Tiểu luận Các tranh chấp bất đồng trong hoạt động xuất nhập khẩu và cách giải quyết - Pdf 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA Tiểu luận

Các tranh chấp bất đồng trong
hoạt động xuất nhập khẩu và
cách giải quyết

Các tranh chấp bất đồng trong hoạt động xuất nhập khẩu và cách giải quyết

1
Phần 1: NHỮNG TRANH CHẤP, BẤT ĐỒNG TRONG QUÁ TRÌNH
THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XUẤT NHẬP KHẤU HÀNG HÓA
Trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu có thể xảy ra những tranh chấp,
bất đồng sau:
1.1 Các tranh chấp phát sinh liên quan đến việc thực hiện hợp đồng của người

Bị đơn: Người bán – Trung Quốc
Tóm tắt vụ việc:
25/12/2006: Ký hợp đồng mua bán với các điều kiện sau:
- Hàng hóa: 19.500 bộ quần áo trẻ em sợi hỗn hợp với số lượng và giá cả
khác nhau
- Điều kiện giao hàng: FOB (cảng Trung Quốc)
- Tổng trị giá hợp đồng: 404.415 USD
- Phương thức đóng gói: hộp giấy
- Giao hàng vào tháng 6/2007
- Số lượng giao: 900 hộp giấy bốc lên tàu của Cuba
Điều 13: Các điều kiện chung về giao hàng trong hợp đồng: quy định rõ quyền
của các bên được khiếu nại về việc thiếu hàng hóa.
Các tình tiết:
 Tại cảng đến Havana, người mua xác nhận có 1 số thùng có trọng lượng
không đủ. Tuy nhiên, người mua vẫn vận chuyển số hàng trên vào kho và nhờ
Cơ quan giám định tại Cuba .
 Sau khi kiểm định, cơ quan này đã xác nhận như sau:
 Thiếu 606 quần/áo trong 19 thùng hàng được giám định ( trong tổng số
300 thùng) theo vận đơn B/L 52, hóa đơn SUL 30047.
Các tranh chấp bất đồng trong hoạt động xuất nhập khẩu và cách giải quyết

3
 Thiếu 1.845 quần/áo trong 61 thùng hàng theo B/L 53, hóa đơn SUL
30048
 Người bán đã không chấp nhận thỏa thuận đàm phán khi người mua yêu cầu.
Cho nên, người mua đã khởi kiện người bán phải chịu trách nhiệm cho số
hàng thiếu & yêu cầu được bồi thường.
Lập luận của bị đơn:
Điều 14: Các điều kiện chung về giao hàng trong hợp đồng: Số lượng và
khối lượng của hàng hóa được xác định theo vận đơn đường biển.

 Bị đơn đã trình chứng nhận về hàng hoá được đóng vào thùng khi số hàng này
còn ở trong nhà máy, nhưng hàng đã không được bốc trực tiếp lên tàu sau khi
rời nhà máy mà được vận chuyển bằng nhiều phương tiện, rồi cuối cùng mới
được bốc lên tàu. Do đó, không loại trừ khả năng việc thiếu hàng xảy ra trước
khi số hàng này được bốc lên tàu.
 Ủy ban trọng tài cũng chiếu theo điều 13: Các điều kiện chung về giao hàng
trong hợp đồng đã ký kết có qui định rõ quyền của các bên được khiếu nại về
việc thiếu hàng hoá và do đó Bị đơn phải chịu trách nhiệm về việc thiếu hàng
này.
Về tiền phạt:
- Bị đơn phải bồi thường cho Nguyên đơn 4.425,01 USD - khoản tiền đã
trả cho số hàng thiếu
- 180 USD phí giám định.
- Bị đơn chịu phí trọng tài.
 Về chất lượng :
 Tranh chấp giữa người mua với người nhập khẩu, người bán hàng hoặc giữa
các thương nhân với nhau do sản phẩm, hàng hoá không phù hợp với tiêu
chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc thỏa thuận về chất
lượng trong hợp đồng.
Các tranh chấp bất đồng trong hoạt động xuất nhập khẩu và cách giải quyết

5
 Tranh chấp giữa tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh với người tiêu dùng và
các bên có liên quan do sản phẩm, hàng hoá không bảo đảm chất lượng gây
thiệt hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường.
Người bán phải có nghĩa vụ giao hàng phù hợp với phẩm chất quy định trong hợp
đồng.
 Nếu là hàng đặc định thì phải giao hàng có phẩm chất hoàn toàn phù hợp với
quy định của hợp đồng -> sự khác biệt về phẩm chất đều bị coi là vi phạm
hợp đồng.

