MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở thực vật ngoài protein, saccarit, lipit, vitamin, còn có những chất khác có vai trò quan
trọng trong trao đổi chất của cây được gọi là các chất thứ sinh (plant secondary metabolites). Căn
cứ vào tính chất hóa học, các họp chất thực vật thứ sinh được chia thành một số nhóm chính như:
nhóm phenolic, nhóm terpen, và nhóm alkaloid.
Các chất này rất đa dạng về cấu trúc và kích thước, và được tìm thấy trong rất nhiều loài
thực vật khác nhau, mỗi loài có một dẫn xuất khác nhau. Lượng chất thứ cấp được tạo ra thường rất
nhỏ, nhưng chúng có khả năng tiềm ẩn hoạt tính sinh học rất mạnh ngay cả khi chúng thấp hơn 1%
trọng lượng mô thực vật. Các họp chất thứ cấp có thể được sản xuất trong các loại tế bào đặc biệt
như tế bào tuyến tiết, lông tơ, biểu bì nơi mà chúng được tiết ra có chức năng như các chất xua
đuổi, tụ* vệ hay dẫn dụ. Một trong những chức năng dễ nhận thấy nhất ở các chất thứ cấp đó là có
vai trò sinh hóa trong cơ chế bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh và xâm hại [30], [32].
Nhiều công trình nghiên cứu gần đây đã cho thấy các họp chất polyphenol (thuộc nhóm hợp
chất phenolic) ngày càng ứng dụng rộng rãi trong điều trị một số bệnh nan y như: nhiễm trùng, ung
thư, béo phì, tiểu đường [1].
Hiện nay trên thế giới với những thống kê mới nhất về bệnh tiếu đường, nhất là loại 2, hết
sức đáng lo ngại. Tại Mỹ hiện nay có ít nhất 25 triệu người mắc và sẽ tăng lên tới 60 triệu trong 10
năm tới nếu không có gì thay đổi trong nếp sống của người dân khi những người ở trong tình trạng
tiền tiểu đường (pre diabetic) trở thành bị tiểu đường thực sự. Tuy vậy không chỉ riêng nước Mỹ
phải đối diện với bệnh tiểu đường vói tỷ lệ mắc bệnh trung bình 8 % dân chúng. Tại các nước Châu
Á cũng đang có một làn sóng bệnh tiểu đường lan tràn hết sức mau lẹ. Tại Ấn độ tỷ lệ bệnh tiều
đường hiện nay đã lên tới khủng khiếp, chiếm 20 % tổng số người bị tiểu đường trên thế giới, khiến
châu Á sẽ là một mở vàng hiện nay cho các công ty dược phẩm chế tạo thuốc trị bệnh tiếu đường và
các thiết bị đo đường trong máu. Tổ chức y tế thế giới WHO tiên đoán vào năm 2025 thì Ấn Độ và
sau đó là Trung Quốc sẽ dẫn đầu thế giới về tỷ lệ bệnh tiếu đường, các nước Đông Nam Á trong đó
có Việt Nam cũng sẽ không kém gì hai nước khổng lồ kể trên.
Tính đến nay, Việt Nam có gần 5 triệu người mắc bệnh đái tháo đường. Với tỷ lệ tăng từ 8-
20% mỗi năm, Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ bệnh đái tháo đường tăng nhanh nhất trên
thế giới. Thống kê của Hội Người giáo dục bệnh ĐTĐ Việt Nam cho thấy, nếu như năm 2002, tỷ lệ
người mắc ĐTĐ chiếm 2,7% dân số thì hiện con số này đã lên trên 7,2%, trong đó khu vực các đô
33 Nghiên cứu tác động hạ đường huyết và chống rối loạn trao đối lipid trên mô hình chuột BP và
ĐTĐ của các phân đoạn dịch chiết từ cây Đương quy.
4. Đối tượng nghiên cún
4.1Mau thực vật
2
+ Cây Đương quy (Angelica sỉnensis (Oliv.) Diels).
+ Bộ phận sử dụng: lá, thân và rễ (củ).
+ Địa điểm thu mẫu: Sìn Hồ - Lai Châu.
