Luận văn tốt nghiệp : Những giải pháp để phục vụ giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay potx - Pdf 19



PHẦN I:
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐỂ HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN
I/ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỐN PHỤC VỤ CHO PHÁT
TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM.
Trước hết, vốn là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển sản xuất,
đồng thời là cơ sở để phân phối lợi nhuận và đánh giá hiệu qủa các hoạt
động kinh tế, nó bao gồm những nguồn vật tư và tài sản trong các doanh
nghiệp, nguồn tiền mặt hoặc các tài sản khác dự trữ trong dân. Vì vậy,
chính sách tạo vốn cơ bản phải tuân thủ nguyên tắc lợi ích của người có
vốn và do đó, việc sử dụng vốn nhất thiết phải tuân thủ nguyên tắc hiệu quả
kinh tế.
Mục tiêu của chính sách tạo vốn trước hết và chủ yếu là tạo ra môi
trường kinh tế và tiền đề pháp lý đẻe biến mọi nguồn tiền tệ thành tư bản
sinh lợi và tăng trưởng trong quá trình tái sản xuất xã hôị. Các nguồn chủ
yếu bao gồm :vốn đầu tư kinh tế của nhà nước, vốn tự có của các doanh
nghiệp, vốn bằng tiền và tiền nhàn rỗi của dân cư và vốn của các doanh
nghiệp và tổ choc tài chính quốc tế.
Trong giai đoạn hiện nay vốn là yếu tố vật chất quan trọng nhất cho
tăng trưởng. Để tao ra tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7-8% thì cần tích luỹ
một lượng vốn từ 20- 25% GDP. Nếu trong những năm tới mục tiêu tăng
trưởng kinh tế là hai con số trong vài thập niên tới thì cần thì tỷ lệ tích luỹ
vốn phải lên tới trên 30% GDP. Đây là một nhu cầu lớn cần phải giải
quyết để khai thác nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn trong nước.
Vốn ngân sách nhà nước một thời gian giảm xuống nay đã bắt đầu
tăng lên. năm 1990 là 20% thì tới năm 1994 đã tăng lên là 44% ngân sách.
Để đạt được kết quả đó thì nguyên nhân cơ bản là chính sách thuế đã được
cải cách một cách toàn diện và thu được nhiều kết quả cho ngân sách.
Năm1990 thu ngân sách từ thuế phí chiếm 73,69%, năm 1993 phần thu đó
là 93,8%. Nếu so với GDP thì các tỷ trọng tương tự là 17,3% và 17,06%

a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.

động trong hiện tại. Theo ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nước ,
cùng với kinh nghiệm của các nước đang phát triển cho thấy: Nguồn vốn
trong nước vẫn là nguồn vốn có tính chất quyết định, người dân trong nước
vẫn chưa dám bỏ vốn ra đầu tư thì người nước ngoài cũng chưa mạnh dạn
bỏ vốn dầu tư vào Việt nam.
Vấn đề đặt ra là không phải tìm mọi cách để huy động cho được các
nguồn vốn, mà phải coi trọng việc quản lý và sử dụng nguồn vốn ấy cho
đầu tư phát triển sao cho có hiệu quả để nguồn vốn ấy sinh sôi nảy nở và
đạt được chiến lược hiệu quả kinh tế - xã hội đề ra.
Đầu tư phát triển phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
Phải được tính bền vững trong đầu tư phát triển, tức là tự bản thân nó
phải có mầm mống cho tăng trưởng trong tương lai, nhằm sử dụng tài
nguyên một cách hợp lý để không ngừng khai thác lợi thế so sánh của tiềm
năng đất nước.
- Sử dụng nguồn vốn đầu tư phát triển phải có hiệu quả để tái tạo và
phát triển các nguồn vốn, tạo tiền đề cho việc huy động vốn ở giai đoạn
tiếp theo.
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e


C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o

1/ Vốn huy động từ ngân sách nhà nước
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t

