PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Với xu thế phát triển của nền nông nghiệp nước ta, đặc biệt ngành chăn nuôi
đã không ngừng phát triển và mở rộng, ngoài phương thức chăn nuôi nhỏ ở các hộ
gia đình hoặc phương thức nuôi thả … thì hiện nay nước ta đã chăn nuôi với quy
mô lớn, người chăn nuôi đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, từ đó số
lượng và chất lượng đàn gia súc cũng tăng lên nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
ngày càng càng cao của con người.
Tỉnh Đăklăk nước ta có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc chăn nuôi
trâu bò, tuy nhiên chất lượng con giống vẫn còn thấp. Chính vì vậy, nhà nước cũng
đã có những chủ trương chính sách như thực hiện dự án 135 của tỉnh và áp dụng cảI
tạo giống bò vàng Việt Nam bằng chương trình sind hoá đàn bò của dự án 2651
Việt Nam và hiện nay đàn bò của tỉnh đang có những chuyển biến tốt về cơ cấu đàn,
con giống.
Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi thì công tác chăn nuôi Thú y
cũng được đẩy mạnh đồng thời trình độ chăn nuôi cũng được nâng cao hơn, tuy
nhiên sự phát triển về kinh tế xã hội ở mỗi vùng có sự khác nhau, từ đó nói chung
cũng không tránh khỏi được những dịch, bệnh xảy ra trên đàn gia súc, mà thực tế
bệnh ngoại ký sinh trùng mắc đa số với các cường độ nhiễm khác nhau, bệnh diễn
ra dai dẳn, thường ở thể mãn tính, trong đó ve là loài ký sinh trùng ký sinh chủ yếu
và thường xuyên trên gia súc, hút máu và dinh dưỡng của gia súc, mặt khác làm gia
súc ngứa ngáy khó chịu không yên, còi cọc, giảm sức đề kháng, giảm trọng lượng
cơ thể, ngoài ra ve còn là vật môi giới trung gian truyền lây một số bệnh ký sinh
trùng dường máu như bệnh lê dạng trùng, biên trùng,…làm giảm khả năng sản xuất
của gia súc gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế cho ngành chăn nuôi.
Để tìm hiểu về ve ký sinh, ngoài việc nghiên cứu đặc điểm sinh sản, phát
triển và những đặc điểm về dịch tễ của ve… thì việc nghiên cứu biện pháp phòng trị
ve mới là vấn đề quan trọng nhất nhằm giảm bớt tác hại do ve gây ra. Và trong công
tác phòng trị ve người ta cũng đã đưa ra nhiều biện pháp và nhiều loại thuốc khác
nhau nhằm diệt ve hiệu quả cao, tuy nhiên những thuốc có nguồn gốc hoá dược như
Dipterex, DDT,… ngoài khả năng diệt ve cao thì nó lại gây quen thuốc và tích luỹ
một số loài ve như: Ixodes ricinus, Hyalomma aegyptium, nhưng chưa có hệ thống.
Đến thế kỷ 19, Hurman (1804), Leach (1815), Vouheyden (1826) và
Sundevall (1833)… cũng chỉ mới phân chia thành một số giống họ ve.
Đến năm 1844 C.L. Koch gộp tất cả các loài ve thành một bộ Ricini gồm 3 họ:
- Argasiden có hai giống Argas và Ornithodos.
- Ixodiden có ba giống Haemalastoe, Amblyomma, Ixodes.
- Rhipitomiden có 4 giống Dermacentor, Haemaphysalis,
Rhipistoma và Rhipicephalus.
Từ năm 1844 – 1892 một số nhà khoa học Gervais, Nicoles, Megnin,
Murray,… đã có nhiều nghiên cứu về phân loại ve nhưng vẫn chưa có hệ thống.
Đến thế kỷ thứ XX thì Silmon, Stiles (1901), Neummann (1907, 1908) đã có
hệ thống phân loại và chia họ ve đơn giản hơn, hệ thống phân loại của các tác giả
này như sau:
Liên họ (superfamilia) ve Ixodoidae gồm hai họ:
1. Ve mềm Argasidae có giống Argas và Ornithodoros.
2. Ve cứng Ixodidae gồm hai phân họ:
a) Rhipicephalinae có giống Rhipicephalus, Haemaphysalis,
Boophilus và Dermacentor.
b) Ixodinae có giống Ixodes, Eschatocephalus, Aponomma,
Amblyomma và Hyalomma.
