Tiểu luận khoa học chính trị: Tính tất yếu khách quan và con đường hình thành cty mẹ - cty con ở VN - Pdf 19

Tiểu luận kinh tế chính trị

Đề tài: Tính tất yếu khách quan và con
đường hình thành cty mẹ - cty con ở VN

1

LỜI MỞ ĐẦU
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ 19 các Tập đoàn kinh tế đã nối tiếp
nhau ra đời ở các nước tư bản. Đó là một tổ chức tiên tiến đại diện cho trình độ
phát triển cao của lực lượng sản xuấtvà nền kinh tế xã hội, là các doanh nghiệp
có quan hệ với nhau về công nghệ và lợi ích kinh tế. Ngày nay nhiều Tập đoàn
kinh tế đóng vai trò chi phối và tác động mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế của
các quốc gia trên thế giới.
Trong những năm qua , ở nước ta , quan hệ sản xuất đã có bước đổi mới
phù hợp với tính chất , trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đảng và Nhà
nước ta chủ trương thực hiện cải cách toàn diện các doanh nghiệp Nhà nước,
thực hiện lại việc sắp xếp các doanh nghiệp như: cổ phần hoá, bán khoán, cho
thuê các doanh nghiệp Nhà nước. Trong công cuộc cải cách đó, Đảng và Nhà


3

PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH
MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ-CÔNG TY CON
Ở VIỆT NAM

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON.
1.1.1. Khái niệm.
Công ty mẹ là công ty có ít nhất một công ty con trở lên; có thể là Doanh
nghiệp nhà nước, hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần
Công ty con là công ty có 100% vốn của công ty mẹ hoặc đa sở hữu trong
đó có trên 50% vốn của công ty mẹ. Như vậy công ty con phải chịu sự kiểm soát
( chi phối ) của công ty mẹ
Mô hình công ty mẹ - công ty con tồn tại chủ yếu dưới hai dạng sau:
Một là, Công ty quản lý vốn : mục tiêu chủ yếu của công ty này là đầu tư
vào các công ty khác. Cơ cấu tổ chức của nó bao gồm các bộ phận điều phối, lập
kế hoạch và tiến hành kinh doanh trong pham vi các công ty con.
Hai là, Công ty quản lý hoạt động : là mô hình đặc trưng của công ty mẹ và
công ty con của chúng. Công ty này có chức năng kinh doanh nhưng đồng thời
sở hữu và kiểm soát nhóm các công ty con của nó. Các công ty được tổ chức
thành các pháp nhân riêng được tham gia các giao dịch một các độc lập.

1.1.2. Đặc điểm :
Mặc dù tên gọi khác nhau, hình thức tổ chức của các công ty mẹ và công ty
con khác nhau nhưng nói chung mô hình công ty mẹ công ty con có một số đặc
điểm chung cơ bản như sau :
Thứ nhất là, có quy mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu và phạm vi
hoạt động.

5

Với số vốn lớn, công ty mẹ - công ty con có khả năng chi phối và cạnh
tranh mạnh trên thị trường , mở rộng nhanh chóng quy mô sản xuất , đổi mới
công nghệ, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và vì vậy
đạt doanh thu lớn
Một vấn đề nữa là về lực lượng lao động trong công ty mẹ - công ty con.
Lực lượng lao động trong công ty mẹ - công ty con không chỉ lớn về số lượng,
mà còn mạnh mẽ về chất lượng, được tuyến chọn và đào tạo rất nghiêm ngặt.
Phạm vi hoạt động của công ty mẹ - công ty con rất rộng, không chỉ ở phạm
vi lãnh thổ một quốc gia, mà ở nhiều nước hoặc phạm vi toàn cầu.
Với quy mô vốn lớn , nhiều lao động, áp dụng sự tiến bộ khoa học kĩ thuật
hiện đại về thông tin liên lạc, phương tiện giao thông vận tải các công ty mẹ -
công ty con đã thực hiện phân công lao động trong nội bộ công ty mẹ - công ty
con như bố trí các điểm sản xuất, xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, thậm
chí cả các khâu khác nhau của sản xuất sản phẩm trên phạm vi toàn thế giới.
Thứ hai là, các công ty mẹ - công ty con đều hoạt động kinh doanh đa
ngành, đa lĩnh vực.
Chiến lược sản phẩm và hướng đầu tư luôn thay đổi phù hợp với sự phát
triển của công ty mẹ - công ty con và môi trường kinh doanh, nhưng mỗi ngành
đều có định hướng ngành chủ đạo , lĩnh vực đầu tư mũi nhọn với những sản
phẩm đặc trưng của công ty mẹ - công ty con. Qua quá trình hoạt động, phát
triển , quy mô và cơ cấu kinh doanh của công ty mẹ - công ty con dần được mở
rộng , đa dạng hoá các loại hình kinh doanh, phù hợp với đòi hỏi của thị trường
và sự phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh những đơn vị sản xuất hoặc thương
mại , các công ty mẹ - công ty con mở rộng các hoạt động sang lĩnh vực khác
như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, nghiên cứu khoa học
Các công ty mẹ - công ty con hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực là để phân
tán rủi ro, mạo hiểm vào các mặt hàng, các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, bảo


