43
nhiều thiệt hại ảnh hưởng tới quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp bị
cháy. chúng ta có thể đơn cử một số vụ sau:
- Vụ cháy ở công ty liên doanh sản xuất xà phòng Lever Haso với thiệt
hại khoảng1,5 tỷ đồng (năm 1998)
- Vụ cháy ở Công ty TNHH Transfield Việt nam với thiệt hại hơn 2 tỷ
đồng (năm 1999)
- Vụ cháy ở Công ty may Hải Sơn với thiệt hại là 7,5 tỷ đồng (năm 2000)
- Vụ cháy ở Công ty Muraya Việt Nam với thiệt hại là 6,25 tỷ đồng
(năm 2000)
- Vụ cháy ở Công ty TNHH Thịnh Khang với trị giá 6,2 tỷ đồng (năm
2000)
Tuy nhiên, các vụ cháy xảy ra hầu hết đều ở các đơn vị kinh doanh có chăng
thì mới tham gia bảo hiểm cháy, và chưa tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh
doanh. Công tác triển khai nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo
Việt Hà Nội mới trải nghiệm qua tổn thất gây ra bởi một số vụ cháy ước tính
thiệt hại khoảng vài trăm triệu đồng/vụ, nhưng không vì thế mà công tác giám
định không gặp phải khó khăn. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh có đặc điểm
riêng là sau khi tổn thất xảy ra người ta chưa thể xác định được ngay thiệt hại
thực tế mà phải chờ một thời gian nhất định (giai đoạn bồi thường) người bảo
hiểm mới có thể tính được thiệt hại thuộc trách nhiệm bồi thường. Do đó, việc
hoàn tất hồ sơ giám định nhiều khi kéo dài hàng năm gây không ít trở ngại
cho cán bộ Bảo Việt Hà Nội. Tuy nhiên, khó khăn đó là khó khăn mang tính
khách quan do đặc điểm của nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh. Thực
tế, không thể phủ nhận rằng cán bộ Bảo Việt Hà Nội đã có nhiều cố gắng
trong việc hoàn thành các biên bản giám định khách quan, vô tư, trung thực
nhằm chi trả bồi thường đúng cho khách hàng.
44
Để phân tích tình hình bồi thường tại Bảo Việt Hà Nội đối với nghiệp vụ bảo
399
_
1999 1
10,20
10,20
505
2,0
2000 2
425,00
212,50
650
68,5
2001 2
76,44
38,22
Bảo Việt Hà Nội cũng đã vấp phải những vướng mắc trong công tác bồi
thường. Ví dụ như với vụ bồi thường cho Hà Nội Club năm 2001, việc Bảo
Việt Hà Nội chỉ chấp nhận bồi thường phần mất lợi nhuận do gián đoạn kinh
doanh và phần chi phí gia tăng hợp lý sau khi đã trừ đi mức khấu trừ hai ngày,
và không chấp nhận bồi thường phần chi phí làm ngoài giờ của nhân viên
trong công ty nhằm mục đích rút ngắn thời gian gián đoạn kinh doanh đã gây
ra bất đồng lớn giữa khách hàng và công ty bảo hiểm. Về phần khách hàng,
họ nghĩ rằng họ hoàn toàn có quyền đòi công ty bảo hiểm bồi thường cho chi
phí họ bỏ ra để đưa công ty trở về hoạt động kinh doanh bình thường như
trước khi tổn thất xảy ra. Về phía công ty thì nhân viên không giải thích cho
khách hàng lý do vì sao lại từ chối bồi thường, do đó đã gây mối nghi ngờ cho
khách hàng. Xét cho cùng thì nguyên do chính của thực trạng này là do tính
46
phức tạp trong quá trình tính số tiền bồi thường. Trong khi tất cả các vụ bồi
thường đều cho các đối tác nước ngoài, những người đã quá quen thuộc và có
kiến thức sâu về loại hình bảo hiểm này, thì những người cán bộ bảo hiểm lại
cảm thấy bị động khi tiếp xúc với loại hình bảo hiểm mà chính họ đang triển
khai. Điều đáng nói là số cán bộ bảo hiểm biết lợi nhuận gộp là gì, tỉ lệ lợi
nhuận gộp là gì hay số tiền bồi thường trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
được tính trên cơ sở nào tại Bảo Việt Hà Nội không nhiều, vì vậy khi gặp
trường hợp phải bồi thường, tất cả trông chờ vào số ít người am hiểu nghiệp
vụ làm cho công tác bồi thường bị chậm lại, tạo sự bực tức cho khách hàng.
Hơn nữa, khi tiếp xúc với khách hàng là đối tác nước ngoài, hầu hết cán bộ
của Bảo Việt Hà Nội không đủ trình độ ngoại ngữ để giải thích với khách
hàng, mà những người phiên dịch thì không đủ kiến thức về bảo hiểm để
truyền đạt lại những gì cần truyền đạt, do vậy dẫn đến việc khách hàng hiểu
nhầm và mất lòng tin vào Bảo Việt Hà Nội.
2.3.4. Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh
Như chúng ta biết, kết quả kinh doanh được xác định bằng chênh lệch giữa
Chi dự phòng
nghiệp vụ
Chi quản lý Chi khác
Mức
chi
Tỷ lệ
%
Mức
chi
Tỷ lệ
%
Mức
chi
Tỷ lệ
%
Mức
chi
Tỷ lệ
%
Mức
chi
Tỷ lệ
%
Mức
chi
Tỉ lệ
%
1998
155,5
29,2
21,21
10,2
50,2
24,2
50,0
24,1
15,09
7,4
2000
684,9
425,0
62,1
78,00
11,4
8,7
87,9
21,4
87,8
21,3
33,60
8,2
48
Thông qua bảng trên ta có thể thấy rằng :
Trong tổng chi thì khoản chi hoa hồng ở hầu hết các năm đều chiếm tỷ trọng
chủ yếu. Riêng năm 2000, có một số vụ cháy lớn diễn ra trên địa bàn Hà Nội
dẫn tới thiệt hại kinh doanh cho người tham gia bảo hiểm, do đó đã khiến cho
số tiền bồi thường tăng lên rất cao chiếm tới 62,1%, đưa số chi hoa hồng
xuống hàng thứ hai so với tổng các khoản chi trong năm. Chi hoa hồng chiếm
tỉ trọng cao như vậy chứng tỏ công ty rất quan tâm tới quyền lợi của đội ngũ
cộng tác viên, đại lý, người trực tiếp khai thác nhằm tăng số hợp đồng được kí
kết. Số chi hoa hồng tăng đều đặn hàng năm, đồng thời như kết quả khai thác
chúng ta đã phân tích ở trên cho thấy số hợp đồng khai thác được hàng năm
cũng tăng lên tương ứng, điều đó cho thấy việc tăng khoản chi hoa hồng là
hợp lý so với tốc độ tăng doanh thu. Tuy vậy, trên thực tế triển khai nghiệp vụ
cháy tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 - 2000. Năm
Doanh
thu phí
(tr.đ)
Tổng
chi
(tr.đ)
Lợi
nhuận
(tr.đ)
Doanh
thu/ chi
phí
(tr.đ/tr.đ)
Lợi
nhuận/
doanh
thu
(tr.đ/tr.đ)
Lợi
nhuận/
chi phí
(tr.đ/tr.đ)
(1) (2) (3) (4) = (2)
- (3)