Khảo sát tình hình nhiễm ve trên bò tại huyện Easuop, tỉnh Đăklăk. Bước đầu thử nghiệm hiệu lực diệt ve của dịch chiết từ lá cúc quỳ và thử hiệu lực của thuốc Solfac - Pdf 19

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Với xu thế phát triển của nền nông nghiệp nước ta, đặc biệt ngành chăn nuôi
đã không ngừng phát triển và mở rộng, ngoài phương thức chăn nuôi nhỏ ở các hộ
gia đình hoặc phương thức nuôi thả … thì hiện nay nước ta đã chăn nuôi với quy mô
lớn, người chăn nuôi đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, từ đó số lượng
và chất lượng đàn gia súc cũng tăng lên nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng
càng cao của con người.
Tỉnh Đăklăk nước ta có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc chăn nuôi
trâu bò, tuy nhiên chất lượng con giống vẫn còn thấp. Chính vì vậy, nhà nước cũng
đã có những chủ trương chính sách như thực hiện dự án 135 của tỉnh và áp dụng cảI
tạo giống bò vàng Việt Nam bằng chương trình sind hoá đàn bò của dự án 2651 Việt
Nam và hiện nay đàn bò của tỉnh đang có những chuyển biến tốt về cơ cấu đàn, con
giống.
Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi thì công tác chăn nuôi Thú y cũng
được đẩy mạnh đồng thời trình độ chăn nuôi cũng được nâng cao hơn, tuy nhiên sự
phát triển về kinh tế xã hội ở mỗi vùng có sự khác nhau, từ đó nói chung cũng không
tránh khỏi được những dịch, bệnh xảy ra trên đàn gia súc, mà thực tế bệnh ngoại ký
sinh trùng mắc đa số với các cường độ nhiễm khác nhau, bệnh diễn ra dai dẳn,
thường ở thể mãn tính, trong đó ve là loài ký sinh trùng ký sinh chủ yếu và thường
xuyên trên gia súc, hút máu và dinh dưỡng của gia súc, mặt khác làm gia súc ngứa
ngáy khó chịu không yên, còi cọc, giảm sức đề kháng, giảm trọng lượng cơ thể, ngoài
ra ve còn là vật môi giới trung gian truyền lây một số bệnh ký sinh trùng dường máu
như bệnh lê dạng trùng, biên trùng,…làm giảm khả năng sản xuất của gia súc gây
thiệt hại không nhỏ về kinh tế cho ngành chăn nuôi.
Để tìm hiểu về ve ký sinh, ngoài việc nghiên cứu đặc điểm sinh sản, phát triển
và những đặc điểm về dịch tễ của ve… thì việc nghiên cứu biện pháp phòng trị ve
mới là vấn đề quan trọng nhất nhằm giảm bớt tác hại do ve gây ra. Và trong công tác
phòng trị ve người ta cũng đã đưa ra nhiều biện pháp và nhiều loại thuốc khác nhau
nhằm diệt ve hiệu quả cao, tuy nhiên những thuốc có nguồn gốc hoá dược như
Dipterex, DDT,… ngoài khả năng diệt ve cao thì nó lại gây quen thuốc và tích luỹ

