Thiết kế nhà máy sản xuất bột mì với năng suất 220 tấn nguyên liệu ngày - Pdf 19

Đồ án tốt nghiệp - 1 - Thiết kế nhà máy sản xuất bột mì
LỜI NÓI ĐẦU
Lương thực, thực phẩm đóng vai trò rất quan trọng đối với nhân loại, luôn
tồn tại, đồng hành cùng với cuộc sống con người. Chúng ngày càng được chú trọng
hơn không chỉ bởi nhu cầu ăn uống để tồn tại của con người mà còn bởi nhiều lý do
khác như sự bùng nổ dân số toàn cầu hay việc mức sống được nâng cao khiến cho
nhu cầu ăn uống không chỉ đòi hỏi no đủ mà còn là sự ngon miệng trong từng bữa
ăn.
Các sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc rất đa dạng từ động vật, từ thực vật,
từ vi sinh vật…Tuy nhiên thực phẩm có nguồn gốc thực vật như rau, củ, quả, hạt
cốc…vẫn chiếm một tỷ trọng khá lớn.
Lúa mì là cây lương thực thuộc họ hoà thảo trồng nhiều nhất trên thế giới
được phân bố ở hầu khắp các vùng. Nó là cây không ưa nóng và chịu lạnh tốt nên
được trồng nhiều ở các nước có khí hậu lạnh như Nga, Mỹ, Canada, Trung Quốc…
Sản phẩm chế biến từ hạt lúa mì là bột mì có giá trị sử dụng cao nhất. Bánh mì
không những có độ calo cao mà còn dễ tiêu hoá. Đặc biệt bột mì còn có gluten mà
các loại lương thực khác không có, vì vậy bột mì là nguyên liệu chính trong kỹ
nghệ bánh mì, mỳ ống, bánh xốp…mà không thể thay được hay khó chế biến từ bột
hạt lương thực khác. Ngoài ra lúa mì còn dùng nhiều trong các kỹ nghệ thực phẩm
khác như rượu, tinh bột, đường. Tinh bột mì cũng được dùng nhiều trong các ngành
kỹ nghệ khác nhau.
Ở Việt Nam tuy không trồng được lúa mì nhưng từ lâu bột mì và các sản
phẩm chế biến từ bột mì đã được sử dụng rông rãi trong nhân dân và là nguồn thực
phẩm không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Bột mì nhập từ nước ngoài vào
Việt Nam, trong quá trình vận chuyển, bảo quản gặp nhiều khó khăn, không chủ
động được nguồn nguyên liệu bột cho các nhà máy chế biến. Giá thành bột cao hơn
so với ta nhập lúa mì về nước để sản xuất thành bột mì. Trước những bức xúc đó
đòi hỏi phải có giải pháp cho khâu nguyên liệu bột mì.
Đồ án tốt nghiệp - 2 - Thiết kế nhà máy sản xuất bột mì
Từ năm 1998 trở về trước, tại các tỉnh Miền Trung mới chỉ có hai nhà máy
sản xuất bột mì đó là nhà máy bột mì Việt Ý ở Đà Nẵng và nhà máy bột mì ở Vinh