7Mô
hình cơ
cấu tổ
chức
của
công ty
mẹ -
công ty
con.

Công ty mẹ và các công ty con có mối quan hệ phụ thuộc, hỗ trợ về mặt
chiến lược, tài chính, tín dụng. Các công ty con phụ thuộc và công ty mẹ nhằm
phục vụ mục tiêu chung của cả công ty mẹ - công ty con. Mục tiêu của công ty
con thường trùng với mục tiêu của công ty mẹ. Công ty mẹ - công ty con chỉ tồn
tại và phát triển vững mạnh khi xây dựng được cơ chế hoạt động dựa trên sự
thống nhất lợi ích kinh tế của từng thành viên với lợi ích chung của cả công ty và
thực hiện chủ yếu bằng hợp đồng kinh tế.
Công ty mẹ sở hữu lượng vốn, cổ phần lớn trong các công ty con. Nó chi
phối các công ty con về tài chính và chiến lược phát triển. Vốn sở hữu trong
công ty mẹ - công ty con là sở hữu hỗn hợp ( nhiều chủ ) trong đó có một chủ (
công ty mẹ ) đóng vai trò khống chế, chi phối. Phần lớn các công ty con mang họ
của công ty mẹ. Công ty mẹ thường là công ty có cổ phần, được thành lập và
hoạt động theo luật doanh nghiệp của nước sở tại, có thể có vốn góp của nhà
nước hoặc nhà nước có 100% vốn, hoặc nhà nước có trên 50% cổ phần.
Công ty con cũng thường là công ty cổ phần, có tư cách pháp nhân riêng,
được thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp của nước sở tại. Trong đó
công ty mẹ

Giữa các công ty con có những mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc chặt chẽ
với nhau và cùng phụ thuộc vào công ty mẹ. Mỗi công ty con được phân công
hoạt động sản xuất kinh doanh theo từng phân đoạn, theo chuyên ngành, theo sản
phẩm hàng hoá bán ra hoặc theo khu vực hoạt động, không trùng lắp, cạnh tranh
nội bộ. Các công ty con có thể phối hợp các hoạt động của mình theo kiểu liên
kết dọc hoặc liên kết ngang hoặc chỉ giới hạn trong một chuyên ngành nào đó.
Liên kết dọc là sự liên kết giữa các công ty con trong cùng một dây chuyền công
nghệ sản xuất, trong đó mỗi doanh nghiệp đảm nhận từng công đoạn nhất định.
Liên kết ngang là sự liên kế giữa các công ty con hoạt động trong cùng một
ngành nghề, có quan hệ chặt chẽ với nhau về kinh tế - kỹ thuật, thị trường tiêu
thụ, xuất nhập khẩu. Trong công ty mẹ - công ty con cũng thường có sự liên kết
hỗn hợp, nghĩa là có cả hai hình thức liên kết ngang và liên kết dọc.
Việc thiết lập công ty con, chi nhánh hay công ty liên kết thương tuân thủ
một số nguyên tắc phân bổ theo sản phẩm, theo vùng lãnh thổ, hoặc kết hợp cả
hai.
Theo mô hình tổ chức của công ty mẹ - công ty con ở trên thì mỗi công ty
con khu vực là một khối, mỗi công ty chỉ sản xuất một loại sản phẩm ở một nước
nhất định là một đơn vị kinh doanh của khối. Mỗi đơn vị kinh doanh của khối có
các phòng chức năng như phòng tài chính, tiếp thị, phân phối, sản xuất, nhưng
tất cả đều tập trung cho việc sản xuất có hiệu quả và chất lượng. Giám đốc của

