Tiểu luận : Trình bày một doanh nghiệp nhà nước đã được tiến hành cổ phần hoá doc - Pdf 20

Tiểu luận
Trình bày một doanh nghiệp nhà
nước đã được tiến hành cổ phần hoá

Tiểu luận Luật Kinh Tế 1

LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước thực sự có bước
chuyển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng kể từ khi chính phủ ban hành
nghị định về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần vào

I. Khái niệm
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là việc chuyển doanh nghiệp nhà
nước thành công ty cổ phần đối với những doanh nghiệp mà nhà nước thấy
không cần nắm giữ 100% vốn đầu tư, nhằm tạo điều kiện cho người lao
động trong doanh nghiệp có cổ phần làm chủ thực sự doanh nghiệp, huy
động vốn toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp
góp phần tăng trưởng kinh tế.
II. Phân loại doanh nghiệp để tiến hành cổ phần hoá
Để đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá tại các doanh nghiệp nhà nước thì
việc phân loại các doanh nghiệp là hết sức cần thiết. Hiện nay, doanh nghiệp
được chia thành ba loại để tiến thành cổ phần hoá:
1) Loại thứ nhất:
Loại doanh nghiệp chưa tiến hành cổ phần hoá:
- Sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ mà nhà nước độc quyền quản
lý: vật liệu nổ, hoá chất độc, in bạc, các chứng chỉ có giá, mạng trục thông
tin quốc gia và quốc tế.
- Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích. Trường hợp cổ phần hoá
loại doanh nghiệp này, thì thủ tướng chính phủ đã có quyết định đối với loại
doanh nghiệp có mức vốn 10 tỷ đồng trở lên, Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương quyết định đối với loại
doanh nghiệp có mức vốn 10 tỷ đống trở xuống.
2) Loại thứ hai:
Tiểu luận Luật Kinh Tế 3

Loại doanh nghiệp tiến hành cổ phần hoá nhưng nhà nước cần nắm cổ
phần chi phí chi phối , cổ phần đặc biệt gồm:
- Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích trên 10 tỷ đồng.

3- Tách một bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hoá.
4- Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
IV. Quyền mua cổ phần
Cổ phần được thông báo công khai tại các doanh nghiệp cổ phần hoá
hoặc bán thông qua các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, các
trung tâm giao dịch chứng khoán.
Các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, công dân Việt Nam, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài định cư ở Việt Nam đều có
quyền mua cổ phần ở các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá.
Việc mua cổ phần ở các doanh nghiệp, mà Nhà nước giữ cổ phần chi
phối, cổ phần đặc biệt khi tiến hành cổ phần hoá lần đầu được ấn định cho
một pháp nhân được mua không quá 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp,
một cá nhân được mua không quá 5 % tổng số cổ phần của doanh nghiệp.
Đối với loại doanh nghiệp mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi
phối, cổ phần đặc biệt khi một pháp nhân được mua không quá 20%, một cá
nhân được mua không quá 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp.
Loại doanh nghiệp mà Nhà nước không tham gia cổ phần thì không hạn
chế số lượng được mua cổ phần của các pháp nhân, cá nhân nhưng phải bảo
đảm số cổ đông tối thiểu theo luật quy định về công ty cổ phần.
V. Thẩm quyền quyết định các doanh nghiệp được tiến hành cổ
phần hoá.
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các doanh nghiệp thành viên trong các
tổng công ty 91 được tiến hành cổ phần hoá do Hội đồng quản trị của các
tổng công ty 91 đề nghị.
Tiểu luận Luật Kinh Tế 5

Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền cho các Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban


2. Được miễn phí lệ phí trước bạ trong việc chuyển tài sản Nhà nước
trong nước thành tài sản công ty cổ phần.
3. Tiếp tục vay vốn tại ngân hàng và các tổ chức tín dụng như đã áp
dụng với các doanh nghiệp nhà nước.
4. Tiếp tục xuất nhập khẩu hàng hoá.
5. Được duy trì các loại quỹ như trước.
6. Người lao động trong doanh nghiệp được ưu đãi trong việc mua cổ
phần của doanh nghiệp.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VÀ TÌNH HÌNH CỔ PHẦN HOÁ Ở CÔNG
TY VẬN TẢI VÀ XUẤT NHẬP KHẨU QUẢNG NINH.
I: Thực trạng :
Từ năm 1992 dến nay, cả nước dã có trên 1000 doanh nghiệp nhà nước
được chuyển đổi sở hữu, trong dó cổ phần hoá gần 900 doanh nghiệp, số còn
lại là chuyển giao, bán và khoán kinh doanh. Chương trình sắp xếp, đổi mới
doanh nghiệp nhà nước, mà trọng tâm là cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước được triển khai thí điểm từ năm 1992. Mục đích của chương trình này
là tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu trong dó có chủ sở hữu
là người lao động, đồng thời giúp doanh nghiệp có thể huy động vốn trong
toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh, thúc đẩy
sự phát triển doanh nghiệp. Song do chưa có đầy đủ văn bản quy phạm pháp
luật về vấn đề này và chưa có hướng dẫn cụ thể nên từ năm 1992 đến hết
năm 1997, cả nước mới có 38 doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hoá.
Tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thực sự có bước chuyển
mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng kể từ khi chính phủ ban hành nghị
định về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần vào
tháng 6/1998. Trong đó nêu rõ các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp
và người lao động tại các doanh nghiệp cổ phần hoá. Nghị định này đã trở
Tiểu luận Luật Kinh Tế


Tiểu luận Luật Kinh Tế 8

công ty cổ phần. Theo đánh giá của ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp
nhà nước, tổng vốn điều lệ của các doanh nghiệp cổ phần hoá đã tăng từ
192,4 tỷ đồng lên 297,7 tỷ đồng, trong đó 56% vốn điều lệ do lao động trong
doanh nghiệp nắm giữ, vốn bình quân của doanh nghiệp tăng từ 2,2 tỷ đồng
lên 3,8 tỷ đồng, so với trước khi cổ phần hoá. Qua khảo sát ở 65 doanh
nghiệp đã cổ phần, doanh thu của các doanh nghiệp này tăng 82%, tổng lợi
nhuận sau thuế của doanh nghiệp tăng 287%, nộp nhân sách tăng 75%, với
thu nhập bình quân của người lao động tăng 31%. Nhờ huy động vốn bằng
cách phát huy cổ phần nên các công ty cổ phần đã có vốn đầu tư mở rộng
kinh doanh. Sau khi cổ phần hoá, các công ty cổ phần đều tích cực rà soát và
xây dựng lại qui tài chính, lao động xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn,
nghiã vụ và quyền lợi của người quản lý và người lao động, xây dựng các
quy chế thưởng phạt phân minh tinh giản bộ máy gián tiếp, tổ chức hợp lý
các bộ phận sản xuất kinh doanh, bố trí lại lao động cho phù hợp với yêu cầu
công việc và trình độ năng lực công việc của từng người. Nhờ vậy đã hạn
chế được những chi phí bất hợp lý về tiền lương, tiền thưởng trước đây.
Bên cạnh đó, việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đã tạo ra
nhiều mô hình doanh nghiệp mới đa sở hữu, hoạt động tốt trong kinh tế thị
trường, mỡ rộng khả năng thu hút vốn đầu tư, tăng cường trách nhiệm của
các chủ sở hữu cũng như người lao động; nâng cao khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế
thành phố.
Mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật về cổ phần hoá đả được sửa
đổi, bổ sung nhiều lần, nhưng vẩn chưa theo kịp với yêu cầu và đòi hỏi thực
tế. Đây là nguyên nhân chính làm cho các doanh nghiệp nhà nước trong diện

