Tiểu luận
Soạn thảo và thỏa
thuận hợp đồng ngoại
thương_Những phát
sinh và cách giải quyết 1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày nay, muốn phát triển mỗi quốc gia phải
tích cực tham gia mở rộng quan hệ hợp tác Kinh tế – Thương mại. Thực tế đã chứng
minh “ Ngoại thương” là con đường tốt nhất để đưa đất nước hoà nhập với xu thế phát
triển chung của thế giới. Hoạt động ngoại thương đã có vai trò quan trọng trong sự
phát triển của mỗi quốc gia.
Thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại và tiên tiến.
Trong khi Việt Nam đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
1.1.2. Khái niệm hợp đồng ngoại thương
Hợp đồng là sự thoả thận một cách tự nguyện giữa hai hay nhiều bên bình đẳng
với nhau làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể.
Hợp đồng ngoại thương còn gọi là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế hoặc
hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hoá là sự thoả thuận giữa những thương nhân có trụ sở
kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu (Bên bán) có
nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho một bên khác gọi là bên nhập
khẩu (Bên mua), bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán và nhận hàng theo thoả
thuận.
Theo công ước Lahay 1964 về mua bán quốc tế động sản hữu hình thì hợp đồng
ngoại thương là loại hợp đồng mua bán hàng hoá, trong đó các bên kí kết có trụ sở
Thương mại đặt ở các nước khác nhau, hàng hoá được chuyển từ nước này sang nước
khác, hoặc việc trao đổi ý chí kí kết hợp đồng giữa các bên được thiết lập ở những
nước khác nhau.
Theo công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán quốc tế (công ước
quốc tế Viên 1980) thì hợp đồng ngoại thương là sự thoả thuận giữa các bên có trụ sở
Thương mại đặt ở những nước khác nhau.
Theo điều 80 luật Thương mại Việt Nam năm 1997 quy định: hợp đồng mua
bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được kí kết
giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài. 3
1.1.3. Ý nghĩa của hợp đồng ngoại thương
Có một ý nghĩa rất quan trọng trong thương mại quốc tế. Đối với quan hệ mua
bán hàng hoá, sau khi các bên mua và bán tiến hành giao dịch và đàm phán có kết quả
thì phải tiến hành kí kết hợp đồng. Như vậy, hợp đồng thương mại quốc tế ghi nhận
1.2.2. Giai đoạn đàm phán
Tiếp xúc ban đầu: Đây là giai đoạn nhằm xây dựng bầu không khí hợp tác trong
cuộc đàm phán bởi lẽ những ấn tượng ban đầu thường khó quên.
Tiến hành thương lương: Đây là giai đoạn chính của đàm phán, là giai đoạn
triển khai các vấn đề đàm phán theo như kế hoạch đã vạch ra trong giai đoạn chuẩn bị.
Kết thúc thương lượng: Trong giai đoạn này thì cuộc đàm phán đã hoàn thành,
các vấn đề bàn bạc đã được các bên thống nhất.
1.2.3. Giai đoạn sau đàm phán
Giai đoạn này cần phải tỏ rõ thiện chí thực hiện những gì đã đạt được trong
cuộc đàm phán. Tuy nhiên, cũng lại cần phải tỏ ra rất sẵn sàng xem xét lại những điều
thoả thuận nào đó.
1.3. Các hình thức đàm phán hợp đồng ngoại thương
1.3.1. Đàm phán giao dịch qua thư từ, điện tín
Ngày nay thư từ và điện tín vẫn còn là phương tiện chủ yếu để giao dịch giữa
những người xuất nhập khẩu. Những cuộc tiếp xúc ban đầu thường qua thư từ. Ngay
khi sau này hai bên đã có điều kiện gặp gỡ trực tiếp thì việc duy trì quan hệ cũng phải
thông qua thư tín Thương mại.
Là hình thức đàm phán giao dịch thuận tiện đỡ tốn kém nhất, thường được sử
dụng rộng rãi và thường xuyên nhất, chủ động về thời gian gửi thông tin và thông báo.
Hình thức đàm phán này thường dùng cho những vấn đề không phức tạp, dễ
diễn đạt, dễ hiểu nhau, hoặc dùng khi kí hợp đồng có giá trị nhỏ. 5
1.3.2. Đàm phán giao dịch qua điện thoại
Hình thức này giúp cho việc đàm phán được tiến hành nhanh chóng, khẩn
trương, đúng vào thời điểm cần thiết, nhưng chi phí rất cao, hạn chế về mặt thời gian,
các bên không thể trình bày với nhau một cách chi tiết và khi trao đổi bằng điện thoại
chỉ trao đổi bằng miệng do đó không có gì làm bằng chứng cho những thoả thuận.
1.3.3. Đàm phán giao dịch bằng cách gặp gỡ trực tiếp
Thông thường đồng tiền trong hợp đồng có khả năng chuyển đổi mạnh (USD,
EUR,…), những cũng có thể là đồng tiền tính giá của nước bán hoặc nước mua. Giá
trong hợp đồng là giá quốc tế, giá có thể xác định ngay khi kí hợp đồng hoặc trong
thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, và thường ghi cùng với điều kiện giao hàng để
phân biệt, ví dụ: FOB Hải Phòng, CIF New York, …
1.4.5. Điều khoản về phương thức thanh toán
Thanh toán là điều khoản quan trọng trong hợp đồng ngoại thương, nó liên quan
trực tiếp đến quyền lợi, mục đích của các bên trong hợp đồng. Điều khoản này quy
định những vấn đề về đồng tiền thanh toán, thời hạn trả tiền, điều kiện đảm bảo hối
đoái, các chứng từ làm căn cứ thanh toán.
1.4.6. Điều khoản về địa điểm và thời hạn giao hàng
Trong điều khoản này phải xác định trách nhiệm của người bán thông báo cho
người mua về việc hàng đã chuẩn bị xong để giao, bên bán còn phải liệt kê những
chứng từ giao hàng mà người bán phải giao khi nhận hàng, cần quy định rõ như sau:
- Thời gian giao nhận: Ghi thời gian giao nhận cụ thể, chia theo đợt, theo
ngày, tháng … Nếu giao hàng thường xuyên với khối lượng lớn thì chia theo yêu cầu
của bên mua để đáp ứng đòi hỏi của thị trường, thời gian giao nhận không nhất thiết
phải dàn đều theo tháng, quý …
- Địa điểm giao nhận: cần thoả thuận cụ thể địa chỉ nơi giao nhận, đảm bảo
phù hợp với khả năng đi lại của phương tiện vận chuyển, đảm bảo an toàn cho phương
tiện, bỏ bớt các khâu trung gian không cần thiết. 7
- Phương thức giao nhận: giao nhận phải qua cân, đong, đo, đếm, tính khi
cấn thiết phải kiểm nghiệm .
Nam, một bản hợp đồng muốn có hiệu lực pháp lý phải có đủ 6 điều khoản chủ yếu.
2.3. Về địa vị pháp lý của chủ thể
Các nước thường quy định không giống nhau về tuổi có năng lực hành vi của tự
nhiên nhân. Ví dụ: tại Việt Nam và Pháp quy định: các công dân phải đủ 18 tuổi trở
lên thì mới có đầy đủ năng lực hành vi đầy đủ. Trong khi đó, tại Anh, Mỹ quy định
phải tròn 21 tuổi trở lên.
Về tiêu chuẩn để xác định quốc tịch của pháp nhân cũng được quy định rất khác
nhau giữa các quốc gia.
2.4. Về thẩm quyền xét xử
Pháp luật Việt Nam quy định tranh chấp hợp đồng ngoại thương sẽ thuộc thẩm
quyền xét xử của Toà án Việt Nam nếu bị đơn cư trú tại Việt Nam hoặc có trụ sở làm
việc tại Việt Nam. Mỗi quốc gia đều xây dựng pháp luật của mình để xác định thẩm
quyền giải quyết tranh chấp theo những nguyên tắc nhất định, ví dụ theo thẩm quyền
của toà án nơi có tài sản, thẩm quyền nơi xảy ra hành vi, thẩm quyền nơi xảy ra thiệt
hại v.v….Khi không có quy phạm pháp luật thực chất thống nhất, các quốc gia thường
giải quyết tranh chấp hợp đồng ngoại thương theo các quy phạm quốc tế hoặc theo các
công ước chung của các tổ chức Thương mại phi chính phủ. 9
3. GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT PHÁT SINH VÀ MỘT SỐ BIỆN
PHÁP
3.1. Giải pháp giải quyết phát sinh trong hợp đồng ngoại thương
Giải quyết phát sinh là việc điều chỉnh các bất đồng, các xung đột dựa trên
những căn cứ và bằng những phương thức khác nhau do các bên lựa chọn. Các nhà
kinh doanh và những đại diện về pháp lý của họ khi đàm phán để soạn thảo và kí kết
các hợp đồng ngoại thương cần đặc biệt chú ý đến việc lường trước những phát sinh
có thể xảy ra để đưa vào hợp đồng một hoặc những điều khoản về giải quyết. Chỉ cần
một sự sơ suất nhỏ, không thận trọng trong quá trình đàm phán sẽ có thể gây ra những
tốn kém rất lớn khi giải quyết những phát sinh sau này.
Luôn quan hệ với các tổ chức tư vấn trong và ngoài nước để hiểu biết về đối tác
kinh doanh, vì đăng kí kinh doanh tại một số nước rất đẽ dàng (như Hồng Kông) cho
nên tình trạng “hữu danh vô thực” rất có thể xảy ra.
Phải thăm dò giá cả và chất lượng thật cụ thể và ghi rõ trong hợp đồng. Không
cả tin cũng không nên đa nghi. Có thể có những khách hàng bán hạ giá để còn hy vọng
bán nhiều hơn. Đó chính là họ lấy lãi suất thấp nhưng bán được nhiều hàng thì lợi
nhận tuyệt đối cao. Ngược lại, nếu quá tin cũng là điều nên tránh. Như trường hợp một
công ty mua năm 5 xe tải cũ. Hợp đồng ghi chất lượng 80%, thế nào là 80%? Thậm
chí điều 10 trong hợp đồng còn ghi: “Kết quả kiểm nghiệm do người bán tiến hành
trước khi xếp hàng lên tàu là cuối cùng”. Hậu quả là xe tải xấu, chỉ còn khoảng 60%
chất lượng và tại sao lại giao cho người bán kiểm tra chất lượng ???. Đúng ra phải ghi
rõ chất lượng xe gồm: gầm xe, vỏ xe, động cơ,… Qua đây cũng có thể thấy được rằng
chữ “tín” phải là mối quan hệ lâu dài, có cơ sở và đảm bảo.
Thời hạn giao hàng là yêu cầu sống còn của doanh nghiệp, nhất là với Việt
Nam, bởi vì ta thường thanh toán tiền hàng bằng ngoại tệ. Nếu có sai lệch thời hạn
giao hàng mà tỷ giá hối đoái biến động xấu, hoặc hàng về dồn dập thì hàng sẽ bị hạ giá
hoặc doanh nghiệp sẽ bị lỗ.
Thận trọng về điều khoản vận chuyển. Nhất là khi người bán nhận được quyền
thuê tầu thì họ thường thuê tầu cũ và rẻ. Dù người mua không thua thiệt lớn nếu hợp
đồng chặt chẽ, cũng có thể gặp phiền phức, chí ít cũng bị ảnh hưởng về thời gian và
chất lượng hàng hoá. Từ đó lại phải tranh chấp và tranh tụng.
11
Bảo đảm về yêu cầu ngoại ngữ, nhất là tiến Anh kinh tế trong ngôn ngữ hợp
đồng. Bởi vì tiếng Anh có thể là tiếng Anh của người Anh, của người Mỹ, tiếng Anh
của người Hồng Kông… Bảo đảm chính xác ngôn ngữ trong hợp đồng sẽ hạn chế sự
tranh chấp và khi phải ra trọng tài hay toà án cũng sẽ dễ dàng hơn.
Trong quá trình đàm phán kí kết hợp đồng thì vấn đề Luật áp dụng trong hợp
đồng cần ghi một cách rõ ràng để tránh tình trạng khó xác định được Luật quốc gia
tiểu luận này của em còn nhiều sai sót, em mong nhận được sự góp ý của các thầy cô
để em có thể hoàn thiện hơn kiến thức của mình. Em xin chân thành cảm ơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo Ngoại thương số T2-T5/2002
2. PGS.TS Trần Văn Chu – Quản lý và nghiệp vụ kinh doanh thương mại quốc
tế – Nxb Thế giới 2003
3. Nguyễn Trọng Đàn – Hợp đồng kinh doanh quốc tế – Nxb Trẻ 2001
4. Nguyễn Thị Khế – Hợp đồng Kinh tế và các hình thức giải quyết tranh chấp
kinh tế – Nxb Đồng Nai 1997
13
5. Xuân Huy, Minh Khiết – Mẵu văn bản hợp đồng Thương mại – Nxb Trẻ
2001
6. Phạm Thanh Phấn, Nguyễn Huy Anh – 81 mẫu văn bản trong quản lý giao
dịch kinh doanh – Nxb Thống kê 2003.
7. PGS. Đinh Xuân Trình - Thanh toán quốc tế - Trường Đại học Ngoại
10
Kết luận 11
Tài liệu tham khảo 12