mạng lưới của khu công nghiệp Đó là những điều kiện thuận lợi ban đầu để xây
dựng một nhà máy.
1.2. Nguồn nguyên liệu
Đặc điểm của lúa mì là không phát triển được ở những nước có khí hậu nhiệt
đới như Việt Nam. Do đó, nguyên liệu phục vụ sản xuất của nhà máy được nhập
hoàn toàn từ nước ngoài. Tuy nhiên do tốc độ phát triển của thành phố Đà Nẵng
ngày càng tăng nhanh sẽ kéo theo dự án mở rộng cảng Đà Nẵng trong đó có cảng
Tiên Sa .Như vậy việc nhập khẩu và vận chuyển nguyên liệu sẽ rất thuận tiện và
nhanh chóng.
Đồ án tốt nghiệp - 4 - Thiết kế nhà máy sản xuất bột mì
1.3. Hợp tác hóa
Việc hợp tác hóa giữa nhà máy bột mì với các nhà máy khác như nhà máy
bánh kẹo, nhà máy thức ăn chăn nuôi… về mặt kinh tế kỹ thuật và việc liên hợp hóa
sẽ tăng cường sử dụng những nguồn cung cấp điện, nước, công trình giao thông vận
tải, vấn đề tiêu thụ sản phẩm và phụ phẩm nhanh sẽ có tác dụng giảm thời gian
xây dựng, giảm vốn đầu tư và hạ giá thành sản phẩm.
1.4. Nguồn cung cấp điện
Nhà máy sử dụng điện để chạy động cơ, thiết bị và chiếu sáng. Điện thế sử
dụng thường là 110-220V/360V. Ðể đạt yêu cầu phải lấy điện cao thế, thường là 6
KV qua hạ thế. Nhà máy sử dụng lưới điện của khu công nghiệp ngoài ra để đảm
bảo sản xuất liên tục nhà máy còn có máy phát điện dự phòng để đảm bảo hoạt
động liên tục.
1.5. Nguồn cấp nước, xử lý và thoát nước
Với đặc điểm nhà máy bột mì sử dụng lượng nước ít. Lượng nước chính chủ
yếu phục vụ cho việc sinh hoạt của cán bộ công nhân viên nhà máy và phòng cháy
chữa cháy. Nguồn nước chính được lấy từ nhà máy nước Thủy Tú đang phục vụ
cho khu dân cư Hòa Khánh-Nam Ô và cả khu công nghiệp.
Lượng nước thải của nhà máy không chứa nhiều chất hữu cơ, không gây ô
nhiễm đến môi trường, do đó có thể thải trực tiếp vào kênh nước thải của khu công
nghiệp mà không cần xử lý.

Kết luận: Qua những điều kiện thuận lợi trên, cộng với nhu cầu thực tế về
bột mì tại khu vực miền Trung thì việc xây dựng thêm một nhà máy với năng suất
220 tấn nguyên liệu /ngày tại đây là thiết thực và mang tính khả thi. Ngoài nhiệm vụ
chính là phục vụ nhu cầu về bột cho thị trường, nó còn giải quyết việc làm cho các
lao động tại địa phương, góp phần nâng cao đời sống cho người lao động cùng với
sự phát triển chung của đất nước trên con đường hội nhập với thế giới.
Đồ án tốt nghiệp - 6 - Thiết kế nhà máy sản xuất bột mì
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LIỆU
VÀ SẢN PHẨM CHẾ BIẾN
2.1. Tổng quan về nguyên liệu
2.1.1. Phân loại, cấu tạo, thành phần hóa học của hạt lúa mì (Triticum)
2.1.1.1. Phân loại lúa mì [5,tr 43 ]
Lúa mì được trồng nhiều nhất trên thế giới và phân bố gần khắp các vùng.
Nó là cây lương thực thuộc họ hòa thảo, không ưa nóng và chịu lạnh nên được
trồng nhiều hơn cả ở các nước khí hậu lạnh như Nga, Mỹ, Úc, Canada
Lúa mì rất đa dạng và phong phú, khoảng 20 dạng. Chúng khác nhau về cấu
tạo bông, hoa, hạt và một số đặc tính khác. Phần lớn là lúa mì dại, chỉ một số loại
thuộc lúa mì mùa được nghiên cứu kỹ như: lúa mì mềm, lúa mì cứng, lúa mì Anh,
mì Ba Lan, lúa mì lùn. Loại được trồng phổ biến nhất là lúa mì cứng và lúa mì
mềm.
+ Lúa mì mềm (Triticum vulgare)
Là dạng trồng nhiều nhất. Nó gồm cả loại có râu và không râu. Râu mì mềm
không hoàn toàn xuôi theo bông mà hơi ria ra xung quanh bông. Hạt dạng gần bầu
Đồ án tốt nghiệp - 7 - Thiết kế nhà máy sản xuất bột mì
dục, màu trắng ngà hay hơi đỏ. Nội nhũ thường là nửa trắng trong nhưng cũng có
loại trắng trong hoàn toàn và loại đục hoàn toàn.
+ Lúa mì cứng (Triticum durum)
Nó được trồng ít hơn mì mềm. Bông dày hạt hơn. Hầu hết các loại mì cứng
đều có râu. Râu dài và ngược lên dọc theo trục của bông. Hạt mì cứng dài, màu

