ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐỀ TÀI : LẠM PHÁT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG - Pdf 19

Đề án môn học
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài : LẠM PHÁT TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1
Đề án môn học
MỤC LỤC : ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ .
Nội dung Trang
A .Lời mở đầu 1
B . Nội dung 2
I .Cơ sở l thuyết 2
1. lạm phát là gì 2
2 . Nguyên nhân của lạm phát 12
4. . Tác động của lạm phát 18
5. Các biện pháp phòng và chống lạm phát 21
II. Cơ sở thực tiễn của đề tài :
1. Lạm phát ở Đức( 1921-1923 ) : 23
2. Hành trình của lạm phát tại nước ta : 25
C. Phần kêt thúc 30
Tài liệu tham khảo 32
2
Đề án môn học
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI : LẠM PHÁT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
A. Lời mở đầu .
Trong lịch sử và hiện tại, lạm phát luôn là một vấn đề nóng bỏng với từng
nước dù nước đó là một nước có nền kinh tế phát triển hay một nước có
nền kinh tế kém phát triển, nó luôn tồn tại song song với nền kinh tế thị
trường và được xem như là một vấn đề lớn đối với tất cả các nước ,khi tồn
tại nó trong nền kinh tế nó ảnh hưởng rất lớn đến tất cả các mặt của một
nên kinh tế như sự ổn định của một nền kinh tế các vấn đề khác như tăng

phát trong tương lai
B. Phần hai : Nội dung của đề án .
I . Cơ sở thuyết :
1. lạm phát là gì ? Mọi hàng hóa trên thị trường đều có giá cả của nó ,
giá của hàng hóa được đo bằng lượng tiền phải bỏ ra để trao đổi .Người ta
gọi một cuốn sách có giá 20000 VND vì nếu muốn sở hửu cuốn sách đó
phải bỏ ra 20000 VND để trao đổi . Nếu cũng cuốn sách đó vào thời điểm
hiện tại có giá 20000 VND nhưng vào đúng ngày này năm sau nó có giá lên
đến 25000 VND người ta gọi một cách dân dã đó là sách đã lên giá .Đây là
đối với một hàng hóa cá biệt nhưng nếu giá cả của tất cả các loại hàng hóa
4
Đề án môn học
khác trên thị trường ( có thể là ở những tỷ lệ khác nhau ) chứ không riêng
đối với sách , thì người ta gọi hiện tượng đó là lạm phát giá cả ,hay nói cách
khác là nền kinh tế đang trong tình trạng lạm phát giá cả .như vậy ta có thể
hiểu lạm phát là tình trạng giá cả của tất cả các mặt hàng tăng lên so với
một thời điểm bất kì trước đó . Tiền có giá cả ,giá cả của tiền là số lượng
đơn vị hàng hóa mà mỗi đơn vị tiền có thể trao đổi được .Nếu gọi giá cả của
hàng hóa là P,thì giá cả của một đơn vị tiền tệ sẽ bằng :1 ∕ P , như vậy các
hàng hóa dùng đơn vị tiền tệ để đo lường giá cả , thì tiền tệ, ngược lại sử
dụng các đơn vị hàng hóa để đo lường giá cả của chính nó. Đẳng thức trên
cho ta thấy khi giá cả P của các hàng hóa càng lớn thì giá cả của một đơn vị
tiền tệ càng nhỏ,tiền bị mất giá trầm trọng .Do vậy chúng ta lại có thể hiểu
lạm phát theo cách thứ hai là tình trạng mất giá của tiền tệ . Ví dụ: tháng
1/1922 một cốc nước ngọt ở Đức có giá là 1 DM thế nhưng đến tháng
20/1923 1 cốc nước ngọt như vậy có giá là 192 triệu DM như vậy ngày
tháng 1/1922 giá cả của 1 DM là 1/P =1/1 hàng hóa (cốc nước ngọt ) và
tháng 10/1923 giá của một DM là 1/192000000 (cốc nước ngọt ) .Gía trị
của DM hay sức trao đổi thành nước ngọt giảm xuống một cách khủng
khiếp trong vòng 22 tháng. Như vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng :

thất nghiệp xuống dưới mức tỷ lệ tự nhiên sẽ làm cho lương tăng lên và
đường tổng cung sẽ nhanh chóng di chuyển vào ,nó sẽ dừng di chuyển khi
nào đạt đến AS2, tại thời điểm đó nền kinh tế quay trở lại mức tự nhiên của
sản phẩm trên đường tổng cung dài hạn , ở điểm cân bằng mới ,điểm 2 mức
giá tăng từ P1 lên P2
6
Đề án môn học
Nếu năm sau đó cung tiền tệ tăng lên ,đường tổng cầu sẽ lai di chuyển đến
AD3 và đường tổng cung sẽ di chuyển vào tư AS2 đến AS3 nền kinh tế sẽ
chuyển động sang điểm 2’và sau đó sang 3 ,tại đây mức giá cả tăng đến
P3 .Nếu cung tiền tệ tiếp tục trong những năm tiếp theo ,thì nền kinh tế sẽ
tiếp tục chuyển động đến mức giá càng cao hơn nữa. Khi mà cung tiền tệ
còn tăng thì quá trình này sẽ tiếp tục và lạm phát sẽ xãy ra.
AS4
P AS3
(mức giá) AD4
hình1
P4 AD3 AS2
AD2
P3 AD1 AS1

P2
P1
( tổng Sản phẩm)
0 Yn Y
Các nhà tiền tệ có tin rằng một mức giá cả tăng kéo dài có thể do bất kì
nguyên nhân nào khác ngoài việc tăng cung tiền tệ gây nên không ? Câu trả
lời là “không” .Trong cách phân tích của phái tiền tệ cung tiền tệ được coi
là nguyên nhân duy nhất làm di chuyển đường tổng cầu ,do vậy không có
cái gì nữa có thể làm cho nền kinh tế chuyển từ điểm 1 sang 2 ,3 và xa hơn

Đề án môn học
mới của chính phủ thì dẫn đến việc sẽ có một tỷ lệ lạm phát dương (từ 1 lên
1’) ,nhưng cuối cùng chúng ta đến điểm 2 thì tỷ lệ lạm phát quay trở lại
bằng không .Nên ta có thể thấy rằng việc tăng một đợt trong chi tiêu của
chính phủ chỉ đưa đến một đợt gia tăng tạm thời của lạm phát chứ không
phải một mức lạm phát mà trong đó mức giá cả tăng kéo dài
Tuy nhiên nếu chi tiêu của chính phủ gia tăng kéo dài thì chúng ta sẽ có một
mức lạm phát tăng kéo dài ,nhưng việc tăng chi tiêu kéo dài không phải là
một việc có thể dễ dàng thực hiện được vì có giới hạn của ngân sách chính
phủ . Tuy nhiên điều này cho chúng ta thấy rằng có thể bác bỏ quan điểm
của Friedman là lạm phát lúc nào cũng là kết quả của sự tăng trưởng tiền tệ
Tóm tắt : Việc phân tích tổng cung và tổng cầu của chúng ta cho thấy
rằng các quan điểm của các trường phái Keynes và trường phái tiền tệ về
quá trình lạm phát không khác nhau lắm , cả hai đều tin rằng lạm phát cao
có thể xảy ra chỉ với một tỷ lệ tiền tệ tăng trưởng cao . Thừa nhận rằng lạm
phát có nghĩa là một sự tăng kéo dài của mức giá cả với tỷ lệ nhanh ,đại đa
số các nhà kinh tế đều tán thành với Milton Friedman rằng :”Lạm phát bao
giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”
- Quan điểm của các nhà kinh tế học tân cổ điển (P.Samelson): lạm
phát chính là sự tăng lên của giá bánh mỳ ,giá ô tô tăng, chi phí sản xuất
tăng tất cả các thứ này cho chúng ta biết rằng lạm phát chính là sự gia tăng
của mặt bằng giá cả của tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế . “Đọc cuốn
Kinh tế học của Paul A. Samuelson và W.D. Nordhaus thì chúng ta sẽ bắt
gặp khái niệm “lạm phát giá cả” và những luận giải của ông về quan điểm
của mình .
9
Đề án môn học
Sau khi đã tìm hiểu các quan điểm của các nhà kinh tế học ,các
trường phái kinh tế chúng ta có thể hiểu được thế nào là lạm phát và bản
chất kinh tế của lạm phát một cách tương đối đầy đủ . Như theo