9

đơn vị kinh doanh là người chịu hoàn toàn trách nhiệm trước giám đốc khối về
hoạt động của đơn vị.
Mỗi khối chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty mẹ - công ty con trong
một khu vực địa lý nhất định, và giám đốc khu vực chịu trách nhiệm trước giám
đốc điều hành trung tâm về hoạt động của khối trong khu vực. Nếu trong khu
vực, sản phẩm sản xuất và phân bổ của công ty mẹ - công ty con đa dạng nhiều
loại thì trong mỗi khối khu vực có thể thành lập những tiểu khối theo dõi, giám

1.2. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH, PHÁT
TRIỂN MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ-CÔNG TY CON Ở VIỆT NAM
1.2.1.Tính tất yếu khách quan
Mô hình công ti mẹ-công ti con đã ra đời , tồn tại và phát triển từ lâu trong
lịch sử phát triển của kinh tế thế giới . Dưới dạng các thoả ước , hợp đồng liên
minh liên kết , các tập đoàn từng bước nắm lấy các ngành , các lĩnh vực hoạt
động chủ chốt có lợi nhuận cao hình thành một hệ thống các tập đoàn lớn bao
gồm hàng trăm hàng ngàn các công ti vừa và nhỏ phụ thuộc lẫn nhau và phụ
thuộc vào công ti mẹ về tài chính , chiến lược kinh doanh , công nghệ kĩ thuật .
Sở dĩ mô hình công ti mẹ-công ti con được hình thành , có sức sống mãnh liệt và
có sự phát triển không ngừng như vậy bởi vì nó phù hợp với các qui luật khách
quan và những xu thế phát triển của thời đại.
Thứ nhất: Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ
khoa học công nghệ và liên kết kinh tế quốc tế đã dẫn đến sự phát triển sâu rộng
của phân công lao động xã hội đến qui mô của sản xuất và tiêu thụ sản xuất kinh
doanh không còn mang tính xhaats manh mún rời rạc và sở hữu không còn là sở
hữu cá thể nữa mà đã và đang đi sâu vào xã hội hoá vào hợp tác phân công vào
sở hữu hỗn hợp . Công ti mẹ-con với tư cách là một loại hình tổ chức kinh tế tổ

11

chức kinh doanh tổ chức liên kết kinh tế có nghĩa là nó là hình thức biểu hiện của
quan hệ sản xuất cần phải ra đời phát triển để đáp ứng yêu cầu và thúc đẩy sự
phát triển của lực lượng sản xuất
Thứ hai: Qui luật tích tụ và tập trung vốn và sản phẩm
Mỗi doanh nghiệp trong cơ chế thị trường là một cơ thể sống một tế bào của
nền kinh tế . Nó phải tồn tại phát triển trong mội trường cạnh tranh không ngừng
do đó phải tái sản xuất mở rộng không ngừng . Quá trình đó cũng là quá trình

lợi nhuận cao là việc nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật công
nghệ.Để có sản phẩm tiến bộ khoa học công nghệ hay nói cách khác để đổi mới
công nghệ cần phải có nhiều vốn tiến hành trong thời gian nhiều năm trang khi
đó độ rủi ro lại cao cần có lực lượng cán bộ khoa học kĩ thuật đủ mạnh . Một
doanh nghiệp nhỏ manh mún biệt lập không đủ sức làm được việc trên . Điều đó
đòi hỏi phải có doanh nghiệp lớn mà mô hình công ti mẹ-con là một loại hình
tiêu biểu .
1.2.2.Những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến sự hình thành và phát
triển của mô hình công ti mẹ-công ti con
1.1.2.1. Những điều kiện kinh tế –xã hội
Là những tổ hợp kinh tế lớn đa dạng , công ti mẹ –con chỉ có thể hình
thành và phát triển trong những điều kiện kinh tế –xã hội phù hợp.Nhìn lại lịch
sử phát triển kinh tế thế giới có thể thấy được mô hình công ti mẹ-công ti con đã
ra đời và phát triển trong những điều kiện cơ bản sau đây:
- Trình độ tích tụ , tập trung vốn
Quá trình tích tụ và tập trung vốn là một quá trình lâu dài được thực hiện
tại rất nhiều lĩnh vực kinh tế trên thế giới . Việc phát triển nhanh chóng của các
nền kinh tế thế giới vào những năm cuối thế kỉ XX đã và đang hình thành nên
các thị trường tài chính lớn trên thế giới chi phối một phần lớn các hoạt động
kinh tế .Nó hình thành các khu vực tài chính bằng các hiệp định được kí kết giữa

