45
phải không những đủ để họ có thể thu đợc lợi nhuận bằng với
lợi nhuận bình quân mà còn phải d ra một khoản để trả cho chủ
ruộng đất mà nhà t bản đã thuê. Khoản d ra để trả cho ruộng
đất đó đợc gọi là địa tô T bản Chủ nghĩa.
Vậy địa tô T bản Chủ nghĩa là một phần giá trị thặng d còn
lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân của nhà t
bản kinh doanh ruộng đất. Sở dĩ ở đây, phần lợi nhuận mà nhà
t bản kinh doanh ruộng đất thu đợc phải bằng với lợi nhuận
bình quân vì nếu nhỏ hơn lợi nhuận bình quân thì các nhà t bản
sẽ rút t bản ra khỏi lĩnh vực Nông nghiệp dể đầu t vào các lĩnh
vực khác mang lại lợi nhuận nhiều hơn. Tuy nhiên nếu lợi
nhuận của nhà t bản Nông nghiệp đã bằng lợi nhuận bình
quân,mà nh ta đã biết thì tổng số lợi nhuận bao giờ cũng bằng
tổng giá trị thặng d. Nh vậy thì giai cấp t sản kinh doanh
trong Nông nghiệp đã kiếm đâu ra phần lợi nhuận siêu ngạch để
trả cho giai cấp địa chủ dới hình thức địa tô T bản Chủ nghĩa.
Để trả lời câu hỏi này ta sẽ phải xem xét sự hình thành của địa
tô T bản Chủ nghĩa để thấy đợc nguồn gốc, bản chất và các
hình thái của nó.
Trớc tiên ta sẽ xem xét nguyên nhân tạo ra phần lợi nhuận
siêu ngạch trong sản xuất Nông nghiệp. Trong lĩnh vực Công
46
nghiệp, lợi nhuận siêu ngạch đợc hiểu là phần lợi nhuận chênh
lệch so với lợi nhuận bình quân mà các nhà t bản,có những
điều kiện sản xuất cá biệt tốt hơn điều kiện sản xuất trung bình
của toàn xã hội, thu đợc.Phần lợi nhuận siêu ngạch này chỉ
mang tính tạm thời, cá biệt. Còn trong lĩnh vực Nông nghiệp,lợi
nhuận siêu ngạch cũng mang ý nghĩa tơng tự, nó cũng là phần
siêu ngạch này khi nộp cho chủ đất dới dạng địa tô còn đợc
gọi là địa tô chênh lệch. Vậy địa tô chênh lệch chính là phần lợi
nhuận thừa ra ngoài lợi nhuận bình quân, thu đợc trên những
ruộng đất có điều kiện sản xuất trung bình và tốt, trên cơ sở giá
cả sản xuất cá biệt nhỏ hơn giá cả sản xuất chung do điều kiện
sản xuất xấu nhất quy định. Xét cho cùng thì nguồn gốc của địa
tô chênh lệch cũng chính là một phần giá trị thặng d do công
nhân Công nghiệp tạo ra.
48
Nhà t bản có thể có đợc địa tô chênh lệch nhờ hai cách và
do đó tơng ứng có hai dạng địa tô chênh lệch khác nhau. Cách
thứ nhất, địa tô chênh lệch có đợc nhờ việc kinh doanh trên
ruộng đất có độ mầu mỡ tự nhiên hoặc có vị trí giao thông thuận
lợi,theo cách này thì địa tô chênh lệch đợc gọi là địa tô chênh
lệch I. Ngoài ra cũng có thể đạt đợc địa tô chênh lệch thông
qua việc thâm canh, cải tạo ruông đất mà có.Với cách này thì
địa tô đợc tạo ra gọi là địa tô chênh lệch II.
Việc nghiên cứu địa tô chênh lệch và các hình thức biểu hiện
của nó còn phản ánh đợc sự mâu thuẫn về lợi ích giữa giai cấp
t sản và giai cấp địa chủ. Một khi mà nhà t bản, nhờ thâm
canh tăng vụ hoặc nhờ phơng pháp sản xuất mới mà tăng
đợc phần lợi nhuận siêu ngạch nhằm mục đích tăng lợi nhuận
thu đợc thì ngay sau đó chủ đất lại tìm mọi cách để tăng khoản
địa tô phải nộp lên đúng bằng phần lợi nhuận siêu ngạch thu
đợc. Chính vì vậy mà trong CNTB, sự tồn tại của địa tô chênh
lệch đã không thúc đẩy các nhà t bản kinh doanh quan tâm tới
việc cải tạo, duy trì và nâng cao chất lợng đất trồng mà họ chỉ
tìm mọi cách để khai thác hết độ màu mỡ của đất đai nhằm thu
lợi nhuận nhiều hơn.Do đó, đất đai sẽ ngày càng bị thoái hoá.
