Trường Đại Học Quốc Gia
Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn TP.HCM
Đường Lối Cách Mạng Của Đảng
Cộng Sản Việt Nam
Đề tài:Sáu Quan Điểm Đẩy Mạnh Công Nghiệp Hóa Và
Hiện Đại Hóa Đất Nước Của ĐHĐBTQ Lần thứ
VIII(6/1996)Đề Ra
GVHD:Đặng Thị Minh Phượng
1
Đề tài:Sáu Quan Điểm Đẩy Mạnh Công Nghiệp
Hóa Và Hiện Đại Hóa Đất Nước Của ĐHĐBTQ
Lần thứ VIII(6/1996)Đề Ra
Đường lối CNH được hinh thành từ đại hội 3 của Đảng(9-1960))đến
đại hội 6 của Đảng(12-1986)cùng với các hội nghị trung ương thì vấn đề
CNH bắt đầu được hình thành trên điều kiện cụ thể ủa đất nước trong mỗi
thời kì.Trước thời kì đổi mới nước ta có khoảng 25 năm tiến hành CNH qua
hai giai đoạn :từ năm 1960 đến năm 1975 triển khai ở miền bắc và từ năm
1975 đến năm 1985 được triển khai trên phạm vi cả nước.
Mục tiêu cơ bản của CNH XHCN được đạ I hội IV xác định là xây
dựng một nền kinh tế XHCN cân đói và hiện đại.bước đầu xây dựng cơ sở
vật chất và kỷ thuật của CNXH.đó là mục tiên cơ bản,lâu dài phải thực hiện
qua các giai đoạn.
_sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới về công nghiêp,Đảng và Nhà
Nước đã có những kết quả khả quan: “năm 1965 tăng 52 lần so với năm
1955,công nghiệp XHCN chiếm 93,1 %.tổng gía trị sản lượng công nghiệp
tăng từ 1248 triệu USD(1960)lên 2365 triệu (1965).nhịp độ tăng trưởng bình
quân 13,6%
_từ đại hội 6-1986 đến đại hội 8-1996 đường lối CNH đã có những thay đổi
dựa trên quá trình đổi mới tư duy về CNH,đồng thời khắc phục những sai
lầm và hạn chế sau hơn 20 năm phát triển và đổi mới.Đảng ta đã xác định
nhiệm vụ quan trọng trong thời kì đầu của thồi kì quá độ,là chuẩn bị tiền đề
chốt còn nhỏ bé chưa xây dựng đồng bộ vì vậy không thể làm nền tảng cho
nển kinh tế quốc dân.
+ Lực lượng sản xuất kể cả công nghiệp và nông nghiệp chưa đáp ứng
được yêu cầu.
+ Đời sống của nhân dân mặc dầu đã được cải thiện nhưng vẫn trong
tình trạng nghèo nàn lạc hậu yếu kém nhất.
+ Kinh tế - xã hội: dễ rơi vào khủng hoảng.
*Về mặt chủ quan:
+ Đảng và nhà nươcx ta còn mắc những sai lầm nghiêm trọng trong
việc xác định mục tiêu bước đi về cơ sở vật chất – kỹ thuật, bố trí cơ cấu sản
xuất, cơ cấu đầu tư chưa hợp lí.
- Dưa trên những mục tiêu, phương pháp, nhiệm vụ, kết quả và cả những hạn
chế mà Đảng và nhà nước ta mắc phải. Đảng ta đã đề ra phương pháp nhiệm
vụ mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996-2000 trong
đó nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo CNH-HĐH.
1. Nhiệm vụ tổng quát:
Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ
phát triển mới – đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhiệm
vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua
thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp
3
tục nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đạt và vượt
mục tiêu được đề ra trong chiến lược ổn đinh và phát triển kinh tế - xã hội
đến năm 2000: tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vứng đi đối
với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh, quốc
phòng, cải thiện đời sống của nhân dân nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh
tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau.
Nhiệm vụ tổng quát nêu trên đòi hỏi việc xây dựng và thực hiện kế
hoạch 5 năm 1996-2000 phải thấu suốt tư tưởng chỉ đạo dưới đây:
hóa, hiện đại hóa. Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm , ngư nghiệp bình
quân hằng năm 4,5-5%.
Phát triển các ngành công nghiệp, chú trọng trước hết công nghiệp
chế biến, công nghiệp hàng tiêu dung và hang sản xuất; xây dựng; xây dựng
có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng về dầu khí, than, xi măng, cơ
khí, điện tử, thép, phân bón, hóa chất, một số cơ sở công nghiệp quốc phòng.
Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hằng năm 14-15%.
Cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng,
trước hết ở những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sự phát triển.
Phát triển các ngành dịch vụ, tập trung vào các lĩnh vực vận tải, thông
tin lien lạc, thương mại, du lịch, các dịch vụ tài chính, ngân hang, công
hàng, công nghệ, pháp lý… Tốc độ tăng giá trị dịch vụ bình quân hằng năm
12-13%.
Tăng nhanh đầu tư phát triển toàn xã hội. Chú trọng tăng cả tích lũy
và đầu tư trong nước thông qua ngân sách, cũng như của doanh nghiệp và
nhân dân. Giải quyết tốt quan hệ tích lũy – tiêu dung theo hướng cần kiệm
để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, không tiêu dung quá khả năng nền kinh tế
cho phép; tăng năng suất và hiệu quả để vừa cải thiện được đời sống, vừa có
tích lũy ngày càng nhiều cho đầu tư phát triển. Chống thất thoát, lãng phí,
tham nhũng. Huy động tối đa mọi nguồn lực trong nước, đồng thời thu hút
mạnh các nguồn vốn bên ngoài để đưa tỉ lệ đầu tư phát triển toàn xã hội năm
2000 lên khoảng 30% GDP.
Khai thác của cả nước, của mỗi vùng, mỗi ngành tạo ra sự phát triển
hài hòa giữa các vùng lãnh thổ. Tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh
vực, các địa bàn trọng điểm có điều kiện sớm đưa lại hiệu quả cao. Đồng
thời dành nguồn vốn để giải quyết những nhu cầu bức xúc của các vùng
khác, nhất là phát triển kết cấu hạ tầng và hỗ trợ vốn tín dụng, tạo điều kiện
để các vùng còn kém phát triển, các vùng nông thôn, miền núi có thể phát
triển nhanh hơn, khắc phục dần tình trạng chênh lệch quá lớn về trình độ
phát triển kinh tế xã hội giữa các vùng.
hóa với tốc độ tăng trưởng cao, bền vững và có hiệu quả; ổn định vững chắc
kinh tế vĩ mô; chuẩn bị tiền đề cho bước phát triển cao hơn sau năm 2000,
chủ yