Đồng chíEm hãy phân tích bài thơ “Đồng chí” pot - Pdf 19

Đồng chí

Em hãy phân tích bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu.

Ðồng chí là một bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Chính
Hữu và của thơ ca Việt Nam hiện đại. Hễ nói tới thơ
Chính Hữu là người ta không thể không nghĩ đến
Ðồng chí.
Bài thơ được sáng tác vào năm 1948, sau chiến dịch
Việt Bắc năm 1947, đánh dấu sự xuất hiện cuả một
nhà thơ mới trong thời kháng chiến chống thực dân

Pháp. Bài thơ lúc đầu dán ở báo tường đơn v
ị, sau in
vào báo Sự thật, rồi được chép vào sổ tay các cán
bộ, chiến sĩ, được phổ nhạc, trở thành tải sản chung
của mọi người.
Ðồng chí là bài thơ ca ngợi một tình cảm mới, quan
hệ mới giữa người và người trong cách mạng và
kháng chiến. "Ðồng chí" trong ngôn ngữ sinh hoạt
chính trị và đời thường đã thành tiếng xưng hô quen
thuộc, khi lý tưởng cách mạng đoàn kết, gắn bó mọi
người đã bắt rễ sâu vào đời sống. Nhưng mấy ai đã
cảm nhận được nội dung tình cảm phong phú mới
mẻ chứa đựng trong hai tiếng ấy?
Ðể làm hiện lên nội dung mới lạ trong những từ ngữ
quen thuộc, nhà thơ phải dùng phép "lạ hóa". Không
phải ngẫu nhiên mà bài thơ bắt đầu từ những cái

biểu tượng của tình thân hữu, ấm cúng, ruột thịt.
Những cái chung ấy đã biến những con người xa lạ
"thành đôi tri kỷ"
Hai chữ "Ðồng chí" đứng riêng thành một dòng th
ơ là
điều rất có ý nghĩa. Nhà thơ hoàn toàn có th
ể viết thế
này: "Ðêm rét chung chăn thành đôi đồng chí". "Ð
ồng
chí" và "tri kỷ" đều cùng một vần bằng, vần trắc, hai
chữ hoàn toàn có thể thay thế nhau mà không làm
sai vận luật, mà bài thơ có thể rút ngắn được một
dòng. Nhưng nếu viết như thế thì hỏng. Ðêm rét
chung chăn có nghĩa hai chữ "Ðồng chí" rộng lớn vô
cùng. "Tri kỷ" là biết mình và suy rộng ra là biết về
nhau. "Ðồng chí" thì không phải chỉ biết nhau, mà
còn phải biết được cái chung rộng lớn gắn bó con
người trên mọi mặt.
Hai chữ "Ðồng chí" đứng thành một dòng thơ đầy
sức nặng suy nghĩ. Nó nâng cao ý thơ đoạn trước và
mở ra ý thơ các đoạn sau. "Ðồng chí" là cái có thể
cảm nhận mà không dễ nói hết.
Phần hai bài thơ nói đến tình cảm chung của những
người đồng chí. Những câu thơ chia thành "anh, tôi",
nhưng giữa họ đều là chung cả. Ðoạn hai của b
ài thơ
được mở đầu bằng những dòng tâm sự nhớ nhà.
Bây giờ họ chia sẻ với nhau những tình cảm quê
hương và gia đình. Ðối với các chàng trai áo nâu ra
trận lần đầu nhớ nhà là nỗi niềm thường trực:

kháng chiến đã được nói đến rất nhiều. Thôi Hữu
trong bài “Lên Cấm Sơn” có những câu thật cảm
động về những người lính.
“ Cuộc đời gió bụi pha xương máu
Ðợt rét bao lần xé thịt da
Khuôn mặt đã lên màu tật bệnh
Ðâu còn tươi nữa những ngày hoa!
Lòng tôi xao xuyến tình thương xót
Muốn viết bài thơ thấm lệ nhoà
Tặng những anh tôi từng rỏ máu
Ðem thân xơ xác giữ sơn hà”
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi.
Trong kháng chiến, ở chiến khu, bệnh sốt rét cơn là
phổ biến nhất. Hai câu thơ nêu đủ các triệu chứng
của bệnh sốt rét cơn. Những ai nhiễm bệnh, thoạt
đầu cảm thấy ớn lạnh, sau đó liền cảm thấy lạnh tới
lúc người run cầm cập, đắp bao nhiêu chăn cũng
không hết rét, trong khi đó thì thân nhiệt lại lên cao
tới 40, 41 độ người vã cả mồ hôi, vã vì nóng và vì
yếu. Phải trải qua bệnh này thì mới hiểu hết cái thật
của câu thơ. Sau cơn sốt đó là da xanh, da vàng,
viêm gan, viêm lá lách…
Ngoài khổ về bệnh tật là khổ về trang bị. Những ng
ày
đầu kháng chiến, chưa có đủ áo quần đồng phục
phát cho bộ đội. Người lính mang theo áo quần ở
nhà đi chiến đấu, khi rách thì và víu, có người còn
không có kim chỉ để vá, lấy dây mà buộc túm chỗ
rách lại, người ta gọi đùa là "Vệ túm", ở đây "anh

Từ nhận thức chung, tình cảm chung, bài thơ kết v
ào
hành động. Thời gian, không gian trở nên cụ thể,
công việc cũng cụ thể, nhưng không vì thế mà sự
việc thay thế chất thơ. Câu kết bài thơ là một hình
ảnh nổi tiếng cô đọng, giàu ý vị: đầu súng trăng treo.

Một hình ảnh bất ngờ. "Súng" và "trăng" là hai vật
cách xa nhau trong không gian, lại chẳng có
gì chung
để liên tưởng. Hình ảnh này chỉ có thể là phát hiện
của người lính, súng lăm lăm trong tay chờ giặc, và
bất ngờ thấy mặt trăng treo lửng lơ trên đầu súng.
Người không cầm súng không thể cảm thấy được.
Rừng hoang sương muối là rất buốt, những người
lính rách rưới đứng cạnh bên nhau và trăng như
cũng đứng chung với người. Trăng là biểu trưng của
trong sáng và mộng mơ. "Ðầu súng" chiến đấu của
người đồng chí có thêm mặt trăng đã mở ra biết bao
liên tưởng phong phú. Ðồng thời câu thơ bốn tiếng
như cũng nén lại, dồn vào bên trong, tạo thành cái
kết không lời. Ðoạn một và hai toàn những lời tâm
sự. Ðoạn cuối lại là bức tranh cổ điển, hàm súc.
Ðồng chí là bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách cô
đọng, kiệm lời của nhà thơ Chính Hữu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status