4.2Mẩu động vật
Chuột nhắt trắng là chủng Swiss 4 tuần tuổi (14-16g), do viện vệ sinh dịch tễ TW cung cấp.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1Phương pháp hóa lý: sử dụng các hệ dung môi hữu cơ có độ phân cực khác nhau để tách một số
phân đoạn dịch chiết chứa các hoạt chất thiên nhiên từ cây Đương quy.
5.2Sử dụng các phương pháp hóa sinh: Định tính, định lượng, nghiên cún đặc tính hóa sinh của các
phân đoạn dịch chiết.
53 Tạo mô hình chuột BP: Chuột nhắt trắng chủng Swiss(14-16g) sau 3 ngày thích nghi với điều
kiện phòng thí nghiệm, được nuôi bằng chế độ ăn giàu lipid trong thời gian 4 tuần, khi đó chuột
nuôi bằng chế độ ăn giàu lipid tăng có ý nghĩa thống kê so với chuột nuôi bằng thức ăn thường.
5.4Tạo mô hình chuột ĐTĐ type I: chuột nuôi BP được gây ĐTĐ type II bằng tiêm STZ dưới màng
bụng . Sau 2-3 ngày những con chuột này bị bệnh với nồng độ glucose huyết được xác định
>18mmol/l.
5.5Sử dụng phương pháp hóa sinh y dược đế định lượng đường huyết và một số chỉ số hóa sinh liên
quan đến rối loạn trao đổi lipid ở chuột nhắt và sau khi điều trị bằng các phân đoạn dịch chiết từ cây
Đương quy (phân tích một số chỉ so Glucoza, Triglycerid, cholesterol, LDL-Lipoprotein tỉ trọng
thấp, HDL- Lipoprotein tỉ trọng cao).
6. Đóng góp mới của đề tài
- Cung cấp một số dẫn liệu khoa học về thành phần hóa học và hàm lượng các nhóm chất hữu cơ
trong phân đoạn dịch chiết tù' cây Đương quy ( Angelica sinensis (Oliv) Diels).
- Đánh giá được một phân đoạn dịch chiết có khả năng hạ đường huyết và giảm béo phì từ cây
Đương quy (Angelica sinensis (Oliv) Diels).
hầu hết các loài thực vật và có nhiều hoạt tính sinh - dược học có giá trị [9].
1.1.2.1. Câu tạo hoá học và phân loại
về cấu tạo hóa học, khung cacbon của flavonoid là C6 - C3 - C6, gồm 15 nguyên tử cacbon,
hai vòng benzene A và B nối với nhau qua dị vòng c, trong đó A kết hợp với c tạo khung chroman.
Tùy theo mức độ oxy hoá của vòng pyran, sự có mặt hay không có mặt của nối đôi giữa c
2
và c
3
và nhóm cacbonyl ở c
4
mà có thể phân biệt flavonoid thành các nhóm phụ sau: flavon,
2’ 3’
Flavan (2-phenyl chroman)
4
flavonol, flavanon, chalcon và auron, antoxyanidin, leucoantoxyanidin, catechin, isoflavonoid,
rotenoid, neoflavonoid.
Flavonoid tồn tại ở hai dạng: dạng tự do gọi là aglycon và dạng liên kết với đường gọi là
glycoside. Các glycoside khi bị thuỷ phân bằng acid hoặc enzyme sẽ giải phóng ra đường và
aglycon tương ứng. Có 2 dạng glycoside là
5
O-glycoside và C-glycoside. Đối với O-glycoside phân tử đường liên kết với flavonoid thông
qua nhóm hydroxyl như rutin; đối với c-glycoside, flavonoid liên kết với đường thông qua
nguyên tử cacbon như saponin.
HO
Rutin
1.1.2.2. Hoạt tính sinh học của flavonoid
- Tác dụng chống oxy hoá (antioxydant): flavonoid có khả năng kìm hãm các quá trình oxy hoá
dây chuyền sinh ra bởi gốc tự do hoạt động. Nhũng flavonoid có các nhóm hydroxyl sắp xếp ở
vị trí octo dễ dàng bị oxy hoá dưới tác dụng của các enzyme polyphenoloxydase và peroxydase
tạo thành dạng semiquinon hoặc quinon.