3
Việc nghiên cứu dịch tễ học của ve lại càng phát triển hơn. Năm 1911,
Neummann thống kê được 264 loài và phân loài ve cứng Ixodidae và ve mềm
Argasidae.
Trong những năm tiếp theo đã có không ít những công trình nghiên cứu về
sinh thái, sinh lý, phân loại và dịch tễ học của ve.
Từ năm 1911 – 1939 Schulze đã thống kê được 500 loài ve. Trên thế giới
hiện nay đã phát hiện hơn 750 loài ve cứng Ixodidae và trên 100 loài ve mềm
Argasidae.
Khu hệ ve Châu Á cũng khá phong phú và được nhiều tác giả nghiên cứu. Ở
một loài thuộc giống Ixodes, một loài thuộc giống Amblyomma, 5 loài thuộc giống
Haemaphysalis. Ở Bắc Bộ có gặp loài Rhipicephalus và một loài thuộc giống Argas.
Ngoài ra một số loài phổ biến ở nhiều nơi như Boophilus annulatus, australis và
Amblyomma testudinarium.
Năm 1954 cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia Trung Quốc và Liên Xô,
chúng ta đã tiến hành điều tra ve trên gia súc và động vật hoang dã. Năm 1956 Đoàn
nghiên cứu ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng do I. M. Grochovskey, giáo sư Đặng
Văn Ngữ, Đào Văn Tiến, Nguyễn Xuân Hòe và cộng sự đã nghiên cứu ve trên động
vật sống gần người và gia súc ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, năm 1968 tác giả đã
công bố có phát hiện giống ve cứng ở phía Bắc Việt Nam.
Năm 1977 – 1985, Viện sốt rét ký sinh trùng và côn trùng phối hợp với
phòng ký sinh trùng Viện sinh thái và tài nguyên thuộc Viện khoa học về các loại
ký sinh trùng khác ở một số tỉnh Trung Nam Bộ và Tây nguyên.
Năm 1967 và 1970, trong báo cáo kết quả điều tra họ ve cứng Ixodidae trên
hai tỉnh hai tỉnh phía Bắc nước ta là Lạng Sơn và Quảng Ninh, và tại Ủy ban khoa
học và kỹ thuật nhà nước, Nguyễn Văn Chí, Phan Trọng Cung và cộng sự đã định
loại được 22 loài ve cứng thuộc 7 giống ký sinh trên các vật chủ khác nhau:
- Giống Ixodes có 1 loài.
- Giống Amblyomma có 4 loài.
- Giống Aponomma có 2 loài.
- Giống Dermacentor có 1 loài.
- Giống Haemaphysalis có 11 loài.
5
- Giống Rhipicephalus có 2 loài.
- Giống Boophilus cur có 1 loài.
Năm 1968, Từ Hán Tường đã báo cáo “Điều tra côn trùng Thú y ở một số
vùng trọng điểm ở miền Bắc Việt Nam” tại Bộ Nông nghiệp nước ta và đã tổng kết
rằng: Họ ve cứng đã thu thập được 6 giống gồm 11 loài: Giống Ixodes có 1 loài,
giống Amblyomma có 2 loài, giống Dermacentor có 1 loài, giống Haemaphysalis có
4 loài, giống Rhipicephalus có 2 loài và giống Boophilus cur chỉ có 1 loài.
thân hay nằm khuất dưới mặt bụng.
Đáy đầu (basic capituli) có nhiều hình dạng khác nhau, có thể hình lục giác,
hình vuông hoặc hình thang, hình tam giác …, có loài đáy đầu bị tiêu giảm, trên mặt
lưng góc đầu có hõm hình tròn hay hình bầu dục, song song, hay ngã ssang hai bên,
hõm đầu chỉ có ở ve cái, đặc điểm này có ý nghĩa trong quá trình loại ve.
Trên đầu giả có mắt đơn, có khi mắt đơn nằm ở phần thân.
Xúc biện có bốn đốt: Đốt một xát gốc đầu, đốt hai có mấu cạnh lồi ra hoặc
không, đốt bốn nằm mặt bụng của đốt ba. Trên xúc biện có những lông tơ, mịn.