một số loài ve như: Ixodes ricinus, Hyalomma aegyptium, nhưng chưa có hệ thống.
Đến thế kỷ 19, Hurman (1804), Leach (1815), Vouheyden (1826) và
Sundevall (1833)… cũng chỉ mới phân chia thành một số giống họ ve.
Đến năm 1844 C.L. Koch gộp tất cả các loài ve thành một bộ Ricini gồm 3 họ:
- Argasiden có hai giống Argas và Ornithodos.
- Ixodiden có ba giống Haemalastoe, Amblyomma, Ixodes.
- Rhipitomiden có 4 giống Dermacentor, Haemaphysalis,
Rhipistoma và Rhipicephalus.
Từ năm 1844 – 1892 một số nhà khoa học Gervais, Nicoles, Megnin, Murray,
… đã có nhiều nghiên cứu về phân loại ve nhưng vẫn chưa có hệ thống.
Đến thế kỷ thứ XX thì Silmon, Stiles (1901), Neummann (1907, 1908) đã có
hệ thống phân loại và chia họ ve đơn giản hơn, hệ thống phân loại của các tác giả này
như sau:
Liên họ (superfamilia) ve Ixodoidae gồm hai họ:
1. Ve mềm Argasidae có giống Argas và Ornithodoros.
2. Ve cứng Ixodidae gồm hai phân họ:
a) Rhipicephalinae có giống Rhipicephalus, Haemaphysalis,
Boophilus và Dermacentor.
b) Ixodinae có giống Ixodes, Eschatocephalus, Aponomma,
Amblyomma và Hyalomma.
3
Việc nghiên cứu dịch tễ học của ve lại càng phát triển hơn. Năm 1911,
Neummann thống kê được 264 loài và phân loài ve cứng Ixodidae và ve mềm
Argasidae.
Trong những năm tiếp theo đã có không ít những công trình nghiên cứu về
sinh thái, sinh lý, phân loại và dịch tễ học của ve.
Từ năm 1911 – 1939 Schulze đã thống kê được 500 loài ve. Trên thế giới hiện
nay đã phát hiện hơn 750 loài ve cứng Ixodidae và trên 100 loài ve mềm Argasidae.
Khu hệ ve Châu Á cũng khá phong phú và được nhiều tác giả nghiên cứu. Ở
Đông Nam Á có hơn 50 loài thuộc 9 giống, ở Trung Quốc đã phát hiện trên 80 loài

Haemaphysalis. Ở Bắc Bộ có gặp loài Rhipicephalus và một loài thuộc giống Argas.
Ngoài ra một số loài phổ biến ở nhiều nơi như Boophilus annulatus, australis và
Amblyomma testudinarium.
Năm 1954 cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia Trung Quốc và Liên Xô,
chúng ta đã tiến hành điều tra ve trên gia súc và động vật hoang dã. Năm 1956 Đoàn
nghiên cứu ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng do I. M. Grochovskey, giáo sư Đặng
Văn Ngữ, Đào Văn Tiến, Nguyễn Xuân Hòe và cộng sự đã nghiên cứu ve trên động
vật sống gần người và gia súc ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, năm 1968 tác giả đã
công bố có phát hiện giống ve cứng ở phía Bắc Việt Nam.
Năm 1977 – 1985, Viện sốt rét ký sinh trùng và côn trùng phối hợp với phòng
ký sinh trùng Viện sinh thái và tài nguyên thuộc Viện khoa học về các loại ký sinh
trùng khác ở một số tỉnh Trung Nam Bộ và Tây nguyên.
Năm 1967 và 1970, trong báo cáo kết quả điều tra họ ve cứng Ixodidae trên
hai tỉnh hai tỉnh phía Bắc nước ta là Lạng Sơn và Quảng Ninh, và tại Ủy ban khoa
học và kỹ thuật nhà nước, Nguyễn Văn Chí, Phan Trọng Cung và cộng sự đã định
loại được 22 loài ve cứng thuộc 7 giống ký sinh trên các vật chủ khác nhau:
- Giống Ixodes có 1 loài.
- Giống Amblyomma có 4 loài.
- Giống Aponomma có 2 loài.
- Giống Dermacentor có 1 loài.
- Giống Haemaphysalis có 11 loài.
- Giống Rhipicephalus có 2 loài.
- Giống Boophilus cur có 1 loài.
5
Năm 1968, Từ Hán Tường đã báo cáo “Điều tra côn trùng Thú y ở một số
vùng trọng điểm ở miền Bắc Việt Nam” tại Bộ Nông nghiệp nước ta và đã tổng kết
rằng: Họ ve cứng đã thu thập được 6 giống gồm 11 loài: Giống Ixodes có 1 loài,
giống Amblyomma có 2 loài, giống Dermacentor có 1 loài, giống Haemaphysalis có
4 loài, giống Rhipicephalus có 2 loài và giống Boophilus cur chỉ có 1 loài.
Trên thế giới giống Boophilus curtice có tới 20 loài và thường gặp là 4 loài:

Đáy đầu (basic capituli) có nhiều hình dạng khác nhau, có thể hình lục giác,
hình vuông hoặc hình thang, hình tam giác …, có loài đáy đầu bị tiêu giảm, trên mặt
lưng góc đầu có hõm hình tròn hay hình bầu dục, song song, hay ngã ssang hai bên,
hõm đầu chỉ có ở ve cái, đặc điểm này có ý nghĩa trong quá trình loại ve.
Trên đầu giả có mắt đơn, có khi mắt đơn nằm ở phần thân.
Xúc biện có bốn đốt: Đốt một xát gốc đầu, đốt hai có mấu cạnh lồi ra hoặc
không, đốt bốn nằm mặt bụng của đốt ba. Trên xúc biện có những lông tơ, mịn.
Kiềm: gồm có hai kiềm, ngoài được bao bởi bao kiềm dung để xé da vật chủ,
phía trên miệng có răng hoặc gai nhỏ, công thức răng khác nhau tùy loài, ve B.
microplus có công thức răng 4/4, theo Nattall(1911) một số loài công thức răng có sự
thay đổi.
2.1.2. Thân hay phần bụng (Idosoma)
Gồm có mặt lưng và mặt bụng.
- Mặt lưng: Thân ve cứng có mai lưng bằng kitin, mai lưng của ve đực được
phủ kín toàn bộ, còn ve cái, ấu trùng, thiếu trùng chỉ chiếm 1/3 về phía trước
lưng, nằm sau đầu giả.
Mai lưng thường có màu nâu tươi, hình dạng mai lưng có ý nghĩa trong phân
loại ve.
Mắt có cấu tạo đơn giản hơi hẹp, hình bán cầu, có hốc mắt, có một số mắt biến
đổi rất khó quan sát.
Mặt lưng của ve có nhiều đường lõm sâu gọi là rãnh, gồm có:
+ Rãnh cổ: Từ hõm cổ song song với trục giữa thân xuống phía sau .
+ Rãnh bên: Nằm giới hạn giữa miền vai và hõm cổ.
+ Rãnh giữa sau:nằm ở miền giữa theo trục thân, và có 11 rua.
Trên thân có thể có rua phụ nằm ở mặt lưng, khi ve no máu thấy ở mặt lưng.
- Mặt bụng: Có các lỗ:
7
+ Lỗ thở: nằm ở trên tấm thở, có nhiều lỗ nhỏ nằm rải rác khắp bề mặt các cơ
quan khứu giác.
+ Lỗ hậu môn:nằm khoảng giữa 1/3 phía sau thân, có những tấm van với viền

sự giao phối có thể xảy ra trên cơ thể vật chủ, có khi xảy ra ở môi trường ngoài. Hoạt
động giao phối phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và dinh dưỡng, nếu nhiệt độ quá
lạnh hoặc quá khô thì ký sinh ngừng phát triển.
Hoạt động giao phối xảy ra trong khi hút máu, xảy ra trước bữa ăn hoặc giữa
bữa ăn, nếu chưa giao phối thì ve cái sẽ nằm chờ ve đực đến giao phối. Con đực
thường đi tìm con cái để giao phối nhưng cũng có khi con cái đi tìm con đực. Con đực
dung ba đốt xúc biện (palpe) đưa vào âm môn của con cái làm cho âm môn mở rộng để
đưa túi tinh vào, thời gian này kéo dài vài ngày, sau đó ít lâu thì con đực chết.
Con cái hút máu và dưỡng chất sẽ cung cấp chất dinh dưỡng cao cho buồng
trứng phát triển và đẻ trứng. Trứng có một lớp màng nhầy để bảo vệ. ve cái khi đẻ
thường đẻ giật lùi và kéo dài vài ngày, đẻ xon thì con cái teo nhỏ lại và chết.
Không có hoạt động giao phối khác loài nếu có sự giao phối khác loài thì thì
thế hệ con cháu sẽ không phát triển được. Trứng ve thường có màu vàng nâu hoặc
nâu sẫm. Trứng nhỏ hình cầu.
2.4. Vòng đời phát triển của ve Ixodidae
Ve Ixodidae phát triển qua ba giai đoạn: Ấu trùng, thiếu trùng và trưởng
thành, tùy loài ve khác nhau mà có sự phát triển khác nhau.
- Ấu trùng: Ve đực và ve cái ký sinh ở ký chủ, giao cấu, sau khi hút máu no
rơi xuống đất, đẻ trứng có lớp màng nhầy bảo vệ. Sau quá trình phát triển của phôi,
trứng nở thành ấu trùng đói, thời gian ủ trứng phụ thuộc vào từng loài và điều kiện
ngoại cảnh, theo Trịnh Văn Thịnh và cộng sự,1963 thì ve Boophilus microplus có
thời gian ủ trứng trung bình là 21 ngày, trong điều kiện nhiệt độ trung bình là 24
0
C
(20 – 28
0
C), ẩm độ trung bình là 86,5% (84 – 90%).
Ấu trùng đói thường tập trung từng đám màu đỏ nâu, chúng thích bám vào
những vị trí thích hợp, những lá cây có nhiều lông như lá mua, sim, cỏ, …, hoặc
những kẽ hở của chân nền chuồng, khe hở của ván, cột làm chuồng, người ta thường