13

các chính phủ hoặc thông qua việc tham gia vào các liên minh kinh tế tại các khu
vực . Vd việc thành lập đồng tiền chung châu Âu . Những điều này đã giúp cho
có thể tích tụ và tập trung một nguồn vốn lớn và điều tiết hiệu quả nguồn vốn
này .Hiện nay trên thế giới có rất nhiều công ti lớn được thành lập từ sự liên kết
của nhiều công ti nhỏ .Nguồn vốn của các công ti này được đóng góp từ nhiều
nguồn vốn nhỏ . Bởi vì muốn cạnh tranh dduwocj trên thị trường thì các công ti
này phải đủ mạnh tức là có một nguồn vốn dồi dào . Quá trình tích tụ và tập

công nghệ và nguồn lực thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học công nghệ không
ngừng được tăng cường . Do đó hàm lượng khoa học công nghệ trang công
nghiệp thế giới ngày càng cao , suwca cạnh tranh của kĩ thuật công nghiệp ngày
càng mạnh . mặt khác khoa học công nghệ vá sản xuất , thị trường nối tiếp nhau
ngày càng chặt chẽ . Việc nhấn mạnh hiệu ích kinh tế và khả năng thâm nhập thị
trường đã là mục tiêu hàng đầu của các xí nghiệp . Những yếu tố nói trên là môi
trường rất quan trọng cho sự liên kết các công ti riêng lẻ thành công ti mẹ-công ti
con
- Trình độ phát triển của thị trường
Trong quá trình phát triển của các nền kinh tế dù theo hình thức nào đều
phải xây dựng một nền tảng ban đầu đó là các nguồn vốn , lao động …nền kinh
tế hàng hoá ngày càng phát triển sẽ tăng khả năng cạnh tranh ngày càng khốc liệt
. Quá trình phát triểnthị trường hiện nay đang được hình thành với sự tác động
tổng hợp của các qui luật trong sản xuất và lưu thông hàng hoá trên thị trường .
Những qui luật chủ yếu là qui luật giá trị , qui luật giá trị thặng dư, qui luật cung
cầu, qui luật cạnh tranh , qui luật lưu thông tiền tệ. Thông qua các qui luật có thể
điều tiết được hoạt động của các đơn vị kinh tế .Thị truwongf thế giới hiện nay
đang là một thị trường rất rộng lớn được hình thành qua nhiều giai đoạn bao
trùm lên tất cả các nền kinh tế trên thế giới . Việc hình thành các tổ chức kinh tế
trên thế giới về chính trị thương mại tài chính đã tác động mạnh mẽ lên thị
trường . Thị trường thế giới hiện nay cũng đã hình thành ở nhiều khu vực kinh tế
và hỗ trợ nhau cùng phát triển vừa hợp tác chống cạnh tranh , đó là các thị

15

trường khu vực hoặc các diễn đàn và các tổ chức các nước có cùng quan điểm .
Việc hình thành nhiều khu vực thị trường sẽ làm cho cạnh tranh trên thị trường
thế giới càng mạnh mẽ dẫn đến thúc đẩy việc phát triển nhanh chóng các công ti
mẹ-công ti con xuyên quốc gia hoạt động tại rất nhiều lĩnh vực.
- Trình độ quản lí vĩ mô, vi mô

phó với thời cuộc.
1.2.2.2.Quan điểm và chính sách của một số nước và vùng lãnh thổ với việc
phát triển mô hình công ti mẹ-công ti con
Quan điểm và chính sách của chính phủ có tác động rất lớn thậm chí có tính
chất quyết định đối với sự hình thành và phát triển mô hình công ti mẹ-công ti
con
- Nhật Bản
Chính phủ Nhật Bản áp dụng nhiều biện pháp nhằm phát triển mạnh công
nghiệp .Lãi suất cho vay thấp của các tổ chức tài chính của chính phủ , sự hỗ trợ
cho việc giới thiệu công nghệ nước ngoài và các biện pháp khác nhằm hỗ trợ các
ngành công nghiệp sản xuất linh kiện đã tạo điều kiện cho việc giảm chi phí sản
xuất linh kiện và cải tiến chất lượng sản phẩm. Chính phủ Nhật bản kiểm soát rất
chặt thị trường vốn . Do các hạn chế khắc nghiệt đối với thị trường chứng khoán
việc thu hút đầu tư qua hình thức cổ phần rất tốn kém và các hãng chủ yếu dựa
vào vay vốn của ngân hàng . Nhiều hãng cùng vay vốn ngân hàng đã có quan hệ
rất chặt chẽ với nhau và hình thành nên các tập đoàn gọi là keiretsu . Ngân hàng
tài trợ cho các công ti thành viên có vai trò rất quan trọng . Ngân hàng thực hiện
chức năng kiểm soát các công ti thành viên nhằm đảm bảo các công ti được
quản lí tốt . Các công ti thành viên trong tập đoàn vừa cạnh tranh vừa hợp tác với
nhau.