) là những
flavonoid có hàm lượng cao trên họ cam chanh (Rutaceae) đã được nhiều nhà nghiên cún chiết
xuất và thử tác dụng trên mô hình chuột béo phì cho kết quả tốt trong việc làm hạ các chỉ số lipid
máu [28], [32].
- Tác dụng hạ glucose huyết
Một số flavonoid được tách chiết tù’ nguyên liệu thực vật đã được chứng minh là có tác
dụng điều hòa glucose huyết như: quercetin có trong Đỗ trọng (Eucommia ulmoides Oliver.) [43],
Hesperidin và Naringin có trong các cây thuộc họ Rutaceae, Genistein và Daidzein có trong Đậu
nành (Glycine max L.) [39], Myricetin có trong cây Vông vang (Abelmoschus moschatus).
1.1.3. Tannin
ỉ .1.3.1. Cấu trủc hoá học và phân loại
Tannin là hợp chất phenol có trọng lượng phân tử cao, có chứa các nhóm chức hydroxyl và
H
O
.
O
H
'
O
H
Quere etin Hesperidin Epicatechin
7
các nhóm chức khác (như cacboxyl), có khả năng tạo phức với protein và các phân tủ’ lớn khác
trong điều kiện môi trường đặc biệt
[27].
Tannin được cấu tạo dựa trên acid gallic và acid tanic. Tannin có 2 nhóm chính: tannin thuỷ
phân và tannin ngưng tụ.
- Tannin thuỷ phân: gồm có các tannin mà thành phần chính để tạo polymer thường là ester của acid
gallic với gốc đường, các ester không mang đường của acid phenolcacbonic và ester của acid
ellagovic với đường.
1.1.4.2. Tác dụng sinh học
Alkaloid được hình thành tù’ các sản phấm của quá trình trao đổi chất như trao đổi protein.
Ở trong cây, alkaloid được coi như là chất dự trữ cho tổng hợp protein, các chất bảo vệ cây, tham
gia vào sự chuyển hoá hydro ở các mức độ khác nhau, [27].
Alkaloid được sử dụng nhiều trong công nghiệp dược, có rất nhiều thuốc chữa bệnh được sử
dụng trong y học là các alkaloid tự' nhiên hoặc nhân tạo, ví dụ như: atrophin, morphin, cocain,
1.2. Bệnh béo phì (Obesity)
1.2.1, Khái niệm và phân loại béo phì
Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa béo phì (Obesity) là tình trạng tích lũy mõ' quá mức và
không bình thường tại một vùng hay toàn bộ cơ thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe. Tổ chức này dùng
chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mass Index) để đánh giá tình trạng dư thừa hay thiếu hụt mỡ của mỗi
người. Chỉ số khối cơ thể được tính theo công thức như sau:
Trong đó: W: Khố i lượng (kg)
H: Chiều cao (m)
H
O
Gaffein
Morphine
Nicotin
9
1.2.2. Thực trạng béo phì trên thế giới và trong nước
Theo tố chức y tế thế giới (WHO) hiện nay số người béo phì đã lên tới 1,7 tỉ người [3],
không chỉ gặp nhiều ở các quốc gia phát triển mà còn gặp cả ở các quốc gia đang phát triển. Mỹ là
nước có số dân mắc bệnh cao nhất thế giới, khoảng 60 triệu người (chiếm 30% dân số), tăng gấp 3
lần so với điều tra năm 1991. Ở châu Ảu, Anh là quốc gia đứng đầu bảng với 23% dân số. Tại châu
Á tỉ lệ thừa cân béo phì ở một số nước như sau: Thái Lan 3,5%, Philip in 4,27%, Malaysia 3,01%,
Nhật 3%, Trung Quốc 2%, Hồng Kông 3%.