aegiplum đẻ khoảng 1500 trứng.
Ve Rhipicephalus sanguineus thời gian đẻ trứng 6 – 16 ngày, ve B. microplus
đẻ trứng trong 10 – 14 ngày.
Như vậy ở mỗi loài ve có vong đời dài ngắn phụ thuộc thuộc vào ngoại cảnh.
Ở nước ta nhiệt độ từ 9,6 – 35,1
0
C, ẩm độ là 80 – 93% ve Rhipicephalus sanguineus
có vòng đòi giao động từ 57 – 140 ngày (Theo Phan Trọng Cung, Nguyễn Thị
Nguyệt, 1999), ve B. microplus có vòng đời 71 - 204 ngày.
10
Vòng đời phát triển của ve có 4 dạng hình thái tương đương với 3 giai đoạn
phát triển, qua hai lần lột xác.
Phân biệt 4 dạng hình thái ở các thời kỳ phát triển của ve cứng.
Giai đoạn
Đặc điểm
Ấu trùng Thiếu trùng Trưởng thành
(Đực)
Trưởng thành
(Cái)
Mai lưng 1/3 phía trước lưng Toàn bộ
Chân 3 đôi 4 đôi
Lỗ sinh dục Chưa có Có
Hõm đầu Không có Có
Lỗ thở Chưa có Có
Giai đoạn 1: Ấu trùng qua lần biến thái lần thứ nhất thành thiếu trùng.
Giai đoạn 2: Thiếu trùng qua hai lần biến thái thành ve trưởng thành.
Giai đoạn 3: Ve trưởng thành là ve đực hoặc ve cái có khả năng sinh sản (giao
phối và đẻ trứng).
2.5. Các pha ký sinh của ve
Mỗi giai đoạn phát triển của ve cần phải có vật chủ thích hợp để thực hiện quá

trùng, lê dạng trùng, biên trùng, theileria, nhiều nhà nghiên cứu đã phát hiện được
nhóm Rickettsia gây bệnh sốt phát ban.
2.7. Sự phân bố của ve
2.7.1. Phân bố theo địa lý
Khu hệ ve được phân bố khắp nơi trên thế giới, theo tổng kết của Kolin (1978
– 1984) thì trên thế giới có khoảng 608 loài và phân loài. Trong đó việt Nam có
khoảng 65 loài được tìm thấy. Do đặc điểm địa lý, địa hình, các yếu tố ngoại cảnh …
ở các vùng có đặc điểm khác nhau nên thành phần loài ve, số lượng phân giống ve có
sự khác nhau rõ rệt.
Theo Phan Trọng Cung, Đoàn Văn Thụ và cộng sự 2001 đã tổng kết theo
miền địa lý cho thấy sự phân bố của ve cứng là không đồng đều: có 6 giống là có mặt
ở tất cả các miền: Amblyomma, Aponoma, Boophilus, Haemaphisalis, Ixodidae,
Rhipicephalus, với số lượng khác nhau. Riêng giống Dermacentor không có mặt ở
12
đồng bằng nước ta, giống Hyalomma chỉ mới gặp ở miền Trungvà Tây Nam Bộ,
giống Argas chỉ mới gặp ở đồng bằng Bắc Bộ.
Có ba loài ve đặc hữu ở nước ta là Haemaphysalis, Hyalomma yeni và
Hyalomma dromdari, trong đó phổ biến nhất là hai loài Boophilus và Rhipicephalus
sanguineus.
2.7.2. Sự phân bố ve theo mùa
Cácyếu tố nhiệt độ của bức xạ mặt trời… thường xuyên biến động theo mùa
và khí hậu.
Kết quả nghiên cứu của Trịnh Văn Thịnh (1963), Từ Hán Tường (1968), Phan
Trọng Cung (1962 – 1972) cho thấy: Ve Boophilus ở miền Bắc Việt Nam hoạt động
mạnh từ tháng 3 đến tháng 7. Cũng theo kết quả của Phan Trọng Cung cho biết ở
miền Bắc Việt Nam, ấu trùng Haemaphysalis hoạt động nhiều nhất trên các loài gặm
nhấm từ tháng 4 đến tháng 7, ấu trùng Ixodidae hoạt động mạnh trên loài gặm nhấm
từ tháng 11 đến tháng 12, ấu trùng và thiếu trùng Amblyomma ký sinh trên các loài
ăn thịt và loài gặm nhấm vào tháng 10 đến tháng 11.
Từ kết quả của các công trình nghiên cứu trên cho thấy ve Ixodidae phân bố