hành -> trường hợp này người bán chưa hết trách nhiệm về sự phù hợp
của hàng hóa ở nơi đến -> người mua có quyền bác bỏ giấy chứng nhận
đó.
- Giấy chứng nhận về sự phù hợp có tính chất quyết định ( có giá trị pháp
lý cuối cùng). Điều này phải được thể hiện trong hợp đồng và khi đó giấy
chứng nhận này ràng buộc trách nhiệm của cả hai bên. Người xuất khẩu
thì muốn việc kiểm tra ở nơi đi có tính quyết định. Khi đó, người xuất
khẩu có thể hết trách nhiệm về sự phù hợp của hàng hoá ở nơi đến. Cách
quy định này đương nhiên có lợi cho người bán, vì hàng hoá trong mua
bán quốc tế thường phải vận chuyển dài ngày, qua nhiều vùng khí hậu
khác nhau nên rất dễ bị tổn thất.
 Tuy vậy, sự miễn trách của người bán về sự phù hợp này cũng có tính chất
tương đối. Người nhập khẩu vẫn có quyền chứng minh ngược lại khi thấy có sự
man trá hay thông đồng với cơ quan giám định của người bán, quá trình kiểm
tra có khuyết điểm, nội dung giấy chứng nhận không rõ ràng.
 Người nhập khẩu, ngược lại, muốn việc kiểm tra sự phù hợp ở nơi đến có tính
quyết định. Bởi vì khi đó, ở mức độ nhất định người bán phải có trách nhiệm về
sự phù hợp của hàng hoá ở nơi đến. Người nhập khẩu yên tâm hơn về quá trình
vận chuyển và độ chính xác của việc kiểm tra ở nước mình. Ý chí của hai bên về
vấn đề này không giống nhau nên cũng có thể sẽ có tranh chấp, bất đồng xảy
ra, nhất là khi trong hợp đồng không quy định rõ ràng về giá trị của giấy chứng
nhận phẩm chất.
Các tranh chấp bất đồng trong hoạt động xuất nhập khẩu và cách giải quyết

7
Ví dụ 2:
TRANH CHẤP VỀ CHẤT LƯỢNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN CHÈ
Các bên:
Nguyên đơn : Người mua - Ba Lan
Bị đơn : Người bán - Việt Nam

Lập luận của bị đơn
- Theo điều 17 hợp đồng đã ký kết, bị đơn đã không chấp nhận kết quả đã
giám định của trạm vệ sinh dịch tễ tỉnh Gdynia – một tổ chức không phải
cơ quan giám định độc lập.
- Chè đen là hàng nông sản có tính hấp thụ cao và dễ bị hư hỏng nếu để lâu,
trong khi đó kết quả giám định của SGS lại dựa trên mẫu lấy ở lô hàng để
quá lâu (hơn 6 tháng)
- Hàng đã được kiểm tra và cấp chứng nhận phù hợp với hợp đồng bởi
Vinacontrol – một tổ chức giám định độc lập, được chỉ định theo điều 13
của Hợp đồng.
- Chè có hàm lượng Ferromagnetic và tro không tan trong nước quá cao: là
hai tiêu chí không được các bên thoả thuận, cam kết trong hợp đồng.
Trên cơ sở đó bị đơn đã bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn
Phán quyết của trọng tài:
1. Về hiệu lực của các văn bản xác định chất lượng giao hàng
- Căn cứ Theo điều 175 Luật thương mại VN, Nguyên đơn đã làm đúng
nghĩa vụ của người mua theo thông lệ quốc tế và phù hợp với Hợp đồng đã
được ký kết vì hợp đồng không quy định cụ thể về việc giám định hàng tại
cảng bốc hàng là cảng cuối cùng -> Bị đơn không thể không thừa nhận giá
trị pháp lý cũng như hiệu lực của biên bản của SGS cấp.
- Bị đơn cũng không thể viện vào lý do chè đen là mặt hàng nông sản có tính
hấp thụ cao và dễ bị hư hỏng nếu để lâu, bởi vì cho dù có để lâu hơn nữa (
thậm chí là hơn 6 tháng) thì nguyên nhân mà lô hàng chè đen loại D mà
Các tranh chấp bất đồng trong hoạt động xuất nhập khẩu và cách giải quyết