Tại Việt Nam, theo tiêu chuẩn cho người châu Á, số người thừa cân béo phì cũng tăng theo
thời gian. Năm 1991 thì tỉ lệ thừa cân mắc bệnh béo phì nói chung tại Hà Nội là 1,1%. Đen năm
2000 con số này đã là 2,62% tăng gần 2,5 lần trong vòng 10 năm. Năm 2007, Viện dinh dưỡng
mái trong sinh hoạt, giảm hiệu suất lao động, khối lượng Cỡ thể nặng nề kém lanh lợi.
Người béo phì có nguy cơ bệnh tật cao hơn so với người thường do nhiễm độc mỡ máu, tiêu
biểu như:
* Bệnh tim mạch: do mỡ tạng làm tim khó co bóp và mỡ máu làm xơ cứng mạch vành và các mạch
máu khác gây nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp.
* Rối loạn lipid máu: tình trạng này rất hay gặp ở người béo bụng và có biểu hiện đặc trưng là tăng
triglycerid và lipid có hại (LDL-C), giảm lipid có lợi (HDL-C).
* Tiếu đường: béo phì toàn thân có nguy cơ mắc ĐTĐ type 2.
* Đột qụy: những người có BMI > 30 dễ bị tủ’ vong do bệnh liên quan đến mạch máu não.
* Ngoài ra béo phì còn làm gia tăng nguy cơ của nhiều bệnh khác: xấu đi tình trạng rối loạn tiền mãn
kinh ở phụ nữ, suy giảm chức năng hô hấp, rối loạn hoạt động cơ xương, ung thư, sỏi mật và các
vấn đề bệnh lý tâm thần khác [3], [13], [31].
1.2.5. Một số chỉ số hoá sinh liên quan đến rối loạn trao đổi ỉipid máu và bệnh xơ vữa động
mạch
Huyết thanh người bình thường có 5 - 7g/l lipid toàn phần bao gồm acid béo tự do,
triglycerid, cholesterol toàn phần với hai dạng cholesterol tự do và cholesterol este, các
photpholipid. Vì không tan trong nước nên lipid được vận chuyển trong máu dưới dạng kết hợp với
các protein đặc hiệu. Các acid béo tự do được vận chuyển chủ yếu bởi albumin, các lipid khác được
lưu hành trong máu dưới dạng phức họp lipoprotein như: các hạt chymomicron, VLDL, HDL, IDL,
LDL. Các lipoprotein này có kích thước, thành phần, tỉ trọng và chức năng khác nhau trong quá
trình chuyển hóa lipid [9], [24], [41].
Đe đánh giá lượng mỡ trong máu người ta làm xét nghiệm với các chỉ số:
* Cholesterol toàn phần (2,9 - 5,2 mmol/1);
* Triglycerid (0,8 - 2,3 mmol/1);
* HDL-C (0,90 - 1,50 mmol/1);
* LDL-C (0,5 - 3,4 mmol/1).
1
Tình trạng rối loạn và hoặc tăng nồng độ các thành phần lipid trong máu, hậu quả là sự tạo
thành các mảng xơ vữa gây tắc mạch làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và đột qụy, tăng các
biến chứng mạch máu khác, hậu quả nặng nề nhất là dẫn đến tử vong hoặc tàn phế gọi là rối loạn
triệu người [2]. Dự đoán đến năm 2010 có khoảng 222 triệu và năm 2025 có khảng 300 triệu
bệnh nhân chiếm 5,4% dân số thế giới [2]. Đặc biệt ngày nay tỉ lệ người mắc bệnh ở châu Á đã
vượt xa châu Âu - nơi vẫn được xem là
0
bệnh [1]. Tại Tây Thái Bình Dương có 12 quốc gia có tỉ
lệ ĐTĐ type 2 trên 8%, cá biệt có Nhật Bản, Australia có tỉ lệ bệnh vượt 20%.