trưởng thành phân bố trên đồng cỏ đó.
Ấu trùng ve Boophilus microplus có khả năng nhịn đói 8 tháng, một số loài
khác thời gian này có thể kéo dài hơn để đảm bảo an toàn hiệu quả thì nên luân phiên
đồng cỏ. Năm 1968, nông trường Ba Vì đã làm thí nghiệm chăn thả luân phiên trên
đồng cỏ 9 ha được chia làm 6 khoảng trong mùa mưa (từ tháng 4 – tháng 9) thì thấy
rằng số lượng ve trên các khoảnh này rất thấp, trong khi đó những khoảnh đối chứng
chăn thả liên tục, thì số bò có ve bám rất nhiều (theo Nguyễn Vũ Hùng, Bùi Văn
Minh, 1972)
2.8.2. Biện pháp sinh học để diệt ve
Sử dụng các loài động vật, thực vật để diệt ve như chim, gà, và một số côn
trùng, vi khuẩn và nấm. Estrada – Pena A và cộng sự (1990) đã phân lập được nấm
aspergillus ocharceus từ ve Rhipicephalus sanguineus là tác nhân gây bệnh làm cho
ve không đẻ trứng, cơ thể khô lại và chết.
3.8.3. Diệt ve trên cơ thể gia súc
Bằng cách vệ sinh tắm rửa, bắt ve bằng tay hoặc phun thuốc, bôi thuốc.
Những thuốc trị ngoại ký sinh trùng gồm có ba nhóm:
Nhóm dẫn xuất chứa Clo: Gồm có DDT, Hexca clorciclo haxan (HCH).
14
Nhóm các estephospho hữu cơ gồm: Dipterex và Diclovos (DDVP): Ở nước ta
người dân thường dùng thuốc trị ve Dipterex. Dùng Dipterex 0,2 – 0,5% phun hay xát
lên cơ thể gia súc thông thường 5 – 7 ngày/lần, tuy nhiên hiện nay nhà nước đã có
văn bản cấm dùng loại thuốc này từ ngày 24/5/2002.
Hiện nay người ta cũng thường sử dụng Bivermectin (do công ty Bio sản xuất)
thành phần chính của thuốc là Ivermectin. Thuốc có tác dụng diệt tốt cả nội và ngoại
ký sinh trùng.
Ivermectin ở liều 0,2 mg/kg thể trọng có tác dụng cao đối với giun tròn đồng
thời cũng có hiệu lực cao đối với ve.
Ở Hoa Kỳ, theo Slocombe (1981) dùng Ivermectin ở liều 0,3 mg/kg thể trọng
có tác dụng diệt ghẻ ở lợn ( Henry, Griffiths, 2000).
- Nhóm Carbamat:

thái của chúng (Từ ấu trùng đến dạng trưởng thành).
- Thuốc có tác dụng nhanh, không hoặc ít độc đối với vật chủ.
- Thuốc dễ sử dụng tùy theo vòng đời và vị trí ký sinh của nó.
- Thuốc không hoặc ít tồn dư trong vật chủ.
Trên thức tế rất khó có loại thuốc nào đảm bảo đủ các yêu cầu trên. Các thuốc
là hợp chất Clo, P, Carbamat có thể diệt được ngoại ký sinh trùng nhưng do cách sử
dụng chưa đúng, đặc biệt ngoại ký sinh trùng kháng laị thuốc rất nhanh, mặt khác còn
gây ô nhiễm môi trường, vì thế hiện nay nhiều nước đã cấm sử dụng các loại thuốc
này. Trong khi đó thiên nhiên có nhiều loài cây thảo mộc có thể dùng để điều trị
ngoại ký sinh trùng hiệu quả cao, vì vậy người ta đã tiến hành nghiên cứu tác dụng
dược lý của nhiều loài cây để trị bệnh và những năm cuối thế kỷ XX người ta đã
dùng cây thuốc cá, cúc trừ trùng … có hoạt chất là Rotenon, lonchocarpus,
pyrethroids…. để diệt ngoại ký sinh trùng phá hoại mùa màng, và những loại thuốc
này đạt hiệu quả cao, tiện lợi dễ sử dụng, thuốc chỉ tác dụng ngoài da, không tồn dư
và ô nhiễm môi trường.
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I. Đối tượng nghiên cứu
1.1. Ve ký sinh trên bò ở các giai đoạn phát triển khác nhau.
16
1.2. Cây cúc quỳ ở vùng Buôn Ma Thuột:
Sơ lược vài nét về cây cúc quỳ
- Tên gọi: là cây cúc quỳ hay còn gọi cây hướng dương dại, sơn quỳ, cây quỳ.
- Tên khoa học: Tithonia divesifolia (Hemsl) A . Gray.
- Thuộc họ cúc: Asteraceae.
- Hoạt chất chính là Pyrethrum, trong lá cúc quỳ chủ yếu là nước chiếm
79,58%, hàm lượng nước trong hoa cúc quỳ là 87,5%. Ngoài ra trong thành phần của
cúc quỳ còn có chứa 1,5% glyphosate có tác dụng diệt cỏ dại.
- Mô tả: Cây bụi hàng năm, cao 2 – 5 m, thân có lông sát, phân cành nhiều. Lá
thuôn, phiếm lá có thùy, mép lá có răng nằm. Tên lá: Folium Tithonia diversifoliae.

2

các khu vực mà các loài này thường ẩn náu.
1.4. Dụng cụ thí nghiệm:
- Kính lúp
- Đĩa Petri nhựa
- Nhiệt kế - ẩm kế
- Bình tam giác
- Cân tiểu ly
- Dung dịch xút (NaOH)
1.5. Địa điểm nghiên cứu
* Phòng thí nghiệm – Bộ môn Thú y – Trường Đại học Tây Nguyên
*Sơ lược vài nét về huyện Easuop tỉnh Đăklăk:
- Vị trí địa lý: Easuop là một huyện biên giới phía Bắc của tỉnh Đăklăk, cách
thành phố Buôn Ma Thuột 80 km về phía Đông và cách thành phố Pleiku khoảng 80
km về phía Bắc, có đường tỉnh lộ P8 nối liền thành phố Buôn Ma Thuột với huyện
Easuop đi Chư Prông và thành phố Pleiku.
+ Phía Bắc giáp Gia Lai.
+ Phía Nam giáp huyện Buôn Đôn.
+ Phía Đông giáp huyện CưM’gar và EaH’leo.
+ Phía Tây giáp Campuchia.
- Điều kiện tự nhiên: Toàn huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 17656300 ha.
Huyện Easuop chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới lục địa cao
nguyên nên nhìn chung rất khô nóng.
18
Lượng mưa bình quân/ năm là 1500mm, mùa mưa từ tháng 5 – 10, mùa khô từ
tháng 11 – 4 năm sau.
Nhiệt độ trung bình các tháng là 24
0
C, nhiệt độ cao nhất là 33,3

thường bị bọn Funrô quấy nhiễu, làm trật tự xã hội không được ổn định. Easuop là
một huyện nghèo, đời sống kinh tế còn thấp, dân số tập ở huyện còn thưa. Đến sau
những năm 1980 theo chính sách di dân sang vùng kinh tế mới của nhà nước, nhiều
người dân đã đến định cư tại huyện và từ đó huyện Easuop dần dần có những chuyển
biến mới.
19

Trích đoạn Tỷ lệ nhiễm ve giữa các vị trí ký sinh khác nhau trên cơ thể bò Ảnh hưởng của thời tiết đến số lượng trứng và thời gian nở trứng của ve Boophilus microplus. xuất quy trình phòng trị ve
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status