Vỏ quả và vỏ hạt
Phôi
3,25
8,08
2,22
9,48
10,80
4,00
6,54
8,92
3,24
a) Vỏ
Vỏ là một bộ phận bảo vệ cho phôi và nội nhũ khỏi bị tác động cơ học cũng
như hóa học từ bên ngoài. Thành phần chủ yếu của vỏ là cellulose, hemicellulose,
licnhin, không có giá trị dinh dưỡng, ảnh hưởng xấu đến chất lượng bột mì nên
trong quá trình chế biến càng tách được nhiều vỏ ra càng tốt.
+ Vỏ quả: Gồm một vài lớp tế bào chiếm 4
÷
6% khối lượng toàn hạt. Lớp vỏ
quả của hạt lúa mì mỏng, cấu tạo không được chắc như vỏ trấu của thóc nên trong
quá trình đập và tuốt, vỏ dễ bị tách ra khỏi hạt.
+ Vỏ hạt: Chiếm 2÷2,5% khối lượng hạt, gồm hai lớp tế bào, lớp ngoài là
những tế bào xếp khít với nhau chứa các sắc tố, lớp trong gồm những tế bào không
màu ít thấm nước. Vỏ hạt có cấu tạo rất bền và dai. Nếu dùng lực xay xát khô thì
khó bóc vỏ do đó trong sản xuất bột mì người ta phải qua khâu làm ẩm và ủ ẩm.
b)Lớp alơrông
Lớp alơrông nằm phía trong các lớp vỏ, được cấu tạo từ một lớp tế bào lớn
có thành dày, có chứa protein, chất béo, đường, xelluloza, tro, và các vitamin B
1
, B

Ngoài các chất trên, trong lúa mì còn có một lượng dextrin, muối khoáng,
sinh tố, chất men và một số chất khác.
Các chất này phân bố không đều trong từng phần của hạt. Protein chủ yếu
tập trung ở nội nhũ và lớp alơrông còn chất béo chủ yếu lại ở vỏ. Trong vỏ còn
nhiều xelluloza, pentoza, và chất tro. Trong phôi thì nhiều đường và chất béo.
Sự phân bố các chất trong hạt lúa mì được thể hiện qua bảng 2.2.
Bảng 2.2. Sự phân bố các chất trong hạt lúa mì [5, tr 45]
Các phần
của hạt
Protein
Tinh
bột
Chất
béo
Đường Xenluloza Pentoza Tro
Hạt
Nội nhũ
Vỏ và
alơrông
Phôi
100
65
27
8
100
100
-
-
100
25

25% khối lượng hạt. Gluten màu sáng xám, đàn hồi, độ giãn đứt cao.
Thành phần hóa học của gluten phụ thuộc loại giống và chất lượng lúa mì.
Trung bình trong gluten sấy khô chứa khoảng 85% protein, 2÷3 % chất béo, 2%
chất khoáng, còn lại khoảng 10÷12% các chất gluxit.
Để đánh giá chất lượng gluten người ta dùng các chỉ số sau:
- Màu sắc: Gluten tốt có màu sáng đôi khi xám hoặc hơi vàng, gluten xấu thì
màu xám.
- Khả năng hút nước của gluten: Nếu khả năng hút nước của gluten cao thì là
gluten tốt vì vậy sau khi xác định gluten tươi phải xác định lượng gluten khô. Bình
thường gluten tươi chứa 65÷75% nước.
- Độ đàn hồi: Là tính chất rất quan trọng của gluten. Nó thể hiện khả năng
giữ khí của bột.
- Độ căng đứt: Cũng đặc trưng cho khả năng giữ khí của bột.
- Sự thay đổi thể tích gluten khi nướng: Là chỉ số quan trọng đặc trưng độ nở
của gluten.
Để đánh giá chất lượng protein của lúa mì không những chú ý tới hàm lượng
và chất lượng gluten mà về mặt dinh dưỡng cần phải chú ý tới thành phần
aminoaxit của protein nữa.
b) Gluxit
Đồ án tốt nghiệp - 14 - Thiết kế nhà máy sản xuất bột mì
Trong thành phần của lúa mì có nhiều gluxit, trong đó tinh bột chiếm từ
48÷73%, ngoài ra còn có lượng đường khử từ 0,11÷0,37%, sacaroza 1,93÷3,67% và
maltoza 0,93÷2,63%.
c) Chất tro
Trong lúa mì có một lượng nhỏ chất tro. Nó phân bố không đều trong từng
phần của hạt, chủ yếu là P, Ca và Mg.
d) Chất béo
Hạt lúa mì có một lượng nhỏ chất béo. Theo Ivanop thì sự phân bố chất béo
trong hạt chủ yếu tập trung ở phôi và cám còn nội nhũ rất ít. Thành phần chất béo
của lúa mì bao gồm axit béo no và không no ( panmitic, xtearic, licnoseric, oleic,