.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
mLà bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư, nó có vị trí rất
quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thúc đẩy
mạnh đầu tư của mọi thành phần kinh tế theo định hướng chung của kế
hoạch. Chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất
của một số lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế đảm bảo theo đúng định
hướng của chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội.
Nguồn ngân sách bao gồm: Nguồn thu trong nước và nguồn thu bổ
sung từ bên ngoài, chủ yếu thông qua nguồn vốn ODA và một số ít là vay
nợ của tư nhân nước ngoài. Để nâng cao hiệu quả nguồn vốn từ ngân sách
nhà nước cần có những sửa đổi trong chính sách đầu tư.
Nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước:là các nguồn tàI
chính có khả nămg tạo lập nên quỹ ngân sách nhà nước do kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nước mang lại.

i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
Nguyên nhân chủ yếu của nó là:
- Ngân sách nhà nước đã điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư nhằm tạo ra các
tiền đề thu hút vốn đầu tư.
- Chi của ngân sách nhà nước dành cho đầu tư phát triển chủ yếu tập
trung vào cơ sở hạ tầng của nền kinh tế xã hội.
- Ngân sách nhà nước không còn bao cấp cho các xí nghiệp nhà nước
thông qua cổ phần hoá và tập trung đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp- lâm nghiệp.
Mục tiêu của huy động vốn ngân sách nhà nước phải dành khoảng từ
20- 25% tổng số chi ngân sách cho đầu tư phát triển hàng năm. Khai thác
có hiệu quả tín dụng nhà nước đầu tư phát triển, đồng thời phải đẩy mạnh
hình thức vay vốn trong nhân dân, cho đầu tư phát triển kinh tế là quốc
sách hàng đầu. Muốn đạt được các hiệu quả trên cần phải thực các biện
pháp sau:
Hình thành nguồn vốn đầu tư trong ngân sách: Các biện pháp quan
trọng nhất để tăng thu là thu đúng, thu đủ các khoản vay trong nước.
Thu ngân sách nhà nước trong sự phát triển bền vững, tức là thu
nhưng không làm suy yếu các nguồn thu quan trọng mà phải bổi dưỡng
phát triển và mở rộng các nguồn thu một cách vững chắc, lâu bền. Điều đó
nghĩa là cần xác định mức thu hợp lý vừa đảm bảo NSNN có nguồn thu
cao, vừa đảm bảo để các đối tượng NSNN có đủ điều kiện tài chính tiếp tục
phát triển. Xác định mức thu tại diểm “giới hạn tối ưu”này không đơn giản
mà cần phân tích, cân nhắc nhiều nhân tố khác nhau. Những nguồn thu
thuộc khu vực kinh tế quốc doanh và có ý nghĩa đặc biệt thì cần chú ý bồi
dưỡng thông qua các biện pháp hỗ trợ đầu tư, trợ giúp về khoa học kỹ
thuật, công nghệ và nhân lực trong một chừng mực không bao cấp.
Không tận thu NSNN quá mức để bao cấp trong cấp phát mà chỉ thu
trong chừng mực tốt nhất để đáp ứng các nhu cầu chi của Nhà nước. Đối

r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w

- Phân bổ và sử dụng tốt các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
+ Tăng quy mô đầu tư từ ngân sách nhà nước và sử dụng đúng hướng
nguồn vốn này với biện pháp bao chùm là chống thất thu và tiết kiệm chi
thường xuyên để tăng quy mô nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước.
+ Từng bước xoá bỏ triệt để cơ chế bao cấp trong lĩnh vực cấp phát
quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn của nhà nước.
+ Tăng cường công tác quản lý sau dự án. Những dự án này dùng nguồn
vốn nhà nước thường có quy mô vốn rất lớn, hiện nay việc thẩm định các
dự án là tương đối chặt chẽ thì trái lại việc quản lý sau dự án lại bị buông
lỏng dẫn đến tình trạng chi tiết trên danh nghĩa nhưng lại lãng phí trên thực
tế. Sử dụng nhiều cơ chế khác nhau để quản lý vốn, với nguồn vốn nhà
nước được thông qua vay nước ngoài với điều kiện ưu đãi thì tiến hành cho
vay lại để tạo điều kiện bình đẳng trong sản xuất kinh doanh và tái tạo
nguồn vốn. Tiết kiệm trong chi tiêu ngân sách hiện vẫn là một khả năng rất
lớn cần tận dụng, bởi lẽ so với các nước tỷ lệ động viên thu nhập quốc dân
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i

