Lý Tuấn Trờng - Bộ môn CN Xẻ Mộc Bài giảng môn học Thiết kế SP Mộc & TT Nội Thất
Trang 37
Trong thiết kế và sản xuất hàng mộc, thực tế còn rất
nhiều những loại vật liệu khác mà chúng ta có thể sử
dụng. Ví dụ: đá xẻ, gơng kính, vải, da, sợi
Chơng III. Mối quan hệ giữa đồ mộc với con ngời
Mục tiêu
Giúp sinh viên tìm hiểu các mối quan hệ giữa các
yếu tố trong thiết kế để từ đó có các t duy logic trong quá
trình thiết kế.
Nội dung
- Phân tích các mối quan hệ giữa đồ mộc với con
ngời.
- Phân tích các mối quan hệ giữa sự sắp đặt đồ mộc
với các hoạt động của con ngời.
3.1. Quan hệ giữa đồ mộc với con ngời
Con ngời là nguồn gốc của mọi thiết kế. Thiết kế
sản phẩm mộc thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa
con ngời với đối tợng thiết kế. Mối quan hệ ấy càng
đợc nghiên cứu sâu sắc thì khả năng đáp ứng của đồ mộc
đối với nhu cầu sử dụng của con ngời càng hiệu quả.
3.1.1. Mối quan hệ trực tiếp
Kích thớc của mỗi sản phẩm đợc tạo ra đều dựa
trên cơ sở kích thớc của con ngời, có nghĩa là sản phẩm
và con ngời có một mối quan hệ nhất định. Trong thiết
Lý Tuấn Trờng - Bộ môn CN Xẻ Mộc Bài giảng môn học Thiết kế SP Mộc & TT Nội Thất
Trang 38
kế, kích thớc của sản phẩm chịu sự chi phối bởi kích
thớc và trạng thái t thế hoạt động của con ngời.
Những mối quan hệ gắn liền với các hoạt động ổn
định trong thời gian tơng đối dài nh: ngồi, nằm, tì mặt,
khi ngồi (theo mục đích của việc ngồi), không gian quanh
vị trí ngồi
Mỗi một sản phẩm đợc tạo ra đều có một chức năng
nhất định theo mục đích của ngời thiết kế. Khi phân tích
chức năng của sản phẩm cần chú ý tới mọi chức năng
chính, chức năng phụ và cả những chức năng có thể phát
sinh trong quá trình sử dụng. Ví dụ: Bàn làm việc, khi
phân tích chịu lực, ta không nên chỉ tính tới lực tỳ tác
dụng lên mặt bàn khi viết mà cần chú ý tới những tác động
phát sinh nh: vận chuyển, kê đặt, có những lúc nó có thể
bị ngồi tựa lên; Hay ghế ngồi có đôi khi đợc sử dụng để
kê hoặc đứng lên mặt ngồi Tất cả những vấn đề này đều
phải đợc quan tâm một cách thấu đáo.
3.2.2. Các kích thớc trong bố trí đồ mộc
Lý Tuấn Trờng - Bộ môn CN Xẻ Mộc Bài giảng môn học Thiết kế SP Mộc & TT Nội Thất
Trang 40
Khi bố trí các sản phẩm mộc trong phông gian nội
thất, điều đầu tiên cần quan tâm đó là công năng của sản
phẩm đó. Ngoài ra cần phải đặc biệt lu ý đến tính thẩm
mỹ, môi trờng cũng nh một số nguyên tắc mang tính
truyền thống văn hoá.
Trong phần này, chúng ta quan tâm chủ yếu đến các
kích thớc cần thiết để đáp ứng công năng của sản phẩm,
còn các nguyên tắc về thẩm mỹ và truyền thống văn hoá
sẽ đợc trình bày ở phần sau (Phần trang trí nội thất).
