7
Với sự hợp tác của các nhà tài trợ, chiến l!ợc phải nêu lên một số nguyên tắc chung
về thiết kế dự án (ví dụ, khi nào nên sử dụng các chuyên gia dài hạn? Làm thế nào
để gắn kết chuyên gia quốc tế với các dự án? v.v );
Cần có sự h!ớng dẫn rõ ràng về những ngành/lĩnh vực đ!ợc !u tiên để chuyển
HTKT tới những nơi còn bị bỏ sót, xác định những ngành/lĩnh vực mới cần có
HTKT và ngăn chặn tình trạng tập trung quá mức các nguồn HTKT vào những
ngành/lĩnh vực đang đ!ợc !a chuộng.
Chiến l!ợc cần xác định mục tiêu của HTKT càng cụ thể càng tốt và xác định đúng
điểm vào để thực hiện các mục tiêu đó, ví dụ nh! các cơ quan nào là thích hợp
nhất để có thể sử dụng HTKT có hiệu quả để đạt đ!ợc những mục tiêu đề ra.
Chiến l!ợc phải có điểm ra cho từng hoạt động, tức là điểm đích cho sự thực hiện
thành công, giảm dần và đi đến chấm dứt HTKT.
Chiến l!ợc phải bao gồm một kế hoạch phát triển năng lực t! vấn trong n!ớc, để
từng b!ớc giảm dần sự phụ thuộc vào chuyên gia quốc tế.
11.
Việt Nam cần tránh sự lệ thuộc vào viện trợ: Việc hình thành năng lực bền vững trong
n!ớc phải là !u tiên số một của ch!ơng trình HTKT. Nhu cầu về các ch!ơng trình tài
trợ bằng HTKT phải đ!ợc xem là có tính chất tạm thời, hoặc là một nhu cầu trong thời
kỳ quá độ.
12.
Các nhà tài trợ và đặc biệt là Chính phủ cần tăng c!ờng hơn nữa việc theo dõi và đánh
giá các ch!ơng trình, dự án ODA và HTKT. Còn nhiều ch!ơng trình, dự án đ không
đ!ợc đánh giá và tác động của chúng cũng không đ!ợc đánh giá.
13.
Cần chú ý tới tính bền vững của các hoạt động đ!ợc các ch!ơng trình, dự án HTKT tài
các nhiệm vụ cụ thể. Cần có chiến l!ợc rút lui để khi kết thúc HTKT thì đ xây dựng
đ!ợc một năng lực quốc gia thực sự và bền vững. Nếu thiếu chiến l!ợc này thì sự phụ
thuộc vào viện trợ có thể sẽ tồn tại mi mi, sau dự án HTKT này lại đến một dự án
HTKT khác, với các mục tiêu về cơ bản là giống nhau.
18.
Cầu khẩn tr!ơng tăng c!ờng năng lực ở cấp tỉnh và địa ph!ơng để có thể tiếp thu HTKT
và viện trợ một cách có hiệu quả.
19.
Để đạt đ!ợc một mối quan hệ đối tác có hiệu quả hơn trong hoạt động viện trợ, cả hai
bên đều cần có sự cam kết về tính minh bạch và cung cấp các nguồn lực cho việc thực
hiện các cuộc đối thoại về các vấn đề ngành/lĩnh vực và đổi mới trong thiết kế dự án.
9
phần II: phạm vi báo cáo
1. Giới thiệu
Là đầu mối quốc gia về điều phối viện trợ, Bộ KHĐT đ thay mặt Chính phủ yêu cầu
UNDP-Hà Nội hỗ trợ trong việc tiến hành Nghiên cứu về hiệu quả của HTKT cho Việt Nam
trong giai đoạn 1994-1999.
Đoàn chuyên gia t! vấn đ tiến hành hai đợt công tác tập trung ở Việt Nam trong tháng
3 và tháng 5 năm 2000. Đoàn đ có dịp gặp gỡ và phỏng vấn nhiều ng!ời tham gia trực tiếp
vào việc quản lý HTKT ở Hà Nội và đi thăm tỉnh Tuyên Quang, tỉnh Đắc Lắc và Thành phố
Hồ Chí Minh. Đoàn đ thảo luận rộng ri với các quan chức của Văn phòng UNDP tại Việt
Nam, đại diện của các nhà tài trợ đa ph!ơng cũng nh! song ph!ơng, một số tổ chức NGO
quốc tế, các quan chức cao cấp của Bộ KHĐT cũng nh! của các Cơ quan chủ quản khác của
Chính phủ, và các Giám đốc của nhiều dự án do n!ớc ngoài tài trợ. Tuy nhiên, do thời gian
hạn hẹp, Đoàn không thể gặp gỡ nhiều nhà tài trợ khác - trong đó một số có ch!ơng trình viện
trợ khá lớn, và không đi thăm các tỉnh đ!ợc bao nhiêu. Nh!ng, mặc dù phạm vi làm việc của
Đoàn nhất thiết phải hạn chế nh! vậy, Đoàn đ rút ra một số kết luận và khuyến nghị để
Chính phủ và các nhà tài trợ xem xét.
Dựa vào kết quả của các cuộc thảo luận, phỏng vấn và thăm viếng dự án, Đoàn chuyên
gia t! vấn đ chuẩn bị bản dự thảo báo cáo vào cuối tháng 5 năm 2000. Bản dự thảo này đ!ợc
d) Cung cấp t! vấn (ví dụ, các hoạt động nghiên cứu kinh tế nói chung, hoặc nghiên
cứu theo ngành) về một vấn đề hoặc chính sách cụ thể mà mục tiêu chủ yếu là để
đ!a ra những ý kiến t! vấn mang tính khả thi nhất. Trong tr!ờng hợp này, việc tăng
c!ờng năng lực quốc gia là một sản phẩm phụ hơn là mục tiêu chính. Thành phần
quan trọng nhất của những ý kiến t! vấn nh! vậy chính là hỗ trợ cho việc thực hiện
quá trình Đổi Mới.
Ba loại (b), (c) and (d) th!ờng đ!ợc gọi là hợp tác kỹ thuật độc lập
2
.
3. Các mục tiêu bao quát của hợp tác kỹ thuật
Mục tiêu chủ yếu của các hoạt động HTKT là nhằm thay thế năng lực mà quốc gia
ch!a có hoặc hỗ trợ việc xây dựng và phát triển năng lực quốc gia đang thiếu. Quan điểm này
đ!ợc hầu hết các cơ quan tài trợ và tiếp nhận viện viện trợ chấp nhận. Tuy nhiên, cả hai phía
có thể còn có những mục tiêu khác nữa và không ít khó khăn đ nảy sinh trong mối quan hệ
viện trợ là do cách hiểu khác nhau về những mục tiêu nêu trên.
Ví dụ, HTKT có thể đ!ợc sử dụng nh! một công cụ để xúc tiến quan điểm của nhà tài
trợ về một chính sách nào đó. Nhà tài trợ có thể cố gắng áp đặt các mục tiêu hoặc !u tiên hiện
vẫn ch!a nằm trong chính sách quốc gia. Ng!ời ta nghi ngờ HTKT có nên đ!ợc sử dụng nh!
một công cụ để gây ảnh h!ởng đến các !u tiên quốc gia. Trong thực tế, việc thúc đẩy các mục
tiêu không nằm trong chính sách quốc gia có thể làm hỏng việc, khi lời khuyên không đ!ợc
chấp nhận vì nó không phù hợp với quan điểm quốc gia. Tuy nhiên, trong việc đẩy mạnh
quá trình cải cách (ví dụ, hỗ trợ quá trình đổi mới), HTKT nên đặt ra những vấn đề mới để
Chính phủ xem xét.
Trong khi mục tiêu chủ yếu của HTKT hỗ trợ đầu t! là rõ ràng (tức là để bảo đảm chất
l!ợng của các dự án đầu t! đ!ợc tài trợ), thì nó vẫn có thể bị các nhà tài trợ sử dụng để tác
động đến thiết kế dự án cho phù hợp với triết lý của họ hoặc, thậm chí trong một số tr!ờng
hợp, để đạt đ!ợc lợi ích th!ơng mại của họ.
2
thiết để thực hiện các ch!ơng trình phát triển trong bối cảnh mới.
Xây dựng năng lực là thuật ngữ dùng để mô tả quá trình qua đó các cá nhân đ!ợc
cung cấp cơ hội để nâng cao kiến thức và kỹ năng và các cơ quan đ!ợc tổ chức lại để sử dụng
hiệu quả những kiến thức và kỹ năng mà các cá nhân đ thu nhận đ!ợc. Nh! vậy, xây dựng
năng lực v!ợt ra khỏi phạm vi cung cấp các hoạt động đào tạo và đề cập rộng hơn tới hệ thống
tổ chức và chế độ khuyến khích, những yếu tố quyết định kiến thức và kỹ năng của con ng!ời
đ!ợc sử dụng một cách có hiệu quả. Việc đào tạo, ngay cả khi đ!ợc thực hiện tốt, cũng sẽ
kém tác dụng nếu các cá nhân không đ!ợc yêu cầu sử dụng các kiến thức và kỹ năng đ học
(tức là, quên bởi không làm hơn là học thông qua làm) và không đ!ợc cung cấp một môi
tr!ờng lao động kích thích cách làm việc hiệu quả (ví dụ, công nhận thành tích, khuyến khích
vật chất, cung cấp các ph!ơng tiện hỗ trợ).
12
Hỗ trợ xây dựng năng lực bao gồm các hoạt động nhằm tăng c!ờng khả năng quản lý
ODA, cải cách hành chính công, phát triển năng lực để làm việc trong môi tr!ờng phân cấp
quản lý, và năng lực quản lý và xây dựng chính sách kinh tế. Đánh giá xây dựng năng lực là
một việc làm đặc biệt khó khăn, vì nó đòi hỏi những nhận xét liên quan đến sự thay đổi về
hiệu quả của các tổ chức cũng nh! các cá nhân có liên quan.
c) Thúc đẩy các mục tiêu chính sách (liên ngành) then chốt
Những lĩnh vực quan tâm chung, tác động đến sự lựa chọn mục tiêu HTKT của các nhà
tài trợ, bao gồm:
Sự phân bổ HTKT (cho xoá đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, hỗ trợ các nhóm
dân tộc thiểu số v.v );
Các vấn đề về giới;
Quản lý quốc gia;
Bảo vệ môi tr!ờng.
Nhìn chung, Chính phủ Việt Nam chia xẻ mối quan tâm của các nhà tài trợ và, trong
một số lĩnh vực chính sách Việt Nam thậm chí đ đi tr!ớc các nhà tài trợ trong việc h!ớng
trọng tâm vào một số nhiệm vụ then chốt (ví dụ, xoá đói giảm nghèo, bình đẳng x hội; giới
v.v ). Tuy nhiên, điều không thể tránh khỏi là có những khác biệt chính đáng trong cách
hiểu và xắp xếp thứ tự !u tiên, và các quan điểm khác nhau về ph!ơng pháp nào là hiệu quả