a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m


Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r

d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
mchế Bộ chủ quản để các doanh nghiệp tự chủ trong bảo bảo toàn và phát
triển nguồn vốn.
- Hiện nay nguồn tích luỹ của các doanh nghiệp còn rất hạn chế. Bởi
lẽ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả còn thấp, công nghệ
chưa được đổi mới, chất lượng của sản phẩm chưa cao, nên khả năng tiết
kiệm cho đầu tư chưa nhiều. Mặt khác vốn khấu hao chưa được quản lý
nghiêm ngặt và khấu hao đủ. Vì vậy để huy động được nguồn vốn lớn
trong doand nghiệp nhà nước thì đòi hỏi nhà nước phải tiến hành sửa đổi và
ban hành các chính sách để khuyến khích doanh nghiệp làm ăn có hiệu , để
có thể đầu tư phát triên sản xuất.
- Trong giai đoan 1996- 2000 vốn của doanh nghiệp nhà nước tự đầu
tư khoảng14-15% tổng số của toàn xã hội. Mở rộng quyến tự chủ của các
doanh nghiệp theo hướng cơ cấu lại vốn sản xuất và tài sản của doanh
nghiệp một cách hợp lý, tính đầy đủ giá trị quyền sử đất vào vốn vào tài

e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h


Vốn đầu tư của tư nhân và dân cư có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc phát triển nông nghiệp, mở mang ngành nghề ở nông thôn phát triển
công nghiệp thủ công, thương mại , dịch vụ, vận tải…Vì vậy chúng ta cần
phải thực hiện các chính sách sau:
- Đa dạng hoá các công cụ, huy động vốn để cho mọi ngườ dân ở bất
cứ nơI nào cũng có đIều kiện sản xuất kinh doanh.
- Tăng lãi xuất tiết kiệm đảm bảo lãi xuất dương.
- Khuyến khích sử dụng tài sản cá nhân, thực hiện chế độ thanh toán
tiền gửi ở một nơi và rút ra bất cứ lúc nào, có vậy chúng ta mới đưa được
nguồn vốn dưới dạng cất giấu vào lưu thông.
- Tao môi trường đầu tư thông thoáng và thực hiện theo quy định của
luật pháp để người dân dễ dàng bỏ vốn đầu tư.
- Chính phủ ban hành các chính sách khuyến khích các hộ gia đình ở
các vùng nông thôn, vốn vào sản xuất trên cơ sơ khai thác thế mạnh của
từng vùng, phát huy truyền thống hiện có của địa phương.
- Chính phủ ban hành chính sách khuyến khích tư nhân trong nước
như tự đầu tư
- Thực hiện chính sách xã hội hoá dần đầu tư phát triển sự nghiệp
giáo dục và đào tạo, y tế nhằm huy động thêm nguồn lực của nhân dân.
4. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài .
Nó có tầm quan trọng đặc biệt cho việc phát triển kinh tế với phần lớn
các nước đang phát triển và là điều kiện để nhang chóng thiết lập cacad
quan hệ kinh tế quốc tế, gắn thị trường nội dịa với thị trường thế giới trên
cả bốn mặt :thị trường hàng hoá, thị trường tàI chính, thị trường lao động
và thị trường thông tin. Vì vậy, phảI xây dung một chiến lược kinh tế đối
ngoại đúng đắn, phù hợp voí những chuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị
-xã hội và khoa học hiện nay. Cần có chính sách tàI chính thích hợp để
khuyến khích đầu te nước ngoàI dưới hình thức vay nợ, đầu tư tàI chinh,
đầu tư trực tiếp, mở chi nhánh kinh doanh, thuê chuyên gia… Thực hiện

a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.

yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc củng cố và làm lành mạnh nền tài
chính quốc gia, đồng thời cũng là nhân tố tạo nên bước chuyển biến có ý
nghĩa cơ bản của công cuộc đổi mới cơ chế kinh tế.
II/ VAI TRÒ CỦA VỐN TRONG NƯỚC VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VÀ Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG
NƯỚC.
1/ Vốn trong nước với vấn đề đáp ứng nhu cầu của đẩu tư cho phát
triển kinh tế.
- Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá có tính kế hoạch nhiều
thành phần , định hướng XHCX nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất
của xã hội, khai thác và sử dụng có tiềm năng vốn của đất nước đã đặt nền
kinh tế nước ta đến một loạt các mâu thuẫn lớn cần giải quyết cấp bách.
Trong đó có mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư và nguồn vốn đáp ứng cho nhu
cầu ấy. Việc đánh giá đúng nguồn vốn và việc sử dụng nó trong thời gan
vừa qua nó cho chúng ta những cơ sở để tạo ra chiến lược tạo vốn nhằm
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i

a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m


Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r

d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
mđược, theo kết quả đIều tra mức sống gần đây của uỷ ban nhà nước và tổng
cục thống kê cho thấy số tiền của người dân được tích luỹ dưới nhiều hình
thức.
Vì vậy việc bán tín phiếu với lãi xuất thích hợp đang thu hút nhanh
nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Và gần đây chính phủ cho phép thành lập
quỹ tín dụng nhân nhân, cũng như ngân hàng dành cho người nghèo để hỗ
trợ cho các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn.
2/ Huy động vốn trong nước với vấn đề phát triển kinh tế.
Trong năm năm 1991- 1995 vốn đầu tư xã hội khoảng 18 tỷ USD,
trong đó đó đầu tư nhà nước chiếm khoảng 43%. Đầu tư của khu vực tư
nhân chiếm khoang 1/3 tổng số vốn đầu tư.Tổng mức tiết kiệm mà các tổ
chức huy động dược tăng từ 5300 tỷ đồng năm 1990 lên trên 24000 tỷ
đồng, chiếm 35,5% tổng đầu tư xã hội . Sang kế hoạch 1996- 2000 lượng
vốn dự báo cần cho đầu tư phát triển khoảng 41- 43 tỷ USD trong đó thì

e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h


Theo các ý kiến dự báo thì khoảng 50- 70 nghìn tỷ đồng của nhân dân
đang cất giữ dưới dạng tiền mặt, ngoạI tệ, tàI sản có giá trị cao…Chưa
chuyển được thành nguồn vốn đầu tư và kinh doanh. Khoản tiền kiều hối
hàng năm gửi về nước khoảng từ 0,6- 1 tỷ USD chưa được khai thác và sử
dụng hợp lý.
Nguyên nhân của các yếu kém trên là do:
- Trình độ phát triển kinh tế của nước ta vẫn còn thấp, mức độ tiền tệ
hoá nền kinh tế và các quan hệ tài chính tiền tệ mới ở giai đoạn đầu của sự
phát triển, mức độ phân tán ở trong nước vừa nhỏ vừa phân tán.
- Cơ cấu sản xuất nói chung kém hiệu quả, sau hơn 10 năm đổi mới
cầu về những sản phẩm truyền thống gần như đã bão hoà cần phải thay
bằng những sản phẩm mới có chất lượng và hình thức cao hơn.
- Chính sách quản lý vĩ mô chưa hoàn thiện và đồng bộ, chưa khuyến
khích mọi người bỏ vốn ra mở rộng sản xuất, môi trường đầu tư chưa ổn
định còn nhiều rủi ro cho các nhà đâù tư.
- Khả năng kinh doanh sinh lợi cao hơn lãi trả ngân hàng của nhiều
doanh nghiệp còn hạn chế. Điều đó cũng kéo theo các ngân hàng cũng gặp
rủi ro khi cho vay, khó thu hồi vốn, phải sử dụng thế chấp như một công cụ
chủ yếu. Đây chính là yếu tố hạn chế phân bổ có hiệu quả nguồn vốn
Để huy động nguồn vốn một cách có hiệu quả thì chúng ta nên áp
dụng một số biện pháp sau:
- Đẩy mạnh thu hút vốn trực tiếp từ dân cư và doanh nghiệp, thúc đẩy
đa dạng hoá các hình thức đầu tư.
- Ủng hộ chủ trương của nhà nước đang dự thảo về cơ chế” Đổi quyền
sử dụng đất lấy công trình”. Biện pháp có thể là nhà nước giao quyền sử
dụng đất (có thời hạn) cho chủ đầu tư để lấy công trình do chủ đầu tư xây
dựng theo yêu cầu của nhà nước.
Click to buy NOW!
P