2.1.2.1. Tính chất công nghệ của hạt lúa mì
Tính chất công nghệ của lúa mì thường được nghiên cứu bắt đầu từ những
đặc điểm về giống. Sau đó phải kể đến những tính chất vật lý của khối hạt như dung
trọng, đặc điểm hình học của hạt, độ sạch khối hạt, độ ẩm khối hạt…Tỷ lệ lấy bột
Đồ án tốt nghiệp - 15 - Thiết kế nhà máy sản xuất bột mì
cũng ảnh hưởng đến chất lượng của bột cụ thể là ảnh hưởng đến độ tiêu hóa của sản
phẩm. Trong công nghiệp sản xuất bột mì nguyên liệu phải được xác định đầy đủ
các thông số sau:
1)Độ tro của hạt
Độ tro là yếu tố rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến độ tro của các
sản phẩm trung gian và của thành phẩm. Bột thượng hạng không cho phép độ tro
quá 0,55%
2)Độ trắng trong của hạt
Độ trắng trong của hạt có ý nghĩa quan trọng đối với việc chọn chế độ chế
biến ra bột. Độ trắng trong của hạt dao động trong khoảng 10 đến 100%. Hạt trắng
trong dễ nghiền và tỷ lệ bột thu được bao giờ cũng lớn hơn so với các hạt đục. Bột
được sản xuất từ hạt trắng trong thường có hàm lượng protein nói chung cũng như
gluten nói riêng cao hơn. Hạt trắng trong cứng hơn hạt đục nên năng lượng tiêu hao
khi nghiền thường lớn hơn.
3)Tính chất bột của hạt
Đối với bất kỳ loại hạt nào tính chất bột cũng được đặc trưng bằng hàm
lượng nội nhũ, hiệu suất và chất lượng của các sản phẩm trung gian cũng như của
bột trong quá trình nghiền thô (nghiền vỏ) hiệu suất chung và chất lượng của bột.
Trong quá trình nghiền mịn (nghiền lõi) các chỉ số chính dùng để đánh giá
chất lượng bột của hạt gồm có:
-Số lượng tấm vỏ và hàm lượng tro của chúng
-Hiệu suất và chất lượng của bột thượng hạng ở 4−5 hệ nghiền đầu
-Hiệu suất chung của bột và chất lượng bột
-Mức độ xát vỏ (xác định bằng hàm lượng tinh bột trong cám)
-Tiêu hao năng lượng cho một tấn bột thành phẩm

Bảng 2.4. Tỷ lệ H/D của các loại bánh có chất lượng khác nhau.
Chất lượng
bánh
Tỷ lệ H/D
Từ bột thượng
hạng
Từ bột hạng I Từ bột hạng II
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
Trên 0,45
0,35÷0,45
dưới 0,35
Trên 0,45
0,35÷0,45
dưới 0,35
Trên 0,40
0,3÷0,4
dưới 0,3
2.1.2.2. Yêu cầu kỹ thuật đối với hạt lúa mì
1) Những đặc tính chung, cảm quan và sức khỏe
Hạt lúa mì phái có độ giòn, sạch, không có mùi lạ hay mùi chứng tỏ hạt bị
hư hỏng, hạt không có chất phụ gia hay chất độc hại.
Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và chất nhiễm bẩn khác không được vượt
quá mức tối đa cho phép. Hạt lúa mì không có các côn trùng sống (quan sát thấy
bằng mắt thường ).
2)Những đặc tính lý học và hóa học
- Hàm lượng nước của hạt lúa mì không được vượt quá 15,5%.
- Dung trọng (khối lượng của 100 lit hạt) không được thấp hơn 70kg/100lit
Đồ án tốt nghiệp - 18 - Thiết kế nhà máy sản xuất bột mì

