Luận văn tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp về vấn đề xuất khẩu thủy hải sản của Việt Nam sang Mỹ phần 6 - Pdf 19

Mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai là cá ngừ tơi đạt 973 tấn , giá trị 9,3
triệu USD trong 2 tháng đầu năm 2002 , tăng vợt bậc so với cùng kỳ năm
2000 ( chỉ có 1,5 triệu), riêng cá ngừ vây vàng tơi đạt 710 tấn , giá trị 4,3
triệu USD . Cá biển đông lạnh các loại có giá trị xuất khẩu đứng hàng thứ 3
với giá trị 2,5 triệu USD trong 2 tháng đầu năm 2002 , trong đó cá ba sa phi
lê đông là mặt hàng Việt Nam vẫn chiếm lĩnh thị trờng Mỹ với giá trị xuất
khẩu 1, 7 triệu USD, ( năm 2000 , cá ba sa phi lê có mức xuất khẩu 2.045
tấn , giá trị 8, 3 triệu USD , là mặt hàng độc tôn của Việt Nam tại thị trờng
Mỹ ) , cá biển phi lê đông đạt 536 tấn , giá trị 1,5 triệu USD . Mặc dù xảy ra
tranh chấp về thơng hiệu cá ba sa , nhng năm 2001 sản lợng cá ba sa , cá
tra chế biến xuất khẩu của Việt Nam đã tăng gấp đôi năm 2000 , từ 14.000
tấn ( trị giá 42 triệu USD ) lên 31.000 tấn ( trị giá gần 75 triệu USD).
Mặt hàng cua biển cũng đạt mức tăng trởng cao trong xuất khẩu sang
Mỹ ( bao gồm cua sống , cua đông, cua luộc , thịt cua đông ) đạt giá trị xuất
khẩu 1,8 triệu USD ( riêng thịt cua đông có giá trị 722 nghìn USD ) trong 2
tháng đầu năm 2002 .
Hộp thuỷ sản là sản phẩm đợc ngời Mỹ rất a chuộng với đủ các
loại mặt hàng nh hộp cá, hộp tôm, hộp cua, hộp mực và hộp nhuyễn thể 2
vỏ . Mức nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2000 lên tới 220 nghìn tấn (riêng hộp
cá ngừ là 130 nghìn tấn) . Rất tiếc trong thị trờng nhập khẩu hộp thủy sản
rất sôi động này, sản phẩm của Việt Nam còn gần nh vắng bóng .
Trong năm 2002 do sự việc hiệp hội thuỷ sản Hoa Kỳ kiên các doanh
nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam bán phá giá tại thị trớng Hoa Kỳ cho
nên việc xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp Việt Nam sang Mỹ gặp
những khó khăn trong việc xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ nhng nhìn chung
xuất khẩu thuỷ sản vẫn có triển vọng phát triển mạnh tại thị trờng Mỹ.
3. Thành tựu
Năm 2001, Việt Nam đã xuất khẩu sang Mỹ 70.931 tấn thuỷ sản các
loại, trị giá 489 triệu USD. So với tổng kim ngạch gần 1,8 tỷUSD với số
lợng 538.833 tấn thuỷ sản đã XK trong năm qua thì lợng XK vào thị
trờng Mỹ là rất đáng kể .