k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o

chiếm 37,7% so với vốn đầu tư trong nước.
Trong 3 năm (1996- 1998) tổng mức vốn đầu tư toàn xã hội thực
hiện là253,614 tỷ đồng tương đương khoảng 20- 21 tỷ USD. So với mục
tiêu toàn xã hội của kế hoạch 5 năm 1996- 2000 là 41- 42 tỷ USD thì 3
năm1996- 1998 đã thực hiện được khoảng 40- 50%.
Nguồn vốn đầu tư huy động toàn xã hội ngày càng tăng so với
GDP. Naawm 1989 chỉ đạt 8-9% GDP, thì đến năm 1991 đạt 15,22%, năm
1993 đạt 21%, năm 1995 đạt 26,3%, năm 1996 đạt 26,9% , nawm 1997 đạt
27,5% và năm 1998 đạt28,2%.
Nguồn vốn đầu tư toàn xã hội ngày càng đa dạng hoá, hình thức huy
động được huy động qua nhiều kênh như vốn ngân sách nhà nước, phát
hành tráI phiếu công trình. Hiện nay hình thức cổ phần hoá các doanh
nghiệp nhà nước để tái đầu tư hoặc đầu tư xây dựng mới đang được mở
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w

g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
mrộng. Hình thức doanh nghiệp tự vay vốn của nước ngoào để đầu tư có sự

21773
15600
26400
-
100
39,4

28,0

20,1

33,9

3,04

90800
38000
22000
14743
30800
-
100
41,9

24,2

16,2

33,9



Để đảm bảo đầu tư đúng định hướng, phù hợp với quy hoạch phát
triển kinh tế của vùng, lãnh thổ, nâng cao sử dụng vốn tín dụng đầu tư ưu
đãi, cần đổi mới cơ chế quản lý và chính sách đầu tư theo chương trình dự
án. Tất cả các công trình dự án đều phải tân thủ một cách nghiêm ngặt các
trình tự đầu tư xây dựng cơ bản.
IV/ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ HUY ĐỘNG VỐN
ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC.
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w

e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
mNguồn vốn luôn là một vấn đề đặt ra hàng đầu cho mọi nền kinh tế
công nghiệp hoá. Tuy nhiên do lợi thế của mỗi một quốc gia là khác nhau
và do sự khác nhau về lợi thế so sánh nên con đường để kiến tạo nguồn vốn
sản xuất là hết sức đa dạng.
1/ Kinh nghiệm của Nhật Bản.
Nhật bản là một cường quốc kinh tế ở Châu á với cách tạo nguồn vốn

h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m

a
c
k
.
c
o
m Kinh tế Hàn Quốc bắt đầu cất cách từ thập kỷ 60, kể từ kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ nhất ra đời năm 1962, nền kinh tế đã duy
trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. Bình quân tốc độ tăng GDP hàng
năm là 9% cao hơn rất nhiều so tốc độ tăng bình quân của thế giới. Trong
cùng thời gian công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến có tốc độ tăng
trên 20% năm, dịch vụ tăng trên 14%/ năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
nhanh đã giúp cho Hàn Quốc giải quyết được nhiều vấn đề như giảm thất
nghiệp, giảm tỷ lệ nghèo đói, giảm mức chênh lệch về thu nhập giữa nông
thôn và thành thị.
- Tài trợ cho các nhu cầu đầu tư trước tình hình kinh tế trong nước
kém phất triển, nguồn tích luỹ từ nội bộ ít, nguồn tài trợ bên ngoài giảm sút
chính phủ đã khuyến khích đầu tư làm tăng việc sử dụng nguyên liệu trong
công nghiệp, khuyến khích đầu tư nước ngoài, khuyến khích du nhập công
nghệ kỹ thuật mới.
- Sử dụng công cụ thuế và tăng cường tiết kiệm của chính phủ, sử
dụng công cụ thuế như một công cụ kích thích đầu tư, tăng cường sử dụng
chính sách lãi suất thấp, chính phủ đưa ra các điều kiện để hoàn lại vốn và
trả lãi cho các nhà đầu tư. Để tập trung vốn cho phát triển các ngành mũi
nhọn.
Click to buy NOW!
P