Việt Nam hiện nay ĐTĐ đang gia tăng rất nhanh. Năm 1990, Hà Nội có tỉ lệ mắc bệnh là
1,2%, Huế 0,96%, Thành phố Hồ Chí Minh là 2,52%. Theo điều tra quốc gia năm 2002 cho thấy
tỉ lệ người mắc bệnh ĐTĐ lứa tuổi tù' 30 - 64 trong toàn quốc là 2,7% (khu vực đô thị và khu
công nghiệp tỉ lệ tới 4,4%). Đặc biệt bệnh này trong nhóm người có yếu tố nguy cơ là rất cao
(10,3%). Hiện nay, có khoảng hai triệu người mắc bệnh ĐTĐ nhưng có tới 65% số đó không biết
mình đã mắc bệnh. Theo PGS. TS Tạ Văn Bình: ĐTĐ type 2 ở lứa tuổi thanh thiếu niên ngày một
tăng nhanh, đây là một vấn đề rất đáng lưu tâm [2].
1.3.2. Phân loại bệnh ĐTĐ
Bệnh ĐTĐ được xác định dựa vào những tiêu chí trong bảng 1.2 [4]. Bảng 1.2. Các
tiêu chí đễ chuẩn đoán ĐTĐ theo WHO.
Dựa vào những hiểu biết về nguyên nhân phát sinh bệnh, ủy ban chuyên gia về chuẩn đoán
và phân loại ĐTĐ của WHO chia ĐTĐ thành các loại như sau:
ĐTĐ type 1: Thường xảy ra ở trẻ em và thanh thiếu niên, khởi phát ở các cá thể có tính mẫn
cảm về di truyền với bệnh. Nguyên nhân chính của bệnh là tế bào p đảo tụy Langerhans bị phân
hủy dẫn đến mất khả năng sản xuất insulin, một hormon điều hòa lượng đường trong máu. Quá
trình hủy hoại tế bào p do cơ chế tự miễn [4], [25]. Người ta đã biết đến 18 vùng gen liên quan đến
type này được kí hiệu từ IDDM1 đến IDDM18. Các gen này chủ yếu liên quan đến những yếu tố
Kết luận
Đường
huyết lúc
đói
(mmol/1)
Đường huyêt 2 giờ sau
khi làm nghiệm pháp
đói, bệnh ĐTĐ biểu hiện ra bên ngoài.
Ngoài ra còn có ĐTĐ thai nghén và một so type ĐTĐ đặc biệt khác như thiếu hụt chức năng
tế bào p, thiếu hụt di truyền về tác động của insulin, bệnh tụy ngoại tiết,
1.3.3. Các thuốc điều trị bệnh ĐTĐ
Trừ những nguyên nhân di truyền thì ăn uống sinh hoạt hợp lý điều độ và khám sức khỏe
định kỳ là phương thức chung đế phòng bệnh nói chung và bệnh ĐTĐ nói riêng. Tùy theo loại
ĐTĐ mà việc điều trị bằng thuốc là khác nhau:
+ Insulin và các thuốc kích thích bài tiết insulin như Sulfonflurea, Nateglinid (Starlix)
+ Thuốc làm tăng tính nhạy cảm của thụ thể với insulin như: Biguanid, nhóm
thiazolidinedion
+ Các thuốc chống tăng glucose huyết sau bữa ăn: thuốc ức chế enzyme a- glucosidase
1.4. Mối quan hệ giữa béo phì và đái tháo đường
Béo phì và ĐTĐ là hai bệnh không truyền nhiễm nhưng nguy hiểm nhất của thế kỉ 21. Hai
căn bệnh này có mối liên quan chặt chẽ với nhau thể hiện ở chỗ tỉ lệ người béo phì luôn tăng tương
đương với số bệnh nhân bị ĐTĐ. Một cuộc khảo sát của Mỹ gần đây đã chỉ ra rằng có tới 58% số
người bị ĐTĐ type 2 được quy cho là do béo phì. Béo phì liên quan tới ĐTĐ type 2 thông qua sự
1
đề kháng insulin. Nồng độ acid béo tự do cứ tăng 100|jM thì mức đề kháng insulin tăng khoảng 5-
10% [2]. Thiếu insulin dẫn đến sự tăng trọng lượng cơ thể, tăng đường máu, cuối cùng dẫn đến
bệnh ĐTĐ type 2.