Lý Tuấn Trờng - Bộ môn CN Xẻ Mộc Bài giảng môn học Thiết kế SP Mộc & TT Nội Thất
Trang 41
Chơng IV. Nguyên lý cấu tạo sản phẩm mộc
Mục tiêu
Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về
4.1.3. Các liên kết ứng dụng khác
Ngoài liên kết chủ yếu của sản phẩm mộc là liên kết
mộng thì còn có rất nhiều các loại liên kết khác đợc ứng
dụng trong sản xuất hàng mộc. (hình vẽ)
4.2. Cấu tạo của sản phẩm mộc gia dụng
4.2.1. Nguyên lý cấu tạo chung của tủ
Tủ là loại sản phẩm mộc có chức năng chủ yếu là cất
đựng, nó bao gồm nhiều kiểu loại khác nhau, thích hợp với
từng điều kiện sử dụng nhất định. Các loại tủ thông dụng
nh: Tủ áo, tủ hồ sơ, tủ ly, tủ trng bày, tủ tờng, tủ bếp,
tủ đa năng Do có những đặc điểm riêng về mặt sử dụng
nên về mặt kết cấu, chúng cũng có những đặc điểm khác
nhau. Ngay trong cùng một loại cũng có thể có nhiều kiểu
có cấu tạo khác nhau. Tuy vậy, xét một cách cơ bản và
chung nhất thì nguyên lý cấu tạo chung của chúng vẫn có
những bản chất chung mang tính phổ biến. Bởi từ chức
Lý Tuấn Trờng - Bộ môn CN Xẻ Mộc Bài giảng môn học Thiết kế SP Mộc & TT Nội Thất
Trang 43
năng chung, chúng sẽ có những đặc thù chung về bộ phận
(ví nh các bộ phận hồi tủ, đáy tủ, nóc tủ, hậu tủ ). Mặt
khác, chúng ta cũng có thể thấy mỗi bộ phận có chức năng
riêng nên cấu tạo có tính cơ bản phù hợp với các chức
năng đó. Ví dụ: cánh tủ phải có cấu tạo cơ bản để đảm bảo
yêu cầu ngăn cách và đóng mở. Dựa vào quan điểm đó,
chúng ta có thể nghiên cứu một cách tổng quát nhất về cấu
tạo chung của tủ thông qua những cái riêng đa dạng và
phong phú.
Khi phân tích cấu trúc của tủ, ta thờng thấy tủ gồm
các bộ phận sau:
- Chân tủ.
rất rộng rãi trong nhiều loại tủ. Kiểu cơ bản của chúng
gồm 4 chân liên kết với nhau bằng các vai giằng tạo thành
một kết cấu giá đỡ vững chắc. Chân tủ có thể vuông hoặc
tròn hay chân tiện.
Hệ chân này thờng đợc làm bằng gỗ tự nhiên là
phổ biến. Song với tình hình nguyên liệu và khả năng công
Lý Tuấn Trờng - Bộ môn CN Xẻ Mộc Bài giảng môn học Thiết kế SP Mộc & TT Nội Thất
Trang 45
nghệ hiện nay, chúng cũng có thể đợc làm bằng ván nhân
tạo.
c) Hệ chân đơn.
Hệ chân đơn là hệ chân có các chân trực tiếp liên kết
vào đáy tủ một các riêng rẽ. Hệ chân này đơn giản, dễ gia
công.
Khi sử dụng hệ chân này cần đặc biệt lu ý tới chiều
dày của đáy tủ để đảm bảo chống đợc biến dạng tấm đáy.
Trong trờng hợp cần tiết kiệm gỗ, chúng ta có thể đóng
thêm nẹp để gia cố thêm cho đáy theo chiều dọc, nhng
vẫn phải chú ý tới thẩm mỹ của sản phẩm.
Lý Tuấn Trờng - Bộ môn CN Xẻ Mộc Bài giảng môn học Thiết kế SP Mộc & TT Nội Thất
Trang 46
4.2.1.2. Nguyên lý cấu tạo của nóc tủ.
Nóc tủ là bộ phận giới hạn phía trên của tủ. Nóc
đợc liên kết với hồi và vách đứng. Nóc có thể đợc kết
cấu khung hoặc tấm phẳng.
a) Nóc tủ có kết cấu dạng khung.
Nóc tủ có kết cấu kiểu này đòi hỏi chi phí cao, gia
công phức tạp. Ván nóc có thể đợc lồng toàn bộ vào
khung, lồng 3 cạnh vào khung hoặc ghép chìm vào khung.
Khi lựa chọn kết cấu nóc tủ cũng cần chú ý tới khả
kính dày 3mm. Nếu sử dụng ván dán hoặc ván sợi, nên
dùng giải pháp nẹp ván vào khung. Ngoài ra cũng có thể
ghép ván theo kiểu ghép phẳng. Nếu sử dụng ván sợi, nên
dán bọc cả 2 mặt bằng ván lạng và trớc lúc dán phải đánh
nhẵn bề mặt để làm mất lớp Parafin trên bề mặt của ván.