Kiềm: gồm có hai kiềm, ngoài được bao bởi bao kiềm dung để xé da vật chủ,
phía trên miệng có răng hoặc gai nhỏ, công thức răng khác nhau tùy loài, ve B.
microplus có công thức răng 4/4, theo Nattall(1911) một số loài công thức răng có
sự thay đổi.
2.1.2. Thân hay phần bụng (Idosoma)
Gồm có mặt lưng và mặt bụng.
- Mặt lưng: Thân ve cứng có mai lưng bằng kitin, mai lưng của ve đực được
phủ kín toàn bộ, còn ve cái, ấu trùng, thiếu trùng chỉ chiếm 1/3 về phía trước
lưng, nằm sau đầu giả.
Mai lưng thường có màu nâu tươi, hình dạng mai lưng có ý nghĩa trong phân
loại ve.
Mắt có cấu tạo đơn giản hơi hẹp, hình bán cầu, có hốc mắt, có một số mắt
biến đổi rất khó quan sát.
Mặt lưng của ve có nhiều đường lõm sâu gọi là rãnh, gồm có:
+ Rãnh cổ: Từ hõm cổ song song với trục giữa thân xuống phía sau .
+ Rãnh bên: Nằm giới hạn giữa miền vai và hõm cổ.
+ Rãnh giữa sau:nằm ở miền giữa theo trục thân, và có 11 rua.
7
Trên thân có thể có rua phụ nằm ở mặt lưng, khi ve no máu thấy ở mặt lưng.
- Mặt bụng: Có các lỗ:
+ Lỗ thở: nằm ở trên tấm thở, có nhiều lỗ nhỏ nằm rải rác khắp bề mặt các cơ
quan khứu giác.
Hoạt động giao phối của sinh vật có thể xảy ra một lần hoặc nhiều lần tùy
loài, sự giao phối có thể xảy ra trên cơ thể vật chủ, có khi xảy ra ở môi trường
ngoài. Hoạt động giao phối phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và dinh dưỡng, nếu
nhiệt độ quá lạnh hoặc quá khô thì ký sinh ngừng phát triển.
Hoạt động giao phối xảy ra trong khi hút máu, xảy ra trước bữa ăn hoặc giữa
bữa ăn, nếu chưa giao phối thì ve cái sẽ nằm chờ ve đực đến giao phối. Con đực
thường đi tìm con cái để giao phối nhưng cũng có khi con cái đi tìm con đực. Con
đực dung ba đốt xúc biện (palpe) đưa vào âm môn của con cái làm cho âm môn mở
rộng để đưa túi tinh vào, thời gian này kéo dài vài ngày, sau đó ít lâu thì con đực chết.
Con cái hút máu và dưỡng chất sẽ cung cấp chất dinh dưỡng cao cho buồng
trứng phát triển và đẻ trứng. Trứng có một lớp màng nhầy để bảo vệ. ve cái khi đẻ
thường đẻ giật lùi và kéo dài vài ngày, đẻ xon thì con cái teo nhỏ lại và chết.
Không có hoạt động giao phối khác loài nếu có sự giao phối khác loài thì thì
thế hệ con cháu sẽ không phát triển được. Trứng ve thường có màu vàng nâu hoặc
nâu sẫm. Trứng nhỏ hình cầu.
2.4. Vòng đời phát triển của ve Ixodidae
Ve Ixodidae phát triển qua ba giai đoạn: Ấu trùng, thiếu trùng và trưởng
thành, tùy loài ve khác nhau mà có sự phát triển khác nhau.
- Ấu trùng: Ve đực và ve cái ký sinh ở ký chủ, giao cấu, sau khi hút máu no
rơi xuống đất, đẻ trứng có lớp màng nhầy bảo vệ. Sau quá trình phát triển của phôi,
trứng nở thành ấu trùng đói, thời gian ủ trứng phụ thuộc vào từng loài và điều kiện
ngoại cảnh, theo Trịnh Văn Thịnh và cộng sự,1963 thì ve Boophilus microplus có
thời gian ủ trứng trung bình là 21 ngày, trong điều kiện nhiệt độ trung bình là 24
0
C
(20 – 28
0
C), ẩm độ trung bình là 86,5% (84 – 90%).