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa béo phì và bệnh ĐTĐ type 2 bao gồm: chỉ
số khối cơ thể, thời gian béo phì, chế độ dinh dưỡng, sự vận động thân thể. Một thống kê đã chỉ ra
rằng những người có chỉ số khối cơ thể lớn hơn 30 kg/m2 trong 10 năm có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ
type 2 cao gấp hai lần người bị béo phì dưới 5 năm và nếu trọng lượng cơ thể tăng một kilogam thì
rủi ro về bệnh ĐTĐ type 2 tăng 4,5% [31]. Đây chính là cơ sở đế Reed và cộng sự đưa ra phương
pháp gây mô hình ĐTĐ thực nghiệm ở động vật bằng cách tiêm STZ liều đơn cho chuột đã được vỗ
béo nhiều ngày [44], [45], [50]. Tại Việt Nam, Trần Thị Chi Mai đã áp dụng phương pháp này và
đạt hiệu quả 90% chuột xuất hiện ĐTĐ với nồng độ glucose máu >10 m mo 1/1 [18].
Ket quả của nhiều nghiên cún cho thấy acid béo tự do có vai trò trong bệnh sinh ĐTĐ type
2. Phần lớn người béo phì có nồng độ acid béo trong huyết tương tăng cao. Sự tăng này ức chế quá
ÕH
Streptozotocin
1
1
ĐTĐ type 1: với chuột cống trưởng thành, tiêm liều duy nhất tù’ 40 - 60 mg/kg thể trọng
hoặc cao hơn. Với chuột nhắt trưởng thành, tiêm liều 100 - 150mg/kg thê trọng.
ĐTĐ type 2: với chuột cống, tiêm STZ liều 100mg/kg vào ngày đầu tiên sau khi sinh. Với
chuột nhắt có thể nuôi với chế độ dinh dưỡng giàu lượng mỡ sau đó tiêm STZ với liều 50 -
100mg/kg.
STZ được nhận biết và xâm nhập vào tế bào p qua kênh vận chuyến glucose GLUT2. Hoạt
động của nó trong tế bào làm tổn thương và alkyl hóa ADN và cuối cùng dẫn tới hoại tử tế bào.
Hoạt tính alkyl hóa của STZ do hoạt động của nhóm nitrosourea của nó, đặc biệt là ở vị trí o
6
của
guanine.
STZ tạo ra nitric oxide (NO) làm tốn thương ADN của tế bào p. Mặt khác, hoạt động của
NO làm ức chế chu trình Krebs, giảm tiêu thụ oxy trong ty thể từ đó làm giảm mạnh sự sản xuất
ATP và tổn hại đến các nucleotit của tế bào. Đồng thời phân tử này còn ức chế hoạt tính enzyme
aconitase. Mặt khác, sự tăng cường loại bỏ gốc phosphate của ATP sẽ bổ sung cơ chất cho xanthine
oxidase và tăng cường sản xuất acid uric. Sau đó, xanthine oxidase xúc tác phản ứng tạo thành
anion superoxyde (0
2
~). Cuối cùng anion superoxyde sinh ra hydrogen peroxide (H202) và gốc
hydroxyl (OH ). Các dạng oxy phản ứng này cũng tập trung phá hủy ADN và gây ra những thay đổi
bất lợi cho tế bào. NO và các dạng oxy hoạt động còn có thể tạo thành peroxynitrate (ONOO) có
độc tính cao. Tổn thương ADN gây ra bởi STZ làm tăng cường quá trình trùng họp ADP (Poly ADP
- ribosylation) dẫn đến làm mất NAD+, xa hơn nó phá hủy ATP dự trữ và sau đó ức chế sự tổng họp
và tiết insulin của tế bào p, [38].
1
STZ
có lượng mưa nhiều và phân bố đồng đều. Lượng mưa cả năm đạt trung bình khoảng 1034mm.
Đương quy là cây yêu cầu về nhiệt độ tương đối mát mẻ vì nó có nguồn gốc ở vùng ôn đới, nhiệt
độ thích hợp nhất cho nó sinh trưởng và phát triến tù’ 18 - 30°c, nhiệt độ tối thấp mà Ĩ1Ó có thể
chịu đụng được là -7°c. Lúc còn non ưa sống nơi đất xốp, tầng đất dày, nhiều mùn và ít ánh sáng.