2
+ 6H
2
O + 674 kcal
Hô hấp hiếu khí cần đường glucoza và oxy, sản phẩm tạo thành là khí
cacbonic và nước đồng thời có sinh nhiệt.
Phương trình tổng quát của quá trình hô hấp yếm khí:
C
6
H
12
O
6


2C
2
H
5
OH + 2CO
2
+ 28,2 kcal
Sản phẩm cuối cùng là rượu và khí CO
2
, lượng nhiệt thoát ra ít hơn.
Như vậy dù là hô hấp hiếu khí hay yếm khí lượng chất khô dần dần hao hụt
đi. Mặt khác trong khoảng trống giữa các hạt dần tích lũy khí cacbonic, có thể đến
12÷15%. Ngoài ra hô hấp còn sinh ra nước, lượng nước này tích tụ trong khối hạt
và làm độ ẩm tăng lên. Đặc biệt quá trình hô hấp còn tỏa nhiệt, mà khả năng dẫn
nhiệt của khối hạt là rất kém vì vậy nhiệt lượng tỏa ra sẽ làm nhiệt độ khối hạt tăng

cao như: chuyển hóa aminoaxit thành protein, đường thành tinh bột, tổng hợp
glyxerin và axit béo thành chất béo
Đồ án tốt nghiệp - 20 - Thiết kế nhà máy sản xuất bột mì
Độ ẩm, nhiệt độ, mức độ thoáng khí và thành phần không khí trong khối hạt
có ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả của quá trình chín sau thu hoạch.
Quá trình chín sau thu hoạch thường chỉ kéo dài trong vài tuần lễ rồi hạt
bước vào thời kỳ ổn định.
2.1.3.3. Sự nẩy mầm
Nếu bảo quản không tốt, kho bị dột, tường ngấm nước khối hạt có thể xảy
ra hiện tượng nẩy mầm.
Hiện tượng nẩy mầm làm giảm phẩm chất hạt đáng kể: giảm khối lượng chất
khô của hạt, cường độ hô hấp mạnh thải nhiệt nhiều làm cho nhiệt độ khối hạt tăng
lên và thúc đẩy các quá trình sinh lý khác tiến hành mãnh liệt làm cho phẩm chất
hạt kém, tỷ lệ thành phẩm khi chế biến thấp, đồng thời có mùi khó chịu.
Vì vậy khi thu nhập, chuyên chở, bảo quản phải ngăn ngừa các yếu tố có thể
gây nên hiện tượng nẩy mầm, tốt nhất là hạt phải thật khô (độ ẩm thấp), kho phải
cách ẩm tốt, và bảo quản trong điều kiện không có oxi càng tốt.
2.1.3.4. Quá trình tự bốc nóng của khối hạt
Một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm chất lượng và tổn hao vật
chất khô của hạt khi bảo quản là quá trình tự bốc nóng.
Cơ sở của hiện tượng tự bốc nóng:
- Cơ sở sinh hóa: Quá trình hô hấp của tất cả các phần tử sống có trong khối
hạt làm thoát ra nhiệt.
- Cơ sở vật lí: Độ dẫn nhiệt của khối hạt kém, nên lượng nhiệt sinh ra do quá
trình hô hấp của các phần tử sống có trong khối hạt không thoát ra ngoài hoặc thoát
ra chậm, tích tụ lại làm tăng nhiệt độ của khối hạt.
Quá trình tăng nhiệt độ do bản thân khối hạt gây nên gọi là quá trình tự bốc
nóng của khối hạt.
Nguồn tạo nhiệt trong khối hạt gây nên quá trình tự bốc nóng gồm: hô hấp
của hạt chính, hô hấp của vi sinh vật, của hạt cỏ dại, và của trùng bọ.