Sở dĩ tồn tại sự chênh lệch đó là do tồn tại chế độ t bản
ruộng đất.Nếu không có chế độ t hữu về ruộng đất thì số thừa
ra,do cấu tạo hữu cơ Công nghiệp thấp hơn gây ra, sẽ đợc phân
phối lại cho toàn bộ các nhà t bản và lúc đó, nông sản sẽ đợc
bán theo giá cả sản xuất (= k+p = c+v+p). Tuy nhiên,do tồn tại
sự độc quyền về t hữu ruộng đất nên đã ngăn cản sự tự do cạnh
tranh, đã ngăn cản việc hình thành lợi nhuận bình quân giữa hai
nghành Công nghiệp và Nông nghiệp.Vì vậy mà cái phần chênh
lệch dôi ra đó không tham gia vào việc bình quân lợi nhuận mà
đợc giữ lại trong Nông nghiệp để trả cho chủ đất. Lợng chênh
lệch này nhiều hay ít phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa giá bán
và giá cả sản xuất chung mà giá bán lại dựa trên cơ sở là giá trị
của nông sản và thờng bằng đúng giá trị.
Vậy địa tô tuyệt đối "cũng là một loại lợi nhuận siêu ngạch
dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, đợc hình thành do cấu tạo
hữu cơ của t bản trong Nông nghiệp thấp hơn trong Công
51
nghiệp,nó là số chênh lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản
xuất chung".
Nói tóm lại, địa tô,dù là địa tô tuyệt đối hay địa tô chênh lệch,
nh Mác nói,đều là một thứ cống vật mà xã hội, dới chế độ
T Bản Chủ Nghĩa, phải hiến cho những ngời nhiều ruộng đất.
Xét về nguồn gốc thì địa tô cũng nh các hình thức khác của lợi
nhuận,đều có nguồn gốc từ giá trị thặng d mà nhà t bản đã
chiếm đoạt của ngời công nhân. Hơn nữa, địa tô còn phản ánh
tính ăn bám của giai cấp địa chủ, phản ánh những thiệt hại mà
sự ăn bám đó mang lại.Vì có địa tô tuyệt đối nên các nông phẩm
ngày càng trở nên đắt đỏ làm cho mức sống của con ngời giảm
sút.Vì có địa tô chênh lệch nên xã hội không đợc hởng những
chỉ rõ rằng lợi nhuận độc quyền,thực chất,là một hình thức biểu
53
hiện của giá trị thặng d hình thành trong giai đoạn Chủ nghĩa
T bản độc quyền,nó bao gồm lợi nhuận bình quân cộng với lợi
nhuận độc quyền siêu ngạch có đợc do địa vị thống trị của độc
quyền mang lại. Nguồn gốc và cơ cấu của lợi nhuận độc quyền
bao gồm giá trị thặng d của công nhân làm việc trong các tổ
chức độc quyền ,một phần giá trị thặng d của công nhân làm
việc ngoài tổ chức độc quyền,một phần giá trị mới do ngời sản
xuất hàng hoá nhỏ trong nớc tạo ra, lợi nhuận thu đợc do xuất
khẩu t bản và sản xuất hàng hoá cho các nớc kém phát triển,
lợi nhuận thu đợc do lợi dụng việc quân sự hoá nền kinh tế
Sự hình thành của lợi nhuận độc quyền đã dẫn tới sự hình
thành tơng ứng của giá cả độc quyền, bằng chi phí sản xuất
cộng với lợi nhuận độc quyền.Thông thờng thì các tổ chức độc
quyền,dựa trên sức mạnh độc quyền,để mà ép giá mua vào thấp
hơn giá trị của hàng hoá mua vào và nâng giá trị của hàng hoá
bán ra lớn hơn giá trị của nó.
Nói tóm lại, trong mục này,chúng ta đã tiến hành nghiên cứu
những lý luận của học thuyết kinh tế Mác-Lênin và thông qua
những lý luận đó, chúng ta đã phần nào thấy đợc các biểu hiện
khác nhau của lợi nhuận.Các hình thức này,hầu hết là đợc hình
thành nên do nhu cầu chuyên môn hoá, hợp tác hoá của giai cấp
54
t sản.Sự phân biệt lợi nhuận thành các hình thức khác nhau
cũng chính là sự chia nhỏ giá trị thặng d thành các phần lợi
nhuận khác nhau ứng với các bộ phận t bản khác nhau.Tuy
nhiên,điều đó không có nghĩa là phần giá trị thặng d mà mỗi