Ấu trùng đói thường tập trung từng đám màu đỏ nâu, chúng thích bám vào
những vị trí thích hợp, những lá cây có nhiều lông như lá mua, sim, cỏ, …, hoặc
1977).
Ve Rhipicephalus sanguineus trung bình là 1356 trứng / ve, ve
Haemaphisalis aegiplum đẻ khoảng 1500 trứng.
Ve Rhipicephalus sanguineus thời gian đẻ trứng 6 – 16 ngày, ve B.
microplus đẻ trứng trong 10 – 14 ngày.
Như vậy ở mỗi loài ve có vong đời dài ngắn phụ thuộc thuộc vào ngoại cảnh.
Ở nước ta nhiệt độ từ 9,6 – 35,1
0
C, ẩm độ là 80 – 93% ve Rhipicephalus
10
sanguineus có vòng đòi giao động từ 57 – 140 ngày (Theo Phan Trọng Cung,
Nguyễn Thị Nguyệt, 1999), ve B. microplus có vòng đời 71 - 204 ngày.
Vòng đời phát triển của ve có 4 dạng hình thái tương đương với 3 giai đoạn
phát triển, qua hai lần lột xác.
Phân biệt 4 dạng hình thái ở các thời kỳ phát triển của ve cứng.
Giai đoạn
Đặc điểm
Ấu trùng Thiếu trùng Trưởng thành
(Đực)
Trưởng thành
(Cái)
Mai lưng 1/3 phía trước lưng Toàn bộ
Chân 3 đôi 4 đôi
Lỗ sinh dục Chưa có Có
Hõm đầu Không có Có
Lỗ thở Chưa có Có
Giai đoạn 1: Ấu trùng qua lần biến thái lần thứ nhất thành thiếu trùng.
Giai đoạn 2: Thiếu trùng qua hai lần biến thái thành ve trưởng thành.
Giai đoạn 3: Ve trưởng thành là ve đực hoặc ve cái có khả năng sinh sản
(giao phối và đẻ trứng).
Ve còn truyền một số bệnh ký sinh trùng đường máu hoặc một số bệnh
truyền nhiễm nguy hiểm cho gia súc, gia cầm và động vật hoang dã như bệnh tiên
mao trùng, lê dạng trùng, biên trùng, theileria, nhiều nhà nghiên cứu đã phát hiện
được nhóm Rickettsia gây bệnh sốt phát ban.
2.7. Sự phân bố của ve
2.7.1. Phân bố theo địa lý
Khu hệ ve được phân bố khắp nơi trên thế giới, theo tổng kết của Kolin
(1978 – 1984) thì trên thế giới có khoảng 608 loài và phân loài. Trong đó việt Nam
có khoảng 65 loài được tìm thấy. Do đặc điểm địa lý, địa hình, các yếu tố ngoại
cảnh …ở các vùng có đặc điểm khác nhau nên thành phần loài ve, số lượng phân
giống ve có sự khác nhau rõ rệt.
Theo Phan Trọng Cung, Đoàn Văn Thụ và cộng sự 2001 đã tổng kết theo
miền địa lý cho thấy sự phân bố của ve cứng là không đồng đều: có 6 giống là có
mặt ở tất cả các miền: Amblyomma, Aponoma, Boophilus, Haemaphisalis,
12
Ixodidae, Rhipicephalus, với số lượng khác nhau. Riêng giống Dermacentor không
có mặt ở đồng bằng nước ta, giống Hyalomma chỉ mới gặp ở miền Trungvà Tây
Nam Bộ, giống Argas chỉ mới gặp ở đồng bằng Bắc Bộ.
Có ba loài ve đặc hữu ở nước ta là Haemaphysalis, Hyalomma yeni và
Hyalomma dromdari, trong đó phổ biến nhất là hai loài Boophilus và Rhipicephalus
sanguineus.
2.7.2. Sự phân bố ve theo mùa
Cácyếu tố nhiệt độ của bức xạ mặt trời… thường xuyên biến động theo mùa
và khí hậu.
Kết quả nghiên cứu của Trịnh Văn Thịnh (1963), Từ Hán Tường (1968),
Phan Trọng Cung (1962 – 1972) cho thấy: Ve Boophilus ở miền Bắc Việt Nam hoạt
động mạnh từ tháng 3 đến tháng 7. Cũng theo kết quả của Phan Trọng Cung cho
biết ở miền Bắc Việt Nam, ấu trùng Haemaphysalis hoạt động nhiều nhất trên các
loài gặm nhấm từ tháng 4 đến tháng 7, ấu trùng Ixodidae hoạt động mạnh trên loài
gặm nhấm từ tháng 11 đến tháng 12, ấu trùng và thiếu trùng Amblyomma ký sinh
thả gia súc trên đồng cỏ một thời gian cần thiết có thể làm cho ve chết đói, thời
gian cho gia súc ăn trở lại phụ thuộc vào thời gian nhịn đói của ấu trùng, thiếu trùng
và ve trưởng thành phân bố trên đồng cỏ đó.
Ấu trùng ve Boophilus microplus có khả năng nhịn đói 8 tháng, một số loài
khác thời gian này có thể kéo dài hơn để đảm bảo an toàn hiệu quả thì nên luân phiên
đồng cỏ. Năm 1968, nông trường Ba Vì đã làm thí nghiệm chăn thả luân phiên trên
đồng cỏ 9 ha được chia làm 6 khoảng trong mùa mưa (từ tháng 4 – tháng 9) thì thấy
rằng số lượng ve trên các khoảnh này rất thấp, trong khi đó những khoảnh đối
chứng chăn thả liên tục, thì số bò có ve bám rất nhiều (theo Nguyễn Vũ Hùng, Bùi
Văn Minh, 1972)
2.8.2. Biện pháp sinh học để diệt ve
Sử dụng các loài động vật, thực vật để diệt ve như chim, gà, và một số côn
trùng, vi khuẩn và nấm. Estrada – Pena A và cộng sự (1990) đã phân lập được nấm
aspergillus ocharceus từ ve Rhipicephalus sanguineus là tác nhân gây bệnh làm cho
ve không đẻ trứng, cơ thể khô lại và chết.
3.8.3. Diệt ve trên cơ thể gia súc
Bằng cách vệ sinh tắm rửa, bắt ve bằng tay hoặc phun thuốc, bôi thuốc.
Những thuốc trị ngoại ký sinh trùng gồm có ba nhóm:
14
Nhóm dẫn xuất chứa Clo: Gồm có DDT, Hexca clorciclo haxan (HCH).
Nhóm các estephospho hữu cơ gồm: Dipterex và Diclovos (DDVP): Ở nước
ta người dân thường dùng thuốc trị ve Dipterex. Dùng Dipterex 0,2 – 0,5% phun
hay xát lên cơ thể gia súc thông thường 5 – 7 ngày/lần, tuy nhiên hiện nay nhà nước
đã có văn bản cấm dùng loại thuốc này từ ngày 24/5/2002.
Hiện nay người ta cũng thường sử dụng Bivermectin (do công ty Bio sản
xuất) thành phần chính của thuốc là Ivermectin. Thuốc có tác dụng diệt tốt cả nội và
ngoại ký sinh trùng.
Ivermectin ở liều 0,2 mg/kg thể trọng có tác dụng cao đối với giun tròn đồng
thời cũng có hiệu lực cao đối với ve.
Ở Hoa Kỳ, theo Slocombe (1981) dùng Ivermectin ở liều 0,3 mg/kg thể trọng
Để điều trị ngoại ký sinh trùng, có những yêu cầu cần đặt ra đối với thuốc là:
- Tiêu diệt được ngoại ký sinh trùng trong tất cả các giai đoạn phát triển,biến
thái của chúng (Từ ấu trùng đến dạng trưởng thành).
- Thuốc có tác dụng nhanh, không hoặc ít độc đối với vật chủ.
- Thuốc dễ sử dụng tùy theo vòng đời và vị trí ký sinh của nó.
- Thuốc không hoặc ít tồn dư trong vật chủ.