k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o

dụng tối đa các lợi thế so sánh của nước mình và tính đến một cách cặn kẽ
đIều kiện tự nhiên, địa lý, các nguồn lực tự nhiên cũng như các phong tục
tập quán, tâm lý người dân, đặc đIểm riêng của dân tộc mình. Tuy nhiên có
những điểm riêng đáng chú ý của từng nước được nghiên cứu có thể mang
lại nhiều lợi ích cho quá trình phát triển kinh tế ở nước ta.
Kinh nghiệm ở một số nước còn cho thấy quỹ đầu tư còn là một định
chế tài chính trung gian tương đối thích hợp để huy động và sử dụng nguồn
vốn lớn. Đây là một mô hình kinh tế bổ ích cho quá trình phát triển kinh tế
ở Việt nam vì vậy chúng ta phải tiến hành công tác nghiên cứu nó một cách
tỉ mỷ xem cái gì có thể vận dụng được và cái gì không áp dụng được.
Nó góp phần vào giải quyết bài toán khó về huy động vốn đầu tư trong
nước, tích luỹ trong nước chỉ được cải thiện nhờ chính sách lãi suất mà
còn nhờ tiết kiệm chi tiêu của chính phủ. Việc hạn chế phần chi tiêu này
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w

g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
mgóp phần tích cực trở lại với vấn đề huy động vốn trong nước. Một chính

-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w

sau đó mới được rút ra. Bằng việc đổi tiền sẽ hy vọng sớm cải thiện được
cán cân tiền tệ trong nền kinh tế. Tuy nhiên biện pháp này chỉ cắt giảm
được lượng tiền tích trữ ngoài sổ sách của các doanh nghiệp trong khu vực
kinh tế quốc doanh còn trong khu vực tư nhân và trong nhân dân kết quả
thu được rất hạn chế vì phần lớn tiền tồn tại dưới dạng vàng và đô la Mỹ.
Sau khi tiến hành đổi tiền mặt thì các doanh nghiệp quốc doanh gàn như bị
tê liệt, gây nên tình trạng thiếu tiền mặt nghiêm trọng. Để giải quyết vấn đề
này buộc Chính phủ phải phát hành tiền để duy trì sự hoạt động cho các
doanh nghiệp quốc doanh và vì vậy làm tăng thêm mức độ lạm phát. Trong
khi đó:
- Công suất sử dụng thực tế máy móc thiết bị thấp, chỉ đạt 30%, riêng
ngành cơ khí đạt 20% công suất thiết kế.
- Chi phí năng lượng để làm ra một sản phẩm cao hơn so với tiêu
chuẩn tiên tiến của thế giới từ 1,5- 2 lần.
- Chất lượng sản phẩm thấp, so với tiêu chuẩn xuất khẩu chỉ đạt 15%.
Sản phẩm sản xuất ra không đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V

h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m

nước công nghiệp phát triển. Bên cạnh nguồn vồn nước ngoài, nguồn vốn
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t

.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
mtrong nước phaior được huy động một cách tối đa, đảm bảo vai trò có ý
nghĩa to lớn cho công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước .
Nhìn vào bảng cơ cấu tốc độ nguồn vốn trong nước ta thấy cơ cấu vốn
trong nước tăng dần qua các năm, còn vốn ngoài quốc doanh và các vốn
khác thì giảm dần cả về tỷ trọng và tốc độ. Qua đó cho ta thấy được tầm
quan trọng của vốn đầu tư trong nước ngày càng quan trọng và quyết định
mọi hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh tế. Giai đoạn 1991- 1997 các
chính sách về đầu tư đã thực sự phát huy tác dụng thu hút mọi tầng lớp dân
cư và mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động đầu tư phát triển sản
xuất kinh doanh bằng tất cả các nguồn lực của mình, nhiều người đã bỏ cả
phần của cải tích luỹ vào đầu tư phát triển sản xuất. Tổng cộng trong 7 năm
từ năm 1991- 1997 cả nước đã huy động được 386 nghìn tỷ đồng ( tính
theo mặt bằng giá cả năm 1995) tương đương với khoảng 35 tỷ đô la.