Khi lớn nó ưa trồng nơi khuất gió đủ ánh sáng, tiện lợi cho việc tưới nước, đất thoát nước tốt, thuận
lợi nhất là đất pha cát, pH đất thích hợp là từ 5.5 - 6.5.
1.6.3. Thành phần hóa học
Trong đương quy có chứa tinh dầu chiếm 0.2%, có tỉ trọng là 0.955 ở t° = 15°c, có màu
vàng sẫm trong. Tỷ lệ axit tự do trong tinh dầu chiếm tới 40%. Thành phần chủ yếu của tinh dầu
đương quy chủ yếu gồm có:
• N. butyliden phtalit C12H1202.
• N. valerophenon o - cacboxyaxit C12H1403.
• N. butylphtalit C12H1402.
• Bergapten c 12H804, seoquyteepen, saírola và một số vitamin B12
1.6.4. Một số tác dụng Sinh - dược và công dụng của cây đương quy
Theo y học cổ truyền, đương quy có tác dụng điều trị: Huyết hư,
chóng mặt, tim đập mạnh, điều hoà kinh nguyệt, kinh nguyệt bế tắc,
hành kinh đau bụng, đau bụng do hư hàn, táo bón. Chữa các chứng
đau đầu, đau lưng do thiếu máu, phong thấp tê đau, sưng đau do
sang chấn. Còn được dùng trị cao huyết áp, ung thư và làm thuốc
giảm đau, chống co giật, ra mồ hôi, kích thích ăn ngon cơm.
2
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1. Đối tượng
2.1.1. Mẩu thực vật
+ Cây Đương quy (Angelica sinensis (Oliv.) Diels).
+ Bộ phận sử dụng: Lá, thân, rễ.
+ Địa điểm thu mẫu: Sìn Hồ - Lai Châu.
+ Mau thực vật do Bộ môn Thực vật học - Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2 giám định.
2.1.2, Mẩu động vật
Tiếp tục ngâm mẫu (sau khi đã ngâm với ethanol) với n-hexan trong vòng 10 ngày sau đó
thu dịch chiết và cô dưới đèn sợi đốt như trên tạo thành 58.5g dạng cao và bảo quản trong tủ lạnh.
Tiếp tục ngâm mẫu (sau khi đã ngâm với n- hexan) với ethylacetate trong vòng 10 ngày sau
đó thu dịch chiết và cô dưới đèn sợi đốt như trên tạo thành 40g dạng cao và bảo quản trong tủ lạnh.
2.2.2. Định tính một số nhóm hợp chất tự nhiên
Cao các phân đoạn được hòa tan trong dung môi thích hợp với từng loại phản ứng định tính
[30], [32]. Các nhóm phản ứng được trình bày tóm tắt trong bảng sau:
2
2
2
Bảng 2.1. Bảng các phản ứng định tính đặc trung.
Nhóm hợp
chất
Phản ứng Thuôc
thử
Dấu hiệu nhận biết
Flavonoid Shinoda Mg/HCl
Màu đỏ, hông, da cam xuât hiện chứng tỏ sự
có mặt của flavon, flavonol và các dẫn xuất
hydro của chúng.
Diazo ho
á
Diazo Phản úng cho màu da cam là dương tính.
Dung dịch
kiềm
NaOH
10%
Phản ứng có kêt quả dương tính khi xuât hiện
Phản ứng dương tính nếu có màu đỏ thẫm.
VansMaye
r
Hôn hợp
HgCl
2
+
KI
Phản ứng dương tính nếu có kết tủa màu trắng
hoặc vàng nhạt.
Dragendorf
Phản úng dương tính nêu có kêt tủa màu da
cam.
Glycoside Keller-Killian
Phản ứng dương tính nêu xuât hiện vòng đỏ
nâu ở bề mặt phân cách giữa hai lớp chất lỏng.
Polyphenol
khác
Dung dịch kiềm
Phản ứng dương tính nêu xuât hiện màu vàng.
FeCl
3
/HCl
Phản ứng dương tính nêu xuât hiện màu lục,
xanh, đen.