9
Hải quan Ba Lan không cho phép nhập là do trong chè có hàm lượng tạp
chất sắt từ tính và tro không tan trong nước quá cao, không thể đưa vào sử
dụng làm thực phẩm (đồ uống ) cho con người được.
- Giấy chứng nhận Vinacontrol đưa ra chỉ nêu chung chung là hàng phù hợp

bán phải có nghĩa vụ giao cho người mua thường là hoá đơn thương mại,
phiếu đóng gói, giấy chứng nhận số lượng, giấy chứng nhận chất lượng, vận
đơn, các chứng từ khác như hợp đồng bảo hiểm, giấy chứng nhận kiểm
dịch, ….
 Trong số các chứng từ nói trên, thì vận đơn là một chứng từ rất quan trọng,
chứng từ này do người chuyên chở cấp cho người gửi hàng (thường là
người bán) và người này phải gửi nó cho người mua để nhận hàng. Thông
thường sau khi gửi hàng, người bán bắt buộc phải gửi vận đơn gốc cho
người mua để người mua có thể kịp thời đi nhận hàng.
 Việc gửi, giao chứng từ hàng hoá chậm, đặc biệt là vận đơn, hay gửi thiếu
chứng từ sẽ gây trở ngại cho người mua trong việc nhận hàng và phân phối
hàng hoá, gây thiệt hại cho người mua -> trong trường hợp này sẽ dẫn đến
tranh chấp giữa hai bên người bán và người mua.
1.1.3 Tranh chấp về điều khoản giá:
Điều khoản giá là một trong những điều khoản quan trọng trong hợp đồng.
 Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà đối tượng hợp đồng là những
mặt hàng có giá cả biến động mạnh với xu hướng khó nắm bắt, hoặc những
hợp đồng có thời hạn thực hiện dài, giao hàng nhiều lần hoặc những hợp đồng
mà thời điểm giao hàng chưa được xác định cụ thể. Cho nên, việc “thả nổi”
giá hàng hóa theo sự tăng, giảm của giá thị trường là rất phổ biến.
Ví dụ như: xăng, dầu, sắt, thép, vật liệu xây dựng, xi măng, cà phê, cao
su, hồ tiêu, gas, gạo, thủy sản, ngũ cốc, lúa mì, các mặt hàng nông sản
khác,… là những mặt hàng có giá cả luôn biến động với giá thị trường
thế giới.
Các tranh chấp bất đồng trong hoạt động xuất nhập khẩu và cách giải quyết

11
 Những hợp đồng XNK cho các mặt hàng này thường được ký kết với điều
khoản giá mở, đáp ứng yêu cầu về giá linh hoạt theo diễn biến thị trường. Về
mặt pháp lý, sự linh hoạt này giúp đảm bảo sự cân bằng cho hợp đồng, hạn

quy định giá mua do người mua đưa ra có thể được xem xét theo sự suy
giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng.
- Nhận được đơn chào mua, người bán trả lời là giá cần được xem xét theo
cả sự tăng lên và sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng.
Người mua đã đồng ý về việc này.
- Hàng hóa được người bán gửi cho người mua theo đúng đơn chào mua,
nhưng người mua lại đơn phương hủy đơn chào mua của mình và không
nhận hàng.
- Người mua cho rằng điều khoản giá quy định như vậy là chưa đủ rõ ràng
để hình thành hợp đồng giữa hai bên.
Phán quyết của toà án:
- Vì Pháp và Đức là hai quốc gia thành viên của CISG nên tòa án áp dụng
CISG để giải quyết tranh chấp.
- Tòa Phúc thẩm Paris trích dẫn điều 14 khoản 1 CISG, theo đó “Một đề
nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là
một chào hàng nếu nó đủ chính xác và chỉ rõ ý chí của người chào hàng
muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó.
Một đề nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng
và giá cả một cách rõ ràng hoặc ngầm định hoặc quy định các yếu tố để
xác định số lượng và giá cả”.
- Đơn chào hàng của người mua đã ghi rõ: giá của hàng hóa được xác định
theo sự suy giảm của giá thị trường. Người mua đã đưa ra căn cứ để xác
định giá, đó là tham chiếu đến giá thị trường vào một thời điểm cụ thể là
thời điểm giao hàng. Như vậy, theo điều 14 khoản 1 CISG, điều khoản giá
Các tranh chấp bất đồng trong hoạt động xuất nhập khẩu và cách giải quyết

13
với giá được xác định theo sự tăng giảm của giá thị trường là đã đủ chính
xác, rõ ràng.
 Với những lập luận đó, tòa án cho rằng hợp đồng đã thành lập giữa

Rumani với giá 216 USD/tấn.
NM đã khởi kiện theo điều khoản trọng tài trong hợp đồng, đưa ra trọng tài
Phòng Thương mại Quốc tế (tại Paris - Pháp) đòi NB bồi thường thiệt hại do chênh
lệch giá.
Phán quyết của trọng tài:
1. Luật áp dụng:
Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
(ký ngày 11 tháng 4 năm 1980) không thể được áp dụng. Công ước này có hiệu lực ở
Ai Cập, Nam Tư, cũng như tại Pháp, nhưng theo điều 100(2) của Công ước này chỉ
áp dụng cho những hợp đồng mua bán được ký kết sau ngày Công ước có hiệu lực
(ngày1 tháng 1 năm 1988) trong khi đó hợp đồng mua bán đang xét lại được ký vào
ngày 20 tháng 8 năm 1987
Theo luật tư pháp quốc tế của Ai Cập, nếu các bên trong hợp đồng mua bán có
trụ sở ở nhiều nước khác nhau thì luật được áp dụng là luật của nước nơi ký kết hợp
đồng, trừ khi các bên có thoả thuận khác (Điều 19 của Luật dân sự 1949).
Theo Luật tư pháp quốc tế của Nam Tư, luật áp dụng là luật của nước nơi mà
bên bán có trụ sở chính tại thời điểm mà họ (hoặc bên khác) nhận được đề nghị chào
hàng, nếu các bên không có thoả thuận về luật áp dụng.
Pháp là một trong các thành viên của Công ước Hague về luật áp dụng trong
Các tranh chấp bất đồng trong hoạt động xuất nhập khẩu và cách giải quyết

15
mua bán hàng hoá quốc tế (ngày 15 tháng 6 năm 1955). Điều 3(2) của Công ước này
qui định nếu các bên không thoả thuận khác, hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật
của quốc gia nơi bên bán có địa chỉ thường trú tại thời điểm mà họ nhận được đơn
đặt hàng.
Vì trụ sở chính và địa chỉ thường trú của Người bán tại thời điểm tranh chấp là
Nam Tư và vì hợp đồng mua bán được ký ở Nam Tư
 theo toàn bộ qui tắc áp dụng về tư pháp quốc tế, thì luật Nam Tư sẽ là
luật áp dụng

hại chỉ là sự chênh lệch giữa 190 USD và 214 USD/ tấn là 24 USD/tấn
- NB cho rằng NM phải trả khoản thuế nhập khẩu hàng của Rumani cao hơn
hàng của Nam Tư
NM không hề đòi bồi thường bất kỳ khoản thiệt hại bổ sung nào phát sinh từ
việc mua hàng thay thế.
- NB cho rằng thép mua của công ty Rumani có chất lượng thấp hơn so với
loại thép mà NB cung cấp
Đối với NM thì chất lượng thép là tương đương.
Từ các lập luận nêu trên, trong tài đi đến kết luận rằng trong trường hợp này
NM hoàn toàn có quyền yêu cầu NB bồi thường khoản chênh lệch giá do phải mua
thép của một bên thứ ba thay thế cho số thép đáng lẽ đã mua của NB theo “Quyền
mua đặc biệt”. Tuy nhiên, NM chỉ có thể đòi bồi thường khoản thiệt hại thực tế mà
họ phải chịu, được tính là mức chênh lệch giữa giá mua đặc biệt (190 USD/tấn) và
giá mua thực tế mà NM đã phải trả cho công ty Nam Tư (216,5 USD/tấn) sau khi đã
trừ đi khoản tiền mà NM tiết kiệm được từ việc vận chuyển (khoảng 2,5 USD/tấn).
Như vậy NB sẽ phải bồi thường cho NM một khoản tiền là 80.000 x 24 USD
= 1.920.000 USD
Các tranh chấp bất đồng trong hoạt động xuất nhập khẩu và cách giải quyết