kinh tế như thất nghiệp,phân phối thu nhập , tệ nạn với sản lượng của nền
kinh tế ,tới nợ nước ngoài …v v nó sẽ trở thành nỗi lo ngại đối với các nền
kinh tế
- Siêu lạm phát (lạm phát trên 100%) :Trong lịch sử đã chứng kiến
nhiều “cơn “lạm phát ở rất nhiều nước lên tới trên ba chữ số như lạm phát ở
Bolivia năm 1985 đến 11000 %/năm, đó là tình trạng vào 1/1/1985 nếu một
chiếc bánh ngọt có giá bằng 1 đồng Bolivia ,thì đến 1/1/1986 (sau một
năm ) nó có giá là 111 đồng (hay tăng lên gấp 111 lần ) và điển hình nhất là
siêu lạm phát ở Đức (1922-1923) kể từ tháng 11/1922 đến tháng 11/1923
giá cả hàng hóa bình quân ở Đức tăng 1500 tỷ lần so với mức trước năm
1914 ,điều đó tương đương với việc mua một con tem vào năm 1914 có giá
là 29 xen MỸ thì đến năm 1923 con tem ấy có giá là 435 USD . Rồi siêu
lạm phát ở việt nam vào những năm 80 của thế kỉ trước lên tới hơn 700%
và hậu quả nó gây ra cho các nền kinh tế là rất to lớn
c . Đo lường lạm phát : Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi
sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong
một nền kinh tế , Các giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp
với nhau để đưa ra một chỉ số giá cả để đo mức giá cả trung bình, là mức
11
Đề án môn học
giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm . Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần
trăm mức tăng của chỉ số này ,
Điều này được thể hiện qua công thức sau : Lt = ( Pt-Pt-1 ) / Pt-1 .
Trong đó : Lt – tỷ lệ lạm phát giai đoạn t
t - là giai đoạn tính lạm phát
Pt - là tổng giá cả giai đoạn t
Pt-1 –là tổng giá cả giai đoạn t-1
( t-1 và t là hai giai đoạn kế tiếp nhau )
Trên thực tế không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát
vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi

- Ngoài hai chỉ tiêu quan trọng trên thì trong thực tế người ta còn sử
dụng một số chỉ tiêu khác như : - Chỉ số giá sinh hoạt (viết tắt tiếng Anh:
CLI)
- Chỉ số giá sản xuất ( PPI )
13
Đề án môn học
- Chỉ số giá bán buôn
- Chỉ số giá hàng hóa
- Chỉ số giá chi phí tiêu dùng cá nhân ( PCEPI ).
Trên đây là các chỉ số để đo lường lạm phát trong nền kinh tế ,trong từng
nền kinh tế ,từng điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà họ sẽ sử dụng
những chỉ số khác nhau để đo lường mức lạm phát của nước mình ,các chỉ
số này cho biết mức lạm phát chung của mình cũng như mức độ tăng giá
của từng mảng trong nền kinh tế ( như mảng về sản xuất ,tiêu dùng …).
2 . Nguyên nhân của lạm phát
Sau khi đã hiểu về bản chất của lạm phát là như thế nào thì đặt ra cho chúng
ta câu hỏi tại sao lại có lạm phát ? Nguyên nhân gì đã sinh ra lạm phát ?
Trên thực tế thì lạm phát ở các nước khác nhau ,xãy ra ở những thời kì khác
nhau là do những nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên không vì thế mà lạm
phát không có những nguyên nhân cụ thể , bằng việc tổng hợp ở nhiều
nước trên thế giới và qua nhiều thời kì ,giai đoạn phát triển khác nhau của
các nền kinh tế thì theo các nhà kinh tế học hiện đại nguyên nhân của lạm
phát được xuất hiện từ ba nhóm chủ yếu sau : Đó là nhóm do cơ cấu , do
tăng trưởng tiền tệ và do thâm hụt ngân sách nhà nước …
a. Thứ nhất : Nguyên nhân do cơ cấu . Trong nhóm nguyên nhân gây ra
lạm phát này chúng ta sẽ đi vào hai nguyên nhân đó là hiện tượng Cầu kéo
và hiện tượng chi phí đẩy
14
Đề án môn học
Hiện tượng Cầu kéo :lạm phát do cầu kéo thực chất là do sự mất cân đối

Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng
cung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để
đáp ứng. Do đó có lạm phát.
• Hiện tượng chi phí đẩy : Chi phí của sản xuất là yếu tố cấu thành
nên giá cả hàng hóa cho nên sự biến động của chi phí sản xuất là nguyên
nhân thứ hai có thể gây ra lạm phát, các nhân tố có thể ảnh hưởng trực tiếp
đến chi phí sản xuất là : Nguyên vật liệu (do tính chất khan hiếm của
NVL ,được khai thác trong tự nhiên nên khi trữ lượng giảm xuống sẽ làm
giá cả của nó tăng lên ). Thứ hai là chi phí để mua sức lao động .Thứ ba là
chi phí vốn ( hiện nay chi phí huy động vốn ngày một cao hơn ) . Ngoài ra
thì doanh nghiệp còn bị rất nhiều áp lực từ phía nhà nước có thể làm giá sản
phẩm tăng cao (như phí và thuế thu nhập )
Các chi phí sản xuất này khi tăng trong cả nền kinh tế sẽ làm cho mặt bằng
giá cả của hàng hóa sẽ tăng cao gây nên lạm phát :
( Mức giá)
P AS2

` P2
P1 AS1
16
Đề án môn học
(sản lượng )
0 Q2 Q1 Q
Khi các yếu tố chi phí trên tăng lên ,làm cho tại mỗi mức giá lượng cung sẽ
giảm xuống làm đường tổng cung của nền kinh tế dịch chuyển sang phải
(AS1 lên AS2 -hình trên ) tại điểm cân bằng mới của nền kinh tế , sản
lượng giảm từ Q1 xuống Q2 và mức giá tăng từ P1 lên P2 nền kinh tế rơi
vào vừa suy thoái vừa lạm phát
Ví dụ : Năm 1973 , 1978 OPEC nâng giá dầu mỏ ,năm 1990-1991 khủng
hoảng vịnh persian ,cả ba lần giá cả hàng hóa bình quân ở hầu hết các nước

