạch tới.
Lập kế hoạch chi phí SX-KD đòi hỏi phải sử dụng những phương pháp thích
hợp và những chỉ tiêu về chi phí SX-KD trong kỳ kế hoạch .
1.5 Giá thành sản phẩm và các loại giá thành sản phẩm trong Doanh
nghiệp xây lắp
Khái niệm: Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi
phí Doanh nghiệp đã bỏ ra đẻ hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một
đơn vị sản phẩm hay loại sản phẩm nhất định.
1.5.1 Giá thành sản phẩm xây lắp
Sự vận động của quá trình sản xuất trong Doanh nghiệp xây lắp bao gồm hai
mặt đối lập nhau, nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Một là các chi phí
Doanh nghiệp đã chi ra, mặt khác là kết quả sản xuất thu được, những sản
phẩm của công việc lao vụ đã hoàn thành, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của
xã hội cần dược tính giá thành.
14
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về
lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản
phẩm, lao vu đẫ hoàn thành.
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh lượng
hao phí của những lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi ra cho sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi

hoàn thành và là chỉ tiêu được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh
trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành thực tế sản phẩm là chỉ tiêu kinh
tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của Doanh nghiệp trong việc tổ chức và
sử dụng các giải pháp kinh tế -tổ chức -kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất,
là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp,
có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của Doanh nghiệp.
Cách phân loại trên có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác
định được các nguyên nhân vượt hay hụt định mức chi phí trong kỳ hặch toán.
Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
1.5.2.2 Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành
sản xuất và giá thành tiêu thụ.
Giá thành sản xuất: (còn gọi là giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh tất
cả các chi phí liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi
phân xưởng sản xuất.
Giá thành tiêu thụ: (còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành dầy đủ) là chỉ
tiêu phản ánh tất cả các chi phí liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Giá thành tiêu thu được tính theo công thức:
Giá thành toàn = Giá thành sản + Chi phí bán + Chi phí
16
bộ của sản phẩm
xuất của sản
phẩm
hàng
quản lý
Doanh
nghiệp
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh
doanh lỗ lãi của từng loại sản phẩm mà Doanh nghiệp thực hiện. Tuy nhiên, do
những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng và chi

bao gồm toàn bộ chi phí của DN bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất sản phẩm .
Giá thành tiêu thụ sản phẩm hàng hoá hay còn được gọi là giá thành toàn bộ
của sản phẩm hàng hoá bao gồm toàn bộ chi phí để hoàn thành việc sản xuất
cũng như tiêu thụ sản phẩm (tức là gồm cả chi phí lưu thông sản phẩm ).
Để quản lý giá thành và có phương hướng phấn đấu giảm giá thành ,mỗi đơn
vị sản xuất đều cần phải xác định kế hoạch giá thành .Xác định kế hoạch giá
thành tức là dùng hình thức tiền tệ xác định mức độ hao phí lao động sống và
lao động vật hoá trong sản xuất ở kỳ kế hoạch ,mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ giá
thành sản phẩm so sánh được của kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo .Bởi vậy giá
thành được xác định là mục tiêu phấn đấu giảm chi phí của DN đồng thời là căn
cứ thúc đẩy DN cải tiến quản lý SX-KD ,thực hiện chế độ tiết kiệm trong sản
xuất để hạ giá thành sản phẩm .
Muốn xác định Tổng mức giá thành sản phẩm theo khoản mục trước hết phải
xác định giá thành đơn vị của sản phẩm .Cách tính giá thành đơn vị của sản
phẩm như sau:
- Đối với những khoản mục độc lập (khoản mục trực tiếp )như nguyên vật
liệu chính ,vật liệu phụ,nhiên liệu ,năng lượng ,tiền lương của công nhân sản
18
xuất ta tính được bằng cách lấy định mức tiêu hao cho 1 đơn vị sản phẩm nhân
với đơn giá kế hoạch .Để đảm bảo tính chất đúng đắn của kế hoạch cần phải hệ
thống định mức kinh tế-kỹ thuật tiên tiến và hệ thống đơn giá phải được tính
toán hợp lý.
-Đối với những khoản mục chi phí tổng hợp (chi phí gián tiếp )như chi phí
quản lý phân xưởng ,chi phí quản lý xí nghiệp ,chi phí tiêu thụ …thì trước hết
phải lập dự toán chung sau đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp cho mỗi
đơn vị sản phẩm .
Có nhiều tiêu thức phân bổ chi phí gián tiếp cho các loại sản phẩm. Những
tiêu chuẩn thường dùng là giờ công định mức ,tiền lương chính của CNSX,giờ
máy chạy...
Chi phí tiêu thụ cũng phải lập dự toán nhưng khi phân bổ thông thường chỉ