17
1.1.4 Tranh chấp phát sinh do người bán không thực hiện nghĩa vụ sau bán
hàng:
 Sau khi giao hàng cho người mua, người bán vẫn có thể phải thực hiện một số
nghĩa vụ như bảo hành, hướng dẫn sử dụng hàng hoá, vận hành máy móc thiết
bị,…. Điều khoản bảo hành có vai trò rất quan trọng trong các hợp đồng mua
bán máy móc thiết bị toàn bộ, hàng điện tử, ô tô Trong các điều khoản này
thường quy định người bán có nghĩa vụ đảm bảo khả năng làm việc bình
thường của hàng hoá trong một khoảng thời gian nhất định phù hợp với tiêu
chuẩn kỹ thuật đã thoả thuận trong hợp đồng.
 Như vậy, đối với những hợp đồng mua bán có quy định vấn đề bảo hành,

a. Trường hợp quy định thanh toán bằng L/C
 Việc người mua mở L/C là điều kiện tiên quyết để người bán thi hành nghĩa
vụ giao hàng.
 Khi người bán thông báo cho người mua biết là hàng đã sẵn sàng để giao thì
người mua phải mở L/C trong thời hạn đã quy định trong hợp đồng.
 Việc người mua không mở L/C, mở không kịp thời hoặc số tiền ghi trên L/C
không đúng số tiền quy định trong hợp đồng, hoặc không mở L/C quy định tại
ngân hàng đã thoả thuận đều là những hành vi vi phạm nghĩa vụ mà hợp đồng
đã quy định và dẫn đến khiếu nại của người bán.
 Việc không mở L/C sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho người bán trong trường
hợp đối tượng của hợp đồng là những hàng hoá tươi sống, hàng chóng bị hư
hỏng như rau quả tươi, thịt gia súc Người bán sẽ phải bỏ thêm các chi phí
khác như thuê kho lạnh để bảo quản, tái chế hàng hoá,…. -> những trường
hợp như vậy chắc chắn sẽ gây ra tranh chấp.
Ví dụ 5:
TRANH CHẤP DO KHÔNG MỞ THƯ TÍN DỤNG THANH TOÁN
TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN THÉP
Các bên:
Nguyên đơn : Người bán – Quốc tịch Áo
Các tranh chấp bất đồng trong hoạt động xuất nhập khẩu và cách giải quyết

19
Bị đơn : Người mua – Quốc tịch Việt Nam
Tóm tắt vụ việc:
26/06/1999 ký Hợp đồng mua bán với các điều kiện sau :
 Hàng hóa : 1500 MT thép tấm cán nóng
 Điều kiện giao hàng : C.I.F (F.O.B cảng Hải Phòng)
 Tổng trị giá hợp đồng : 370.880 USD
 Giao hàng vào tháng 7 năm 1999
 Thanh toán bằng L/C không hủy ngang có xác nhận (ngày mở chậm nhất là

không qui định việc gặp khó khăn về tài chính là một căn cứ miễn trách cho việc
không thực hiện hợp đồng.
Ngày 30/06/1999 bên mua gửi văn thư đề nghị xin hủy hợp đồng vì khó khăn
về tài chính, nhưng bên bán không có trả lời gì về vấn đề này. Sự im lặng của bên
bán không phải là đồng ý huỷ hợp đồng, do vậy các bên phải tiếp tục thực hiện hợp
đồng.
Vi phạm hợp đồng nhưng không có căn cứ miễn trách nhiệm thì bên mua phải
chịu trách nhiệm trước bên bán.
2.Về sai sót ngày tháng trong Telex gia hạn mở L/C của bên bán:
Khi nhận được Telex thông báo gia hạn ngày mở L/C đến trước ngày
07/06/1999, tức gia hạn lùi về quá khứ, nhưng bên mua không hề có phản ứng gì,
không điện hỏi bên bán tại sao lại như vậy, cũng không đề xuất thời gian cụ thể cho
việc gia hạn mở L/C. Như vậy chứng tỏ bên mua không quan tâm đến việc gia hạn
mở L/C của bên bán.
Mặt khác sự sai sót về ngày tháng trong Telex gia hạn mở L/C hoặc việc gia
hạn lùi về quá khứ của bên bán không phải là nguyên nhân của việc không mở L/C,
mà nguyên nhân đích thực của việc không mở L/C là do bên mua gặp khó khăn về tài
chính, như đã đề cập ở mục 1 nêu trên. Vì vậy bên mua không được miễn trách
nhiệm do không mở L/C.
3. Về tiền phạt:
Theo Điều 7 Hợp đồng bên mua có trách nhiệm nộp phạt 5% trị giá hợp đồng
cho bên bán, cụ thể là:
Các tranh chấp bất đồng trong hoạt động xuất nhập khẩu và cách giải quyết