i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
sách của Nhà nước đối với nông nghiệp. Khu vực nông nghiệp là khu vực ít
chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á nên sản xuất
gia tăng, quy mô gia tăng đồng đều qua các năm. Nguyên nhân chủ yếu làm
cho ngành nông nghiệp tiếp tục gia tăng là do các chính sách của Chính
phủ khuyến khích phát triển nông nghiệp nên sản lương thực tăng đều qua
các năm như sau: Năm 1995 đạt 27,4 triệu tấn, năm 1996 đạt 29,2 triệu tấn,
năm 1997 đạt 30,6 triệu tấn, năm 1998 đạt 31,5 triệu tấn ước đến năm 1999
đạt 33,8 triệu tấn.
2/ Trong lĩnh vực công nghiệp.
Trong những năm gần đây sản xuất công nghiệp đã dần thích ứng với
cơ chế quản lý mới và đang đi vào thế phát triển ổn định. Sự phát triển giữa
các ngành các khu vực và các loại sản phẩm công nghiệp tuy ở mức độ
khác nhau nhưng nhìn chung xu hướng tăng tương đối rõ nét. Công nghiệp
ngoài quốc doanh tuy có chậm phát triển hơn do chậm thích ứng với cơ chế
quản lý mới và phải khắc phục sự tan vỡ của công nghiệp tập thể nhưng
đến nay vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Sự phát triển của ngành công
nghiệp trong những năm qua bắt nguồn từ sự đầu tư lớn và có kế hoạch của
nhà nước của nhiều năm trước đây cho một số ngành công nghiệp quan
trọng như: Dầu khí, điện, xi măng. Việc đẩy mạnh khai thác dầu thô và
nâng cao hiệu suất sử dụng của các nhà máy lớn như xi măng Bỉm sơn, xi
măng Hoàng Thạch, thuỷ điện Trị An, Hoà Bình.
3/ Trong lĩnh vực dịch vụ.
Mở rộng nhiều hoạt động dịch vụ trong nông thôn nhất là hoạt động
cung ứng vật tư kỹ thuật, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ tài chính tín
dụng, dịch vụ du lịch, dịch vụ y tế, giáo dục…Đã đạt được mức tăng
trưởng cao qua các năm là do phát triển hàng hoá và dịch vụ đa dạng phong
phú, lưu thông lại thông thoáng nên quan hệ giữa cung và cầu về hàng hoá
dịch vụ ngày càng được cải thiện dần ổn định giá cả do cuộc khủng hoảng

r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w

Điều này trái ngược với lý thuyết kinh tế là khi lãi xuất tiền gửi tăng lên thì
chi phí cơ hội của việc giữ tiền tăng nhưng nó lại phản ánh đúng thực tế ở
việt nam trong thời gian qua. Như vậy có thể nói trong mấy năm qua tỷ lệ
tiết kiệm của nước ta tăng nhanh nhờ chủ yếu vào tốc độ tăng trưởng cao
của nền kinh tế và cả sự ổn định của nền kinh tế và phần nào vào chính
chính sách lãi suất thực dương hợp lý của Nhà nước ta. Mặc dù tiết kiệm
tăng nhanh nhưng nó vẫn không đủ khả năng cung cấp đủ nguồn vốn cho
đầu tư vào sản xuất.
+ Giá cả tác động đến tiết kiệm. Về mặt lý thuyết khi giá cả tăng thì
tiết kiệm sẽ giảm, thì việc ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát có tác động
to lớn đến khả năng huy động nguồn vốn nội địa.
+ Tác động của bản thân cầu về đầu tư tới tiết kiệm.
- Các biện pháp kích thích đầu tư.
+ Quan hệ giữa công cụ lãi suất và đầu tư: Thông thường các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường, thường vay vốn từ thị trường vốn để
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i

a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m


Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e

V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r

d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status