a) Bảo quản hạt ở trạng thái khô
Đồ án tốt nghiệp - 22 - Thiết kế nhà máy sản xuất bột mì
Cơ sở của phương pháp: Dựa vào khả năng hoạt động sinh lý thấp của tất cả
các phần tử sống có trong khối hạt khi lượng ẩm trong khối hạt thấp.
Mỗi khi độ ẩm của nguyên liệu nhỏ hơn độ ẩm tới hạn thì các quá trình xảy
ra trong khối hạt chậm và hầu như không đáng kể . Trên cơ sở đó, người ta thường
bảo quản ở độ ẩm W
Hạt
< W
Tới hạn
(12÷4%).
b) Bảo quản hạt trạng thái lạnh
Cơ sở của phương pháp: Dựa vào sự nhạy cảm của các phần tử sống trong
khối hạt ở nhiệt độ thấp.
Ở nhiệt độ thấp thì cường độ hô hấp của hạt giảm đáng kể, không có hiện
tượng tự bốc nóng. Nhưng không nên làm lạnh hạt ở nhiệt độ lạnh thừa để tránh
hiện tượng kết dính của khối hạt.
c) Bảo quản hạt ở trạng thái thiếu không khí (trạng thái kín)
Cơ sở của phương pháp: Dựa vào nhu cầu về oxi của các phần tử sống có
trong khối hạt.
Ở điều kiện thiếu oxi hoạt động của vi sinh vật hiếu khí và côn trùng giảm
mạnh, có thể bị đình chỉ hoặc bị tiêu diệt một cách đáng kể. Qua nghiên cứu cho
thấy rằng, bảo quản kín vẫn giữ được tính chất ban đầu của khối hạt. Và cần có
những công nghệ phụ như làm sạch và phân loại, xông hơi tiệt trùng, thông gió
hoặc đảo trộn, xử lý hóa chất nhằm giúp cho công tác bảo quản có hiệu quả cao
hơn.
Trong bảo quản, cần dựa vào điều kiện khí hậu địa phương, dạng kho, khả
năng kỹ thuật của cơ sở, chất lượng của hạt và các chỉ tiêu kinh tế khác để đưa ra
biện pháp tối ưu nhất.
Đặc điểm của lúa mì sau khi nhập khẩu về thì đã làm khô đến độ ẩm bảo

d. Các thành phần không bắt buộc
Đồ án tốt nghiệp - 24 - Thiết kế nhà máy sản xuất bột mì
- Các thành phần sau đây có thể được thêm vào bột mì với số lượng cần thiết
vì các mục đích công nghệ như: các sản phẩm malt có hoạt tính enzym vốn được
sản xuất từ hạt lúa mì, hạt mạch đen hay từ hạt đại mạch, gluten tươi, bột đậu tương
hay bột đậu khác có chất lượng thực phẩm thích hợp.
- Các chất dinh dưỡng: Việc thêm các vitamin, các chất khoáng hoặc các axit
amin đặc hiệu phải phù hợp với pháp luật của nước tiêu thụ sản phẩm.
e. Cỡ hạt
Bột mì không nhỏ hơn 98% lượng bột lọt qua rây có kích thước lỗ 212
milimicron (N-70).
f. Các chất nhiễm bẩn
- Kim loại nặng: Trong bột mì không được phép có kim loại nặng với số
lượng gây nguy hiểm cho con người.
- Dư lượng chất trừ sinh vật hại: bột mì phải tuân thủ giới hạn tối đa cho
phép theo quy định về dư lượng chất trừ sinh vật hại.
g. Bao gói
- Bột mì phải được bao gói và vận chuyển trong các bao bì hợp vệ sinh, đảm
bảo chất lượng dinh dưỡng và kỹ thuật của sản phẩm.
- Bao bì chỉ được làm bằng các vật liệu đảm bảo sự an toàn và thích hợp với
mục đích sử dụng. Bao bì không được thải các chất độc hoặc mùi vị lạ vào sản
phẩm.
h. Ghi nhãn
Tên của thực phẩm phải được ghi rõ trên nhãn là “bột mì” hoặc tên thích hợp
do yêu cầu của nước tiêu thụ. Ngoài ra, cần phải ghi thêm các chỉ tiêu chất lượng
theo yêu cầu của luật pháp nước tiêu thụ. Hàm lượng tro có thể được công bố bổ
sung. Điều này không áp dụng đối với bột đã bổ sung canxi cacbonat hay các thành
phần khác có hàm lượng khoáng khác với hàm lượng khoáng của bột.
Đồ án tốt nghiệp - 25 - Thiết kế nhà máy sản xuất bột mì
2.2.3. Các quá trình xảy ra trong thời gian bảo quản và các phương

Trích đoạn Phương pháp kiểm tra nguyên liệu, bán thành phẩm và sản phẩm cuối cùng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status