Trên thức tế rất khó có loại thuốc nào đảm bảo đủ các yêu cầu trên. Các
thuốc là hợp chất Clo, P, Carbamat có thể diệt được ngoại ký sinh trùng nhưng do
cách sử dụng chưa đúng, đặc biệt ngoại ký sinh trùng kháng laị thuốc rất nhanh, mặt
khác còn gây ô nhiễm môi trường, vì thế hiện nay nhiều nước đã cấm sử dụng các
loại thuốc này. Trong khi đó thiên nhiên có nhiều loài cây thảo mộc có thể dùng để
điều trị ngoại ký sinh trùng hiệu quả cao, vì vậy người ta đã tiến hành nghiên cứu
tác dụng dược lý của nhiều loài cây để trị bệnh và những năm cuối thế kỷ XX người
ta đã dùng cây thuốc cá, cúc trừ trùng … có hoạt chất là Rotenon, lonchocarpus,
pyrethroids…. để diệt ngoại ký sinh trùng phá hoại mùa màng, và những loại thuốc
này đạt hiệu quả cao, tiện lợi dễ sử dụng, thuốc chỉ tác dụng ngoài da, không tồn dư
và ô nhiễm môi trường.
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
16
I. Đối tượng nghiên cứu
1.1. Ve ký sinh trên bò ở các giai đoạn phát triển khác nhau.
1.2. Cây cúc quỳ ở vùng Buôn Ma Thuột:
Sơ lược vài nét về cây cúc quỳ
- Tên gọi: là cây cúc quỳ hay còn gọi cây hướng dương dại, sơn quỳ, cây quỳ.
- Tên khoa học: Tithonia divesifolia (Hemsl) A . Gray.
- Thuộc họ cúc: Asteraceae.
- Hoạt chất chính là Pyrethrum, trong lá cúc quỳ chủ yếu là nước chiếm
79,58%, hàm lượng nước trong hoa cúc quỳ là 87,5%. Ngoài ra trong thành phần
của cúc quỳ còn có chứa 1,5% glyphosate có tác dụng diệt cỏ dại.
Rận, Rệp, Bọ Chét, Mối, Mạt,….
Liều lượng: Với thuốc dạng gói 4g thì pha 1 gói trong 1 lít nước (1g / 250ml
nước), với dạng gói 20g thì pha 1 gói với 5 lít nước, phun 50ml dung dịch trên 1m
2
ở các khu vực mà các loài này thường ẩn náu.
1.4. Dụng cụ thí nghiệm:
- Kính lúp
- Đĩa Petri nhựa
- Nhiệt kế - ẩm kế
- Bình tam giác
- Cân tiểu ly
- Dung dịch xút (NaOH)
1.5. Địa điểm nghiên cứu
* Phòng thí nghiệm – Bộ môn Thú y – Trường Đại học Tây Nguyên
*Sơ lược vài nét về huyện Easuop tỉnh Đăklăk:
- Vị trí địa lý: Easuop là một huyện biên giới phía Bắc của tỉnh Đăklăk, cách
thành phố Buôn Ma Thuột 80 km về phía Đông và cách thành phố Pleiku khoảng 80
km về phía Bắc, có đường tỉnh lộ P8 nối liền thành phố Buôn Ma Thuột với huyện
Easuop đi Chư Prông và thành phố Pleiku.
+ Phía Bắc giáp Gia Lai.
+ Phía Nam giáp huyện Buôn Đôn.
+ Phía Đông giáp huyện CưM’gar và EaH’leo.
+ Phía Tây giáp Campuchia.
- Điều kiện tự nhiên: Toàn huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 17656300 ha.
18
Huyện Easuop chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới lục địa cao
nguyên nên nhìn chung rất khô nóng.
Lượng mưa bình quân/ năm là 1500mm, mùa mưa từ tháng 5 – 10, mùa khô
từ tháng 11 – 4 năm sau.
Nhiệt độ trung bình các tháng là 24
Huyện Easuop được hình thành từ năm 1977, đây là một huyện vùng sâu,
vùng xa, hơn nữa đây là một huyện biên giới nên từ sau những năm giải phóng
thường bị bọn Funrô quấy nhiễu, làm trật tự xã hội không được ổn định. Easuop là
một huyện nghèo, đời sống kinh tế còn thấp, dân số tập ở huyện còn thưa. Đến sau
những năm 1980 theo chính sách di dân sang vùng kinh tế mới của nhà nước, nhiều
19
người dân đã đến định cư tại huyện và từ đó huyện Easuop dần dần có những
chuyển biến mới.