trường hợp sau xảy ra : - Md phải tăng tương ứng để tạo thế cân bằng
- P phải tăng
- Md và P cùng tăng
Vì Md là cố đinh vào những lúc Ms tăng đột ngột cho nên chỉ có trường
hợp 2 xãy ra là một cách phổ biến nhất :giá cả phải tăng để tạo thế cân bằng
trên thị trường tiền tệ
Về mặt thực tế khi cung ứng tiền danh nghĩa tăng một tỷ lệ là ∆Ms , nó sẽ
gây ra lạm phát với tỷ lệ chính thức là bằng tỷ lệ tăng của cung ứng tiền
18
Đề án môn học
danh nghĩa trừ đi tỷ lệ tăng của nhu cầu tiền danh nghĩa chia cho tổng của 1
cộng với tỷ lệ tăng trong nhu cầu tiền về danh nghĩa
Rõ ràng dù nhu cầu tiền danh nghĩa có tăng hay không thì mọi sự tăng lên
của cung ứng tiền tệ danh nghĩa – về mặt ngắn hạn –đều nhanh chóng gây
nên lạm phát … Đây là một nguyên nhân khá phổ biến gây nên hiện tượng
lạm phát ở các quốc gia trên thế giới
c. Nguyên nhân thứ ba : Bội chi ngân sách nhà nước (Nguyên nhân từ
phía chính phủ ) .
Đây là một nguyên nhân mà chúng ta thường đã thấy rất nhiều trong lịch
sử của các nước mà làm cho mức lạm phát của các nước có thể lên rất
cao .Đó là nguyên nhân chủ quan từ phía chính phủ bằng cách chi tiêu quá
mức của mình chính phủ đôi khi đã làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng
lạm phát nghiêm trọng điển hình là cuộc lạm phát ở Đức (1921-1923 ) ….
Nhu cầu chi tiêu của chính phủ là rất lớn ,cho rất nhiều đối tượng khác
nhau trong nền kinh tế : chi tiêu để kích cầu ,thực hiện các chính sách ,rồi
các khoản chi mua thường xuyên thường có quy mô rất lớn để đáp ứng
cho nhu cầu chi tiêu của mình thì có rất nhiều con đường khác nhau và
chính phủ có thể lựa chọn trong đó có các con đường chủ yếu là : tăng thuế
, phát hành các chứng khoán nhà nước ( trái phiếu chính phủ…), do nắm
đặc quyền trong tay về tài chính nên có một cách dễ dàng và nhanh chóng

4 . Tác động của lạm phát : Phần này chúng ta sẽ tìm hiểu tác động
của lạm phát cao gây ra đối với nền kinh tế . Như chúng ta đã biết lạm phát
có ba mức độ : lạm phát vừa phải , lạm phát phi mã và siêu lạm phát .Trong
ba mức độ của lạm phát này khi bàn đến hậu quả của lạm phát thì chúng ta
sẽ tiếp cận từ hai mức độ lạm phát cuối cùng vì mức độ lạm phát vừa phải
không ảnh một cách tiêu cực nhiều như hai mức độ còn lại , trái lại nó còn
có mặt tích cực của mình đối với nền kinh tế để thấy rõ hậu quả của lạm
phát đối với nền kinh tế . Lạm phát tác động một cách trực tiếp và chủ yếu
đến các đối tượng sau :
a. Tác động của lạm phát đối với sản lượng của nền kinh tế : Khi mới
bắt đầu bước vào lạm phát thì một điều đặc biệt là lạm phát có thể làm cho
sản lượng của nền kinh tế tăng lên ,điều đó là do khi mới bắt đầu lạm phát
giá cả có tăng nhưng không nhiều khi đó các doanh nghiệp bán được hàng
hóa với giá cao làm cho doanh thu của họ tăng lên làm họ đầu tư thêm để
mở rộng sản xuất .Lúc đó đôi khi tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế còn
giảm xuống do có nhiều doanh nghiệp thuê thêm công nhân để tăng cường
sản xuất …. Nhưng sau đó một thời gian không dài do giá tiếp tục tăng rất
nhanh không ngừng ,các doanh nghiệp đều thấy rằng ,nếu mà họ để hàng
hóa lại ,để NVL lại và đợi cho tăng giá thì họ sẽ bán ,lúc đó chắc chắn rằng
họ sẽ có được nhiều tiền hơn là sản xuất ,chính vì vậy sản lượng của nền
kinh tế giảm xuống một cách nhanh chóng ,các doanh nghiệp cất giữ NVL
để chờ giá tăng nên thất nghiệp trong nền kinh tế tăng lên một cách nhanh
chóng
21
Đề án môn học
b. Tác động của lạm phát đối với hàng hóa và lưu thông tiền tệ : Lưu
thông hàng hóa và tiền tệ trong nền kinh tế trở nên ách tắc đình đốn
- Về phía hàng hóa : do sự tích trữ hàng hóa để chờ tăng giá ,và tình trạng
tìm kiếm hàng dể mua tích trữ gây nên sự khan hiếm hàng hóa ,cầu giả
tạo chính điều này sẽ làm cho tình trạng lạm phát sẽ trở nên nóng bỏng

nguyên nhân của lạm phát và những hậu quả mà lạm phát để lại nếu nền
kinh tế trong tình trạng lạm phát như vậy phải có cách phòng chống và
khắc phục tình trạng này Về thực tế mà nói thì không có giải pháp nào
là chung cho mọi nền kinh tế vì mỗi nền kinh tế khác nhau , trong những
giai đoạn khác nhau thì khác nhau .nên chúng ta chỉ có thể rút ra được
một số bài học mang nguyên l chung sau:
a. Các giải pháp ngắn hạn ,tạm thời : - Đông kết giá cả :khi nền kinh tế
có dấu hiệu của sự lạm phát thì cơ quan đại diện nhà nước sẽ kí những hợp
đồng với các doanh nghiệp ,các NHTM, các tổ chức kinh tế không tăng giá
cả không tăng lương ,không tăng lãi suất trong một thời gian nhất định bù
vào đó họ sẽ được nhận lại từ nhà nước là các ưu đãi như giảm thuế cho
phép đầu tư ,bảo hộ ,đại diện ….Vì trong thực tế lạm phát bao giờ cũng trải
qua hai giai đoạn :giai đoạn thứ nhất khi ∆ Ms > ∆ P (do tốc độ nhận thức
của công chúng chưa bắt kịp với tốc độ tăng tiền) ở giai đoạn này áp dụng
đông kết giá cả sẽ ngăn cản lạm phát không chuyển sang giai đoạn hai.Đây
23
Đề án môn học
chính là phương pháp trì hoãn để nhà nước thực hiện các biện pháp chống
lạm phát sau
- Thắt chặt tiền tệ : Chính sách này nhằm vào việc giảm cầu tiền tệ xuống
thì lúc đó cung tiền tệ mới có cơ hội để giảm .Việc làm này được thực hiện
thông qua : + Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc : điều này sẽ làm giảm khả năng
cho vay của các ngân hàng thương mại ,nên lãi suất cho vay sẽ tăng dẫn đến
một điều hiển nhiên là cầu tiền tệ sẽ giảm cầu tiền tệ giảm sẽ cho chúng ta
hai lợi ích : thứ nhất . nó sẽ làm cho lượng tiền phát hành ra ít đi mức cung
tiền sẽ giảm xuống ,thứ hai .nó làm cho cầu về đầu tư giảm nên tổng cầu
của nền kinh tế giảm xuống làm lạm phát giảm .
+ Tăng lãi suất chiết khấu : Việc tăng lãi suất chiết khấu của NHTW đối
với các NHTM làm cho lãi suất của các NHTM tăng lên làm cho lãi suất
trong toàn bộ nền kinh tế tăng và hiệu ứng của việc tăng lãi suất chiết khấu

Chúng ta đã tìm hiểu khá rõ về mọi vấn đề về lạm phát như về bản chất
nguyên nhân ,hậu quả cũng như các giải pháp để kiềm chế lạm phát .
Đây là những nguyên tắc cơ bản về các vấn đề lạm phát …Trong thực tế
liệu lạm phát có diễn ra như chúng ta đã nghiên cứu hay không ? Câu trả lời
là có nhưng ở mỗi nước khác nhau thì sẽ có những cơ chế của lạm phát
khác nhau Để rõ hơn chúng ta sẽ nghiên cứu một cách khái quát về lạm
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status