17

- Malaysia
Để thực hiện ké hoạch kinh tế quốc gia và tạo điều kiện phát triển các
ngành công nghiệp mới như ô tô , điện tử…chính phủ malaysia đã thành lập các
công ti quốc doanh bao gồm các công ti của chính phủ , các công ti công .Đến
cuối thập kỉ 70 Malaysia tiến hành tư nhân hoá khu vực kinh tế quốc doanh. Sau
khi được tư nhân hoá một số công ti đã phát triển trở thành các tập đoàn lớn
- Đức

Từ tình hình phát triển mô hình công ti mẹ-con ở một số nước trên thế giới
chúng ta có thể thấy rõ yếu tố chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến xu thế phát triển
các tập đoàn . Định hướng của chính phủ thông qua các chính sách công nghiệp
hinh sách công nghệ chính sách tài chính –tiền tệ đã có tác dụng thúc đảy hoặc
cản trở sự phát triển của các tập đoàn . Định hướng xuất khẩu dựa vào các công
ti lớn các chính sách nhằm kiểm soát thị trường vốn của chính phủ Hàn Quốc và
Nhật Bản đã tạo điều kiện cho các ngân hàng có thể thâu tóm được nhiều công ti
sản xuất , thương mại , tạo nên sự ràng buộc của các công ti này đối với ngân
hàng biến chúng thành các công ti thành viên của mình và hình thành nên các tập
đoàn lớn
- Yếu tố gia đình
Yếu tố gia đình có ảnh hưởng rất đa dạng tới xu thế phát triển mô hình công
ti mẹ-con .Trong một xã hội mà quan hệ gia đình không được đè cao như Mỹ thì
yếu tố gia đình không có ảnh hưởng lớn đến việc phát triển các tập đoàn . Nhưng
yếu tố này đặc biệt có ảnh hưởng mạnh ở Nhật bản , Hàn Quốc đặc biệt trong
các ngành chế tạo . ở Đức 60 trong số 150 hãng lớn nhất thuộc sở hữu của các
thành viên trong cùng một gia đình. Ở Italia doanh nghiệp gia đình hoạt động
như mô hình quốc gia. Các công ti lớn của Italia thường do một cá nhân thống
trị. Ở Nhật Bản gia đình rất được đề cao .Vì vậy phần lớn các tập đoàn lớn của
Nhật là thuộc về quản lí của một gia đình.

19

1.2.3.Nhu cầu và điều kiện thành lập mô hình công ti mẹ-công ti con ở Việt
Nam
1.2.3.1.Nhu cầu cần thiết thành lập Tổng công ti theo mô hình công ti mẹ-
công ti con ở nước ta
Trước hết, quá trình xây dựng và phát triển ở nước ta hơn 30 năm qua tuy
gặp nhiều khó khăn nhưng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng :cơ sở vật
chất kĩ thuật ban đầu đã được tạo lập. Đặc biệt từ khi thực hiện công cuộc đổi

lập tổng công ti theo mô hình công ti mẹ-công ti con là một yêu cầu cấp thiết .
Thứ ba việc thí điểm thành lập các tổng công ti theo mô hình công ti mẹ-
công ti con là một trong các biện pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lí của nhà
nước về kinh tế và là một trong những nội dung của cải cách doanh nghiệp nhà
nước trong điều kiện cơ chế quản lí mới .Hiện nay vẫn tồn tại tình trạng phân tán
trong quản lí các doanh nghiệp nhà nước . Trong số các doanh nghiệp nhà nước
mới đăng kí thành lập lai có tơi 4573 doanh nghiệp do các địa phương quản lí và
1971 doanh nghiệp do các bộ và cơ quan trung ương quản lí . Sự phân tán và
chồng chéo đó không thể là điều kiện tốt để nâng cao hiệu lực quản lí nhà nước
về kinh tế cũng không thể bảo đảm phát huy hiệu quả sức mạnh của toàn bộ nền
kinh tế . Hiện nay chúng ta đang trong qua trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá
tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước thì yêu cầu phân
định rõ chức năng quản lí của nhà nước về kinh tế và chức năng sản xuất kinh
doanh đã được đặt ra nhưng chưa thực hiện tốt . Có thể coi việc thí điểm thành
lập tổng công ti theo mô hình công ti mẹ-công ti con là một trong những công
việc của quá trình này
Thứ tư thành lập tổng công ti theo mô hình công ti mẹ-công ti con ở nước ta
còn là một trong những yếu tố quan trọng bảo đảm hiệu quả trong việc hợp tác
kinh tế với nước ngoài . Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá , hiện đại hoá ở nước ta gắn liền với quá tình xây dựng nền kinh tế