biến xuất khẩu nớc nhà .
Trớc đây , phái đoàn ICD ( Mỹ ) đến thăm Việt Nam và làm việc với
Bộ thuỷ sản , nghiên cứu sâu rộng , toàn diện ngành thủy sản Việt Nam ,
đánh giá cao tiềm năng phát triển nghề cá nớc ta , cũng nh vị trí quan
trọng của ngành này trong nền kinh tế quốc dân của Việt Nam . Hoa Kỳ có
số dân 266 triệu ngời với GNP là 7080 tỷ USD , bình quân thu nhập đầu
ngời là 26.000 USD . Hàng năm Mỹ nhập khẩu khoảng 1,4 triệu tấn thuỷ
sản các loại với kim nghạch 6,5 tỷ USD . Các doanh nghiệp thuỷ sản Việt
Nam đã có chỗ đứng trên thị trờng này tuy còn rất khiêm tốn . Mỹ thật sự
coi Việt Nam là nguồn chính thức cung cấp thuỷ sản , đặc biệt là tôm .
Trong thời gian qua tôm nhập khẩu vào Mỹ tăng lên rất nhanh , nhất là mặt
hàng tôm nõn , tôm nõn rút gân , PTO , ngoài ra còn có một số loại cá nhiệt
đới cũng bán chạy ở Mỹ nh cá hông phi lê, cá rô phi đỏ và đen phi lê .
4. Thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân.
4.1. Thuận lợi.
Thịrờng thuỷ sản Mỹ là một thị trờng rất có tiềm năng,giới tiêu
dùng Mỹ đã quen dùng các loại thuỷ sản của Việt Nam nhất là cá tra cá
basa. Đây là một lợi thế lớn đối với Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh xuất
khẩu sang Mỹ.
Thị trờng Mỹ là một thị trờng phát triển nhanh chóng,rộng lớn.
Thị trờng Mỹ đang có xu hớng gia tăng tiêu thụ thuỷ sản trong khi
đó thì cung nớc này lại đang giảm dần. Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp
Việt Nam tăng thị phần tại Mỹ.
Chúng ta học hỏi đợc những kinh nghiệm của các doanh nghiệp nớc bạn
4.2. Khó khăn.
Tại Mỹ , vào tháng 1 năm 2001 , giá tôm có xu hớng giảm bởi mối
lo ngại kinh tế Mỹ suy thoái.7
Việc đợc hởng quy chế MFN ( quy chế tối huệ quốc ) cha phải là
điểm quyết định để tăng sức cạnh tranh của hàng thuỷ sản Việt Nam , vì Mỹ
đã áp dụng quy chế MFN với 136 nớc thành viênWTO, ngoài ra còn có u

Vấn đề vệ sinh thực phẩm , ô nhiễm môi trờng , bảo vệ sinh thái là những
lý do mà Mỹ thờng đa ra để hạn chế nhập khẩu thuỷ sản . Mặc dù cơ quan
FDA của Mỹ công nhận hệ thống HACCP của Việt Nam nhng chất lợng
sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam còn hạn chế do trình độ công
nghệ trong chế biến và bảo quản còn thấp , chủ yếu là công nghệ đông lạnh .
Một khó khăn trong lĩnh vực tiếp thị là mặc dù đã có trên 50 doanh
nghiệp Việt Nam đang xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ nhng hầu nh cha có
doanh nghiệp nào mở đợc văn phòng đại diện tại nớc Mỹ . Do vậy các
doanh nghiệp Việt Nam ít có cơ hội giao thơng với các nhà phân phối Mỹ ,
nhất là để tìm hiểu các luật chơi của thị trờng Mỹ . Hệ thống luật của Mỹ
khá phức tạp, chặt chẽ và mới lạ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt
Nam . Vì vậy nếu không nghiên cứu rõ thì doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu
những thua thiệt nặng nề trong kinh doanh . Có thể đơn cử một một số luật
sau :
Luật chống độc quyền đa ra các chế tài hình sự khá nặng đối với các
hành vi độc quyền hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh , cụ
thể là phạt tiền đến 1 triệu USD đối với công ty , phạt 100.000 USD hoặc tù
3 năm đối với cá nhân .
Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm , theo đó ngời tiêu dùng bị
thiệt hại có quyền kiện nhà sản xuất và mức bồi thờng thiệt hại qui định
lớn gấp nhiều lần thiệt hại thực tế .
Luật liên bang và các tiểu bang của Mỹ đợc áp dụng cùng một lúc
trong lĩnh vực thuế kinh doanh đòi hỏi ngoài việc nắm vững luật liên bang ,
doanh nghiệp còn phải nắm vững luật của tiểu bang mà doanh nghiệp có
quan hệ kinh doanh .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status