21
5% x 370.880 USD = 18.544 USD
Bên mua lập luận rằng việc bên mua xin hủy hợp đồng, không mở L/C không
hề gây thiệt hại nào cho bên bán. Lập luận này không được Uỷ ban trọng tài công
nhận, bởi vì bên bán chỉ đòi tiền phạt theo quy định của hợp đồng chứ không đòi bồi
thường thiệt hại. Đây là tiền phạt do không thực hiện hợp đồng cho dù không gây

nhận được thông báo của người bán là hàng đã được chuẩn bị sẵn sàng để
giao thì trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo này thì người
mua phải gửi cho người bán một lệnh giao hàng bằng văn bản, trong đó có
ghi rõ địa chỉ cụ thể của người nhận hàng, cảng đến Người bán chỉ được
phép giao hàng sau khi nhận được lệnh giao hàng của người mua -> trong
trường hợp người mua không gửi lệnh giao hàng hoặc chậm trễ trong viẹc
gửi lệnh giao hàng thì sẽ gây thiệt hại cho người bán, từ đó tranh chấp sẽ
phát sinh.
 Ngoài những vấn đề nêu trên, các tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ của người
mua còn có thể phát sinh trong các trường hợp như khi người mua mở L/C
không đúng các quy định của hợp đồng, người mua tự ý yêu cầu ngân hàng
ngừng thanh toán,….
Như vậy các tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế là rất đa dạng và phức tạp.
Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải tìm được những phương pháp giải quyết tranh chấp đó
một cách có hiệu quả nhất.
Phần 2: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
2.1 Các phương pháp giải quyết tranh chấp không mang tính tài phán
2.1.1 Hòa giải
Hòa giải có 3 đặc điểm sau:
Một là, hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp.
Các tranh chấp bất đồng trong hoạt động xuất nhập khẩu và cách giải quyết

23
Hai là, chủ thể trung tâm của hòa giải là bên trung gian giúp cho các bên tranh
chấp thỏa thuận với nhau về GQTC. Điều này làm cho hòa giải có sự khác biệt với
thương lượng. Người trung gian có thể là cá nhân, tổ chức luật sư, tư vấn, hoặc các tổ
chức khác do các bên thỏa thuận lựa chọn. Người này phải có vị trí độc lập với các
bên và hoàn toàn không có lợi ích liên quan đến tranh chấp. Bên thứ ba làm trung
gian không đại diện cho quyền lợi của bất cứ bên nào và không có quyền đưa ra phán

được các tài liệu chứng cứ có liên quan (những bí mật kinh doanh) trong khi
giải quyết tại tòa án thì các yêu cầu này không được đảm bảo do tòa án thực
hiện xét xử theo nguyên tắc công khai.
Bên cạnh những ưu điểm trên, giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa
giải vẫn còn tồn tại những nhược điểm nhất định:
 Việc hòa giải có được tiến hành hay không phụ thuộc vào sự nhất trí của các
bên, hòa giải viên không có quyền đưa ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt
bất cứ vấn đề gì đối với các bên tranh chấp thỏa thuận hòa giải không có tính
bắt buộc thi hành như phán quyết của trọng tài hay của tòa án. Nếu hoà giải
bất thành, thì lợi thế về chi phí thấp trở thành gánh nặng bổ sung cho các bên
tranh chấp.
 Người thiếu thiện chí sẽ lợi dụng thủ tục hòa giải để trì hoản việc thực hiện
nghĩa vụ của mình và có thể đưa đến hậu quả là bên có quyền lợi bị vi phạm
mất quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc trọng tài vì hết thời hạn khởi kiện.
 Thủ tục này ít được sử dụng nếu các bên không có sự tin tưởng với nhau.
Các hình thức hòa giải:

Trích đoạn Các Trung Tâm Trọng Tài Khác Bàn bạc soạn thảo kỹ những tình huống bất khả kháng, miễn trách, khó khăn trở ngại dẫn đến phải điều chỉnh, sửa đổi lại hợp đồng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status