Z
i0
:Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ gốc.
Z
i1
:Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ kế hoạch .
S
i1
:Số lượng sản phẩm kỳ kế hoạch .
n :Loại sản phẩm so sánh được .
i :Loại sản phẩm so sánh thứ i.
2.1.3 Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm: là chỉ tiêu phản ánh tốc độ hạ giá thành
sản phẩm .
Công thức tính:
Trong đó T
Z
:Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm (%)
M
Z
:Mức hạ giá thành sản phẩm
S
i1
:Số lượng sản phẩm kỳ kế hoạch
Z
i0
:Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ gốc
Khi xem xét việc hạ giá thành sản phẩm trong kỳ cần phải kết hợp xem xét
cả 2 chỉ tiêu Mức hạ giá thành sản phẩm và Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm. Chỉ
khi nào DN hoàn thành đồng thời cả hai chỉ tiêu nói trên thì DN mới được xác
nhận là hoàn thành nhiệm vụ hạ giá thành do chính DN tự đặt ra để phấn đấu.

định như sau:
F=F
ĐK
+F
P S
-F
CK
Trong đó :
F : Chi phí kinh doanh phân bổ cho hàng hoá tiêu thụ trong kỳ
F
ĐK
:Chi phí phát sinh trong kỳ
F
CK
:Chi phí kinh doanh phân bổ cho hàng hoá dự trữ cuối kỳ
Theo chế độ kế toán hiện hành ,tài khoản chi phí không có số dư cuối kỳ, vì
vậy các khoản CPBH và chi phí QLDN phát sinh với mức độ lớn thì chỉ phân
21
bổ một phần vào chi phí bán hàng và chi phí QLDN cho lượng hàng hoá tiêu
thụ trong kỳ ,phần chi phí còn lại sẽ được kết chuyển sang kỳ sau, đó chính là
chi phí phân bổ cho hàng hoá dự trữ cuối kỳ.

Công thức tính :
CPKD phân bổ cho
hàng hoá dự trữ
cuối kỳ
=
CPKD đầu kỳ+CPPS trong kỳ x Hàng hoá dự trữ
CK
Tổng trị giá hàng hoá trong kỳ

hàng hoặc thu nhập của DN đạt được trong kỳ thì mất bao nhiêu đồng chi phí.
Tỷ suất chi phí kinh doanh càng nhỏ thì hiệu quả quản lý và sử dụng chi phí
kinh doanh càng cao.Vì vậy ,có thể sử dụng chỉ tiêu này để phân tích và so sánh
trình độ quản lý chi phí kinh doanh giữa các kỳ của DN hoặc giữa các DN cùng
loại trong một thời kỳ cụ thể .
2.2.3 Mức độ tăng hoặc giảm tỷ suất chi phí
Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh tình tình và kết quả hạ thấp chi phí kinh
doanh của DN trong kỳ theo công thức :
F' =F'
1
- F'
0
Trong đó :
F' : Mức độ tăng hoặc giảm tỷ suất chi phí kinh doanh (%)
F'
1
:Tỷ suất chi phí kinh doanh trong kỳ so sánh
F'
0
:Tỷ suất chi phí kinh doanh kỳ gốc
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà DN chọn kỳ gốc hay kỳ so sánh để phù
hợp với sự phân tích.Có thể chọn kỳ gốc là chỉ tiêu kế hoạch còn kỳ so sánh là
chỉ tiêu thực hiện của cùng một thời kỳ hoặc kỳ gốc là số thực hiện năm
23
trước,kỳ so sánh là số kế hoạch năm sau...để đánh giá mức độ hạ thấp tỷ suất
chi phí kinh doanh của DN .
2.2.4 Tốc độ tăng hoặc giảm tỷ suất chi phí kinh doanh
Chỉ tiêu này là chỉ tiêu tương đối phản ánh tốc độ giảm chi phí kinh doanh
nhanh hay chậm giữa hai DN cùng loại trong cùng một thời kỳ hoặc giữa hai
thời kỳ của một DN .

24
S
T K
=M
1
x F'
Trong đó
S
T K
:Số tiền tiết kiệm hoặc bội chi do giảm hoặc tăng chi phí kinh
doanh .
M
1
:Tổng mức doanh thu hay thu nhập của DN trong kỳ so sánh
F' :Mức độ tăng hoặc giảm tỷ suất chi phí
kinh doanh .
2.2.6 Hệ số sinh lời của chi phí
Chỉ tiêu Lợi nhuận trên Chi phí kinh doanh được gọi là hệ số sinh lời của chi
phí .
Đây là chỉ tiêu phản ánh: cứ một đồng chi phí kinh doanh mà DN bỏ ra thì thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ .
Công thức tính :

F

L N
F
rong đó H
F
:hệ số sinh lời của chi phí kinh doanh trong kỳ .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status