Hiện nay huyện Easuop gồm có 7 xã và 1 thị trấn. Tổng dân số là 23883
người với 5168 hộ gồm nhiều dân tộc anh em sinh sống.
Mật độ dân số trung bình là 12 người/ km
2
. Tỷ lệ dân bản xứ chiếm 9,8%, tỷ lệ
dân cư tự do chiếm 47,6%, trong đó đồng bào thiểu số các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn
di cư vào chiếm 55,89%. Sự phân bố dân cư không đều, dân tập trung chủ yếu quanh
thị trấn, các xã, dọc đường tỉnh lộ, đường liên thôn, liên xã, số còn lại sống ở rẫy.
Về giao thông: Có hệ thống giao thông hạn chế, khi người dân muốn sang
tỉnh khác thì cần phải đi ngược đường P8 về Buôn Ma Thuột rồi mới đi tỉnh khác.
Cơ cấu kinh tế của huyện rất đơn giản, chủ yếu là kinh tế hộ gia đình, nông
nghiệp chiếm 83%, chỉ có số ít giáo viên, công chức, buôn bán và xây dựng.
Về tình hình chăn nuôi của huyện Easuop:
Bảng *: Tổng số lượng đàn gia súc của huyện:
Các xã Đàn Bò Đàn Trâu Đàn Heo
TT. Easuop 1502 1451 1997
Ealê 3018 42 3569
Eabung 582 75 1212
EaT’mốt 492 92 899
Earôk 1217 83 1011
Yalốp 614 55 1202
CưM’lan 987 61 2961
C.
Tổng nhiệt trong năm là 9300
0
.
Độ ẩm trung bình là 82%, cao nhất là 89%, thấp nhất là 54%.
Lượng mưa trung bình trong năm là 1400 – 1600 mm, phân bố từ tháng 4 –
11 nhưng lớn nhất vào tháng 7 - 8, mùa mưa lũ ngập tràn mạnh, đây vừa là đặc
điểm khí hậu vừa là một yếu tố thủy văn quan trọng.
Khí hậu nhiệt đới hơi khô, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam và Đông
Bắc. Địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc từ 3 – 5
0
, cao nhất là 300m, thấp 200m,
trung bình là 250m. Thấp dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc.
Toàn vùng có ranh giới trùng với ranh giới của tổ hợp nham chủ yếu là cát
bột, bột kết Jura và một ít Bazan rìa của lớp phun trào thuộc khối Bazan.
Vùng có hai loại đất là phù sa được bồi đắp thường được bồi đắp vào mùa lũ
và loại đất feralit vàng vàng xám phát triển trên cát kết, bột kết. Trên loại đất này
hình thành kiểu rừng nhiệt đới hơi khô, chịu một mùa hạn kéo dài
Toàn xã có 2057 nhân khẩu với 11 đơn vị thôn buôn. Đời sống xã hội còn
khó khăn, văn hóa còn thấp, nhân dân chủ yếu sinh sống nhờ vào cây lúa.
Tình hình chăn nuôi của xã còn yếu, công tác phòng bệnh cho gia súc, gia
cầm chưa cao.
- Xã Ealê: Là đơn vị xã nằm trong bình Easuop.
Địa giới của xã: Phía Bắc giáp xã Cư Kbang.
21
Phía Nam giáp thị trấn Easuop.
Phía đông giáp huyện Cư’Mgar và huyện EaH’leo.
Phía Tây giáp xã EaTmốt và xã EaBung.
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 1306200 ha. Đất nông nghiệp chiếm
257581 ha. Ở đây có thể trồng được hai vụ lúa trên năm.
C, nhiệt độ
thấp nhất là 15
0
C.
Độ ẩm của thị trấn cũng chịu ảnh hưởng chung của toàn huyện. Độ ẩm trung
bình là 81,5%, độ ẩm cao nhất là 89%.
Tổng diện tích tự nhiên của thị trấn là 1365000 ha.
22
Tổng số dân của thị trấn là 9090 người, 2025 hộ, trong đó dân tộc thiểu số tại
chỗ là 492 người, chiếm tỷ lệ 24,30%, các dân tộc khác là 59 hộ, chiếm tỷ lệ 2,91%.