Đối với tủ có dạng kết cấu cột, hồi có 2 thanh đứng
tiết diện tơng đối lớn chạy dài dọc xuống thành chân tủ.
- Hồi và vách ngăn dạng tấm phẳng.
Lý Tuấn Trờng - Bộ môn CN Xẻ Mộc Bài giảng môn học Thiết kế SP Mộc & TT Nội Thất
Trang 48
Về mặt kinh tế, cũng nh tạo dáng công nghiệp hiện
đại, tủ có kết cấu dạng tấm phẳng có nhiều u thế. Hồi
dạng tấm phẳng thờng đợc làm từ ván dăm hoặc ván
mộc.
Hồi tủ và vách ngăn có thể là tấm phẳng chạy suốt
và đóng vai trò làm chân tủ hoặc có thể dừng lại ở đáy tủ.
b) Liên kết giữa hồi tủ và nóc tủ.
Liên kết giữa hồi tủ và nóc tủ cũng giống nh liên
kết giữa hồi và đáy tủ. Có thể sử dụng liên kết cố định
hoặc liên kết tháo rời cho liên kết này. Thông thờng, nếu
tủ có kích thớc lớn (thể tích trên 1m
3
), nên sử dụng các
liên kết có thể tháo rời nh bu lông. Liên kết cố định sử
dụng thờng là các liên kết mộng có gia cố bằng đinh,
chốt ngang hoặc keo dán. Nếu hồi và nóc dạng tấm phẳng
đợc làm bằng ván dăm hoặc ván mộc, thờng sử dụng
liên kết mộng mợn kiểu chốt tròn. Khoảng cách giữa các
chốt không vợt quá 100mm. Nếu giữa hồi và đáy không
sử dụng liên kết tháo rời thì mộng đợc cố định bằng keo
trong và không gian bên ngoài tủ và đặc biệt là nó có thể
đóng mở đợc nhờ các linh kiện liên kết động nh liên kết
bản lề hay các cơ cấu kéo trợt.
Với liên kết bản lề, trục quay của cánh cửa thờng là
đứng nhng cũng có thể là trục nằm ngang.
Lý Tuấn Trờng - Bộ môn CN Xẻ Mộc Bài giảng môn học Thiết kế SP Mộc & TT Nội Thất
Trang 51
Cửa kéo trợt có thể là gỗ ván, khung hoặc kính.
Ngoài ra cũng có kiểu cấu tạo ghép mành cũng hoạt động
theo nguyên lý kéo trợt.
a) Cửa tủ quay.
Tủ có cánh quay đứng, khi mở, cánh quay ra ngoài
chiếm một không gian nhất định. Góc mở của cánh tủ tuỳ
thuộc vào kiểu loại và phơng pháp bố trí bản lề. So sánh
u nhợc điểm giữa cảu quay và cửa kéo trợt thì cửa
quay đòi hỏi diện tích để hoạt động đóng mở cánh lớn hơn
các kiểu tủ đóng mở cánh bằng kéo trợt.
Cánh tủ là phần mặt chính của tủ nên đòi hỏi về tính
thẩm mỹ của cánh tủ là tơng đối cao. Các loại tủ truyền
thống đợc làm bằng gỗ tự nhiên thì vân thớ gỗ của cánh
đợc đặc biệt chú ý. Một số loại tủ, cánh đợc chạm khảm
hết sức công phu và cầu kỳ. Các chi tiết lộ trên bề mặt
cánh tủ nh tay cầm, khoá hay bản lề cũng rất đợc quan
tâm. Ngoài ra, về mặt cấu tạo, phơng pháp bố trí cánh và
bản lề đều rất quan trọng vì nó vừa trực tiếp ảnh hởng
đến thẩm mỹ đồng thời nó còn ảnh hởng đến sự thuận lợi
trong quá trình sử dụng.
Tuỳ thuộc vào việc lựa chọn theo kiểu bản lề và cách
đặt bản lề mà có thể thiết kế các cách thức liên hệ giữa hồi
tủ và cánh tủ theo nhiều cách khác nhau.
- Không gian chật hẹp cần tiết kiệm diện tích.
- Tủ ở trên cao.
- Tủ bếp.
- Tủ quầy hàng.
- Tủ kính.
Lý Tuấn Trờng - Bộ môn CN Xẻ Mộc Bài giảng môn học Thiết kế SP Mộc & TT Nội Thất
Trang 54
c) Cửa nâng hạ.