tại các công ty này cho biết họ không có đủ tiền để cạnh tranh với những
người tham gia đấu giá bên ngoài. Đây là một thực tế quá rõ ràng ở những
doanh nghiệp chuẩn bị cổ phần hoá thì tâm lý này của người lao động là rất
phổ biến. Họ là người sẽ không có quyền lợi và không có cơ hội từ các cuộc
Tiểu luận Luật Kinh Tế 10
bán đấu giá doanh nghiệp. Sự lo ngại này còn xuất phát từ việc nếu doanh
nghiệp chuyển đổi hình thức sở hữu thì tính ổn định và thu nhập của người
lao động sẽ tính thế nào.
Theo chủ trương cải cách doanh nghiệp thực hiện theo tinh thần nghị
định 103/CP của chính phủ, thì người lao động cũng không có đặc quyền
gì.Mặc dù vẫn biết như vậy nhưng các doanh nghiệp vẫn cứ phải làm.Việc
người lao động không có quyền lợi gì khi bán đấu giá doanh nghiệp đã tạo
thành rào cản lớn và phản ứng mạnh mẽ, khiến cho tiến trình cổ phần hoá
khó mà có thể đẩy nhanh được hơn.
Việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước còn chậm, nguyên nhân
còn bắt nguồn từ nhận thức của các lãnh đạo doanh nghiệp như chưa muốn
phá bỏ cơ chế cũ quốc doanh, bao cấp của nhà nước. Về tâm lý là người của
nhà nước nên chưa dám bung ra mạnh bạo tự chủ vươn lên trên thương
trường nên nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư công nghệ hiện đại nhưng vẫn
làm ăn thua lỗ triền miên. Mặt khác, có những nhận thức chưa đúng cho
rằng chỉ những doanh nghiệp nào làm ăn thua lỗ mới cổ phần hoá còn doanh
nghiệp làm ăn khá giã thì nhà nước giử lại. Do đó, nhận thức doanh nghiệp
nhà nước hay doanh nghiệp ngoài quốc doanh về mặt nào đó hiện tại chưa
công bằng trong khi xu thế chung là các doanh nghiệp có nghĩa vụ và quyền
lợi như nhau.
Ngoài ra, hiện nay còn có một thực tế là nhiều doanh nghiệp nhà nước
là thành viên của tổng công ty muốn cổ phần hoá nhưng lại vấp phải trở

phần chi phối đã làm không tốt đến nhiều phương án cổ phần hoá. Hiện nay,
Nhà nước nắm cổ phần chi phối ở bao nhiêu doanh nghiệp vẫn chưa được
thống kê. Vấn đề là ở chổ doanh nghiệp lại muốn thực hiện như vậy để được
coi là doanh nghiệp nhà nước của một số bộ nghành vẫn đề nghị phải gi rõ
doanh nghiệp cổ phần hoá có chi phí nhà nước chi phối vẫn là doanh nghiệp
Tiểu luận Luật Kinh Tế 12
nhà nước, được thực hiện theo luật doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp
nhà nước thực hiện cổ phần hoá là đơn vị. KẾT LUẬN
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX vừa qua đã khẳng định “kinh tế nhà nước
phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế: nắm những vị trí then chốt, là
nhân tố mở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quan
trọng và là một công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh
tế”.
Để thực hiện được mục tiêu đó thì việc sắp xếp lại và đổi mới quản
lýđoanh nghiệp nhà nước chắc chắn phải là một nhiệm vụ trọng yếu và phải

IV. Thẩm quyền quyết định các doanh nghiệp được tiến hành CPH 4
VI. Thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá thành
công ty cổ phần 5
VII. Những ưu đãi của nhà nước đối với doanh nghiệp được CPH 5
Tiểu luận Luật Kinh Tế 14
Chương II. Thực trạng và tình hình cổ phần hoá ở công ty vận tải
và xuất nhập khẩu Quảng Ninh 6
I. Thực trạng 6
1. Nguyên nhân 9
Kết luận 12

Tài liệu tham khảo
1. Cổ phần hoá DNNN – kinh nghiệm thế giới.
NXB thống kê -1993
2. Báo kinh tế phát triển.
3. Cổ phần hoá- một biện pháp để giải quyết nguồn vốn trong các
DNNN.
4. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status