21

mở hội nhập bình đẳng và có hiệu quả vào các quan hệ kinh tế quốc tế trong khu
vực và trên thế giới . Việc thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài nhằm mục
đích tăng thêm vốn tranh thủ công nghệ tiên tiến thâm nhập vào thi trường quốc
tế . Từng doanh nghiệp của ta với nguồn lực hạn chế sẽ gặp những khó khăn và
thua thiệt trong hợp tác kinh doanh vơí nước ngoài . Thông thường tỉ lệ góp vốn
của Việt nam chỉ khoảng 25-30%. Việc mở rộng các quan hệ liên kết kinh tế
giữa các doanh nghiệp trong nước , đưa chúng vào một tổ chức kinh doanh thích

chủ theo kiểu tách riêng thì hiện nay đã và đang diễn ra mạnh mẽ xu hướng tích
cực là quá trình liên kết nhau chặt chẽ để tồn tại .Những quan hệ liên kết tích cực
ấy phát triển khá đa dạng và mang lại những kết quả tích cực. Đó là các quan hệ
liên kết giữa sản xuất nguyên liệu và chế biến nguyên liệu trong ngành chế biến
mía đường và trong công nghiệp chế biến nông thuỷ sản , quan hệ liên kết kinh
tế giữa hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp với hoạt động nghiên cứu khoa
học của các cơ quan nghiên cứu . Các quan hệ liên kết này không chỉ diễn ra
trong các doanh nghiệp cùng ngành mà còn được mở rộng lôi kéo nhiều chủ thể
ở các lĩnh vực hoạt động khác .Kết quả dẫn đến việc thành lập các tổ chức mới
các liên hiệp xí nghiệp , các hiệp hội …Trong hệ thống tổ chức các ngành kinh tế
quốc dân chúng ta có đủ cơ sở để cho rằng các loại hình tổ chức trên là điều
kiện tiền đề về mặt tổ chức để tiến tới thành lập mô hình tổng công ti theo mô
hình công ti mẹ-công ti con . Sự phát triển của các quan hệ liên kết kinh tế với
các tổ chức khác nhau dung nạp nó tạo nên điều kiện tiền đề thành lập tổng công
ti theo mô hình công ti mẹ-công ti con . Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu các
doanh nghiệp nhà nước có quyền sử dụng các biện pháp hành-chính tổ chức
thích hợp để cho ra đời loại hình tổ chức này .
Mặt khác sự phát triển của thị trường và các quan hệ kinh tế trên thị trường
, sự phát triển của các quan hệ cạnh tranh và liên kết kinh tế giữa các chủ thể , sự

23

khẳng định các quan hệ sở hữu tồn tại hợp pháp , sự phát triển các quan hệ phân
công . hợp tác cũng là tiền đề thuận lợi cho việc hình thành mô hình công ti mẹ –
công ti con . Quá trình xây dựng và thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lí của
nhà nước theo định hướng XHCN đã và đang được thực hiện bằng một loạt việc
làm cụ thể trong điều chỉnh cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lí . Xác định
rõ vai trò của nhà nước về kinh tế , mở rộng quyền tự chủ kinh doanh của doanh
nghiệp , nâng cao tính tự chịu trách nhiệm . Nền kinh tế quốc dân có sự tăng
trưởng với nhịp độ cao , liên tục trong nhiều ngành kinh tế . Những ngành , lĩnh

nhiên hiện nay chúng ta chưa có đầy đủ và hoàn chỉnh các điều kiện cần có .
Nhưng sự khiếm khuyết ấy sẽ được bổ sung và hoàn thiện trong quá trình hoạt
động của tổng công ti theo mô hình công ti mẹ-công ti con. Từ đó có thể khẳng
định việc thành lập và tổ chức hoạt động loại hình này ở nước ta là tất yếu khách
quan.

Trích đoạn Những thành công ban đầu Phương hướng Các biện pháp chủ yếu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status