Do nằm ở vị trí gần trung tâm của huyện nên nhìn chung điều kiện kinh tế xã
hội của thị trấn Easuop cũng được nâng cao hơn so với các xã khác trong huyện.
Công tác chăn nuôi Thú y của thị trấn cũng được chú tâm phát triển hơn, hơn
nữa ý thức phòng bệnh của người dân cũng được nâng cao.
II. Nội dung nghiên cứu
2.1. Định loại ve ký sinh trên bò tại các địa điểm điều tra.
2.2. Xác định tình hình nhiễm ve trên bò theo các tháng điều tra.
2.3. Xác định tình hình nhiễm ve trên bò theo vùng.
2.4. Xác định tình hình nhiễm ve theo giống.
2.5. Xác định tình hình nhiễm ve theo lứa tuổi.
2.6. Xác định tỷ lệ nhiễm ve giữa các vị trí ký sinh khác nhau trên cơ thể gia súc.
2.7. Nghiên cứu đặc điểm sinh sản và phát triển của ve:
Theo dõi một số chỉ tiêu sau: Thời gian ve cái có chửa, thời gian ve cái đẻ
trứng, ố lượng trứng/ve, thời gian ve cái chết sau khi đẻ, thời gian nở trứng, thời
gian ủ trứng, tỷ lệ nở trứng.
2.8. Thử hiệu lực của dịch chiết từ lá cúc quỳ ở các nồng độ khác nhau đối
với ve ký sinh.
Thử hiệu lực của thuốc Solfac của Bayer đối với ve ký sinh.
III. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp thu thập mẫu trên cơ thể bò
màu sáng. Ve đực không có tấm mai bụng. Gốc đầu hình 4 cạnh hoặc hình chữ nhật
……………………………Haemaphysalis koch.
5. Đầu giả dài ……………(7) Đầu giả ngắn. Háng 4 của ve đực lớn hơn hẳn
các háng khác. Xúc biện tơ nhỏ đốt 3 của ấu trùng, thiếu trùng thì ở đốt 4. Van hậu
môn có 4 đôi tơ. Ve đực không có tơ ……… Dermacentor koch.
6. Các háng 2 - 4 chỉ có 1 cựa. Ve đực không có tấm mai quanh hậu môn, có
thể có những phiến mỏng mặt bụng gần rua…………Amblyomma koch.
7. Có rua, có rãnh hậu môn vòng sau. Háng 1 có hai cựa dài, xúc biện gần
hình nón, đỉnh hơi nhọn. Tấm thở hình dấu phẩy……… Rhipicephalus koch không
có rua, không có rãnh hậu môn, háng 1 có 2 cựa rất ngắn. Tấm thở hình tròn hay
hình bầu dục, ve đực rất nhỏ ……………….Boophilus curtice.
Khóa định loại giống ve Boophilus curtice (Arthus, 1960)
Ve đực:
24
1. Có mấu đuôi, mặt trong gốc xúc biện thiếu mấu lồi bụng mang tơ cứng. Tấm
cạnh hậu môn thiếu cựa sau, công thức răng 4/1…… B. annulatus (Say, 1821).
2. Gốc xúc biện có mấu lồi, bụng mang tơ cứng, tấm cạnh hậu môn có một cựa
hẹp dài vượt quá bờ sau thân, công thức răng 3/3 ……….B. decoloratus (Koch, 1844).
3. Gốc xúc biện không có mấu lồi, bụng mang tơ cứng. Tấm cạnh hậu môn
có 1 – 2 cựa hẹp ngắn nhô ra ngoài bờ sau thân, công thức răng
4/4………… B. microplus (Canestrini, 1887).
Ve cái:
1. Gốc xúc biện và công thức răng như ở ve đực, mặt sau háng 1 hơi lõm
xuống, cựa ngoài và cựa trong không mập ………………… B. annulatus (Say,
1844). Mặt sau háng 1 ve Ixodidae chẻ hình chữ V lộn ngược, cựa ngoài và cựa
trong khá rõ.
2. Công thức răng 3/3. Đốt 1 xúc biện có mấu lồi mang tơ cứng
………… B. decoloratus (koch, 1844).
3. Công thức răng 4/4. Đốt 1 không có mấu lồi ……………B. microplus
(Cannestrini, 1887).