25
hoá hình thành, anh ninh lơng thực bảo đảm, lúa gạo, cà
phê, hạt điều, hạt tiêu trở thành mặt hàng xuất khẩu quan
trọng. Thu nhập của nông dân tăng lên, tỷ lệ đói nghèo
giảm bình quân 2% năm.
Hiện nay cả Việt Nam và Trung Quốc đều tiếp tục
thực hiện các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp
bằng biện pháp tăng khả năng cạnh tranh và đều đạt đợc
thành tựu to lớn. Tuy vậy cả Trung Quốc và Việt Nam đều
không tránh khỏi những sai lầm trong quá trình cải cách.
Sai lầm của Trung Quốc là không nhất quán lựa chọn u
tiên phát triển thành thị hay nông thôn. Bớc vào giai đoạn
cải cách kinh tế, với những chính sách mới, nông nghiệp
nông thôn tỏ rõ vai trò quan trọng của mình nhng khi
công nghiệp hoá, hiện đại hoá bắt đầu tăng tốc, lại xuất
hiện những thách thức mới về lựa u giữa công nghiệp và
nông nghiệp. Bên cạnh những thành tựu quan trọng của
công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp và những tuyên bố
của chính phủ rằng cải cách nông nghiệp là trọng điểm, sự
nhình nhận vai trò nông nghiệp trong quá trình công nghiệp
hoá vẫn cha hợp lí. Hệ thống chính sách thực tế vẫn không
hớng về hỗ trợ nông nghiệp, chính phủ vẫn mua với giá
quy định hơn 10% hạt lơng thực của nông dân qua đó điều
tiết tài nguyên từ nông thôn ra thành thị. Còn tại Việt Nam,
26
thực tế quá trình đổi mới chính sách cho thấy chúng ta dễ
mắc phải một sai, một lầm sau: Một lầm là do cho rằng
phải nhanh chóng từ bỏ cơ chế thị trờng chuyển sang áp
dụng kế hoạch hoá nền kinh tế. Trong khi thực tế là một
dạng và vừa túi tiền của c dân. Mặt khác phải đa công
nghiệp nặng vào quỹ đạo phục vụ việc cải tiến kĩ thuật nông
nghiệp, công nghiệp nhẹ và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Cần khắc phục tình trạng sản phẩm trung gian của công
nghiệp nặng đợc chi dùng quá nhiều cho bản thân công
nghiệp nặng ( thí dụ vào cuối thập kỉ 70, điện dùng đến
70%, than đá 64%, dầu mỏ 65% ) không để tốc độ phát
triển công nghiệp nặng biến động quá lớn. Cần phải khống
chế chặt chẽ tổng quy mô đầu t vốn cố định và cơ cấu đầu
t. Trong cơ cấu của bản thân công nghiệp nặng, cần khống
chế sự phát triển nhanh về sản lợng của nghành chế tạo cơ
khí, đồng thời phải hiện đại hoá nghành này để làm cơ sở
đẩy nhanh tốc độ phát triển của các nghành công nghiệp
khai thác và sản xuất nguyên vật liệu. Bên cạnh đó, Trung
28
Quốc cũng coi việc hiện đại hoá phơng pháp lao động
trong công nghiệp nặng có tác dụng quyết định đối với sự
phát triển, vì theo họ đó là sự vật chất hoá trí tuệ, là cái mốc
của tiến bộ kĩ thuật. Chính vì thế trong những năm qua, cơ
cấu của nền kinh tế đã bớc đầu giảm đợc tỉ lệ mất cân đối
giữa công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ và nông nghiệp.
Năm 1979 quan hệ tỉ lệ giữa ba khu vực này là 1,12:1:1 và
tới năm 1982 thì thay đổi theo tỉ lệ 0,99:1:0,98. Nhìn vào
quan hệ tỉ lệ trên thì công nghiệp nặng đã giảm tỉ trọng và
công nghiệp nhẹ đã chiếm tỉ trọng lớn nhất.
Trong đờng lối về phát triển công nghiệp, Trung
Quốc rất coi trọng vấn đề hiện đại hoá, coi hiện đại hoá
công nghiệp là tiền đề để thực hiện hiện đại hoá các nghành
khác. Theo Trung Quốc hiện đại hoá công nghiệp bao gồm
triển công nghiệp nặng, hoá chất với trọng điểm là công
nghiệp gia công chế tạo, công nghiệp lắp ráp, vật liệu xây
dựng đáp ứng các nhu cầu củng cố, phát triển hơn nữa cơ
sở hạ tầng, đặc biệt là tăng nhanh xây dựng nhà ở bán cho
30
c dân, kích cầu trong nớc. Đồng thời, các nghành công
nghiệp nhẹ và công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu cũng
vẫn duy trì nhịp độ phát triển cao.
Còn ở Việt Nam vào giai đoạn đầu cải cách kinh tế
khi nông nghiệp đợc cởi trói bắt đầu phát triển thì lĩnh
vực công nghiệp nặng vốn đợc ấp ủ rơi vào tình trạng
suy thoái cha từng có. Các nghành công nghiệp nặng dựa
trên nhu cầu không cạnh tranh của kinh tế kế hoạch sa sút
nhanh chóng nhất là luyện kim, máy móc cơ khí, hoá chất,
sản phẩm kim loại Trớc tình hình đó chiến lợc mới đã
đợc Đại hội VI Đảng cộng sản Việt Nam thông qua năm
1986. Cũng giống nh Trung Quốc thay vì khuyến khích sự
phát triển của nghành công nghiệp nặng giờ cần chú trọng
tới sản xuất thực phẩm và hàng tiêu dùng cũng nh khuyến
khích xuất khẩu để thu ngoại tệ cần thiết cho nhập khẩu
nguyên liệu và các mặt hàng thiết yếu. Theo đó, công
nghiệp nhẹ và nghành chế biến thực phẩm đợc chú ý hơn
để sản xuất ra hàng hoá đáp ứng nhu cầu xã hội, trong đó
phát triển công nghiệp nhẹ dựa vào việc tái tổ chức sản xuất
với các đầu vào sâu rộng để sử dụng hết công suất và thiết
bị của các đơn vị sản xuất hiện có, đặc biệt chú ý tới khai
thác hợp lí tiềm năng của nghành công nghiệp nặng cũng
nh các doanh nghiệp khác để sản xuất hàng tiêu dùng.
31
vực thuận lợi giao thông, cửa khẩu, gần thành phố lớn. Năm
1997 cả nớc có 688 cơ sở sản xuất công nghiệp quan trọng
thị chỉ có 195 đơn vị nằm ở địa bàn nông thôn. Công
nghiệp nặng tập trung về thành phố: công nghiệp hoá chất
chỉ có 2,1% ở nông thôn, công nghiệp mỏ là 6,8%, điện và
cơ khí là 12,8%. Ngay cả các nghành công nghiệp tiêu thụ
nhiều sức lao động và nguyên liệu từ nông nghiệp nh công
nhẹ cũng chỉ có 14,9% nhà máy nằm ở nông thôn. Đây là
một điểm yếu của nớc ta do đó mặc dù có nhiều điều
chỉnh hợp lí hơn nhng Việt Nam vẫn cha có đợc một
nền công nghiệp liên kết với nông nghiệp và kinh tế nông
thôn. Mặt khác lúc này chúng ta cũng đẩy mạnh tiến hành
xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp với công việc
chủ yếu là nhập linh kiện từ nớc ngoài về lắp ráp, trong
khi đó ở Trung Quốc họ đã có những sản phẩm xuất khẩu
do chính quốc sản xuất. Điều này phản ánh sự hạn chế, yếu
kém trong cơ sở hạ tầng và khoa học kĩ thuật của Việt Nam.
Về công nghiệp quốc phòng ta và Trung Quốc có
hớng cải cách khác nhau. Về phía Trung Quốc, do là nớc