Cửa nâng hạ có trục quay ngang. Cửa có thể đợc
kết hợp làm mặt bàn, mặt treo gơng.
Loại cửa này thờng đợc sử dụng trong những đồ
đa năng (kết hợp nhiều chức năng).
d) Cửa mành.
Cửa mành là một dạng cửa có cấu tạo kiểu ghép
mành, đóng mở theo nguyên lý kéo trợt. Khác với cửa
kéo trợt bình thờng, cửa mành có thể kéo lên, kéo
xuống, kéo ngang và đặc biệt có thể trợt trên các rãnh
dẫn hớng cong. Cửa mành có u điểm rất cơ bản là mở
đợc toàn bộ, mà diện tích để hoạt động đóng mở không
cần lớn nh các kiểu cửa quay. Cửa mành thờng thích
hợp với các loại tủ đựng ti vi, tài liệu. Nhợc điểm chính
của loại tủ này là công nghệ chế tạo phức tạp.
Về nguyên lý cấu tạo, mành gỗ gồm các nẹp gỗ đợc
liên kết với nhau thành mành nhờ những băng vải bạt bằng
keo dán hoặc đinh ghim.
4.2.1.6. Một số bộ phận khác của tủ.
a) Ngăn kéo.
Ngăn kéo có chức năng cất đựng những đồ vật nhẹ,
hay sử dụng và thờng sử dụng ở những vị trí thấp, không
cao.
các ngăn kéo không còn khó khăn nh trớc. Khi sử dụng
các loại cơ cấu này cần quan tâm tới trọng lợng của vật
dụng cất đựng và cánh tay đòn của thanh trợt để lựa chọn
loại thanh trợt phù hợp.
Lý Tuấn Trờng - Bộ môn CN Xẻ Mộc Bài giảng môn học Thiết kế SP Mộc & TT Nội Thất
Trang 57
b) Mặt bàn kéo.
Cũng giống nh ngăn kéo về mặt kết cấu kéo trợt
song chức năng chính của mặt bàn kéo không phải là để
cất đựng mà là mặt tỳ có thể để viết, đặt bàn phím máy
tính hay đặt để những đồ vật tạm thời, không cố định.
c) Vách ngang tủ.
Vách ngang tủ đợc liên kết vào hồi và vách đứng,
hay có thể là một chi tiết ván thuần tuý gác tự do lên các
đố ngang hay các vách đỡ đợc cấu tạo bên hồi và vách
đứng. Các vánh ngang thờng là cấu tạo tấm, đôi khi có
cấu tạo khung. Vật liệu cũng có thể là gỗ tự nhiên hoặc
ván nhân tạo.
4.2.2. Nguyên lý cấu tạo chung của bàn
Bàn là một loại sản phẩm mộc mà bộ phận chủ yếu
để đáp ứng chức năng sử dụng của nó là mặt bàn và kết
cấu chủ yếu chỉ có chân và mặt. Ngoài ra bàn có thể đợc
cấu tạo thêm các bộ phận khác để đáp ứng các yêu cầu sử
dụng khác trong quá trình sử dụng mặt bàn. Ví dụ trên bàn
có thể cấu tạo thêm ngăn kéo, buồng đựng tài liệu, ngăn
để sách, ngăn để đồ dùng
Bàn đợc dùng cho nhiều mục đích sử dụng, ví dụ
nh: bàn ăn, bàn làm việc, bàn họp, bàn hội nghị,
Chiều cao của bàn phụ thuộc vào yêu cầu sử dụng
liên quan đến kích thớc của con ngời. Kích thớc của
-
Bàn giáo viên
-
Bàn vẽ
-
Bàn đánh máy
-
Bàn ăn uống ở tiệm ăn
+ Bàn ăn
+ Bàn uống
+ Bàn ăn đứng
-
Bàn xa lông
850
730
430-600
730
760
760
650
730
680
1100
450-500
620
dới lên.
Đế chân trụ thờng có kết cấu chữ thập và đợc tạo
dáng sao cho giá trị thẩm mỹ của bàn đợc nâng lên.
Lý TuÊn Trêng - Bé m«n CN XÎ Méc Bµi gi¶ng m«n häc ThiÕt kÕ SP Méc & TT Néi ThÊt
Trang 61
Ngêi ta còng cã thÓ sö dông ch©n ®Õ kim lo¹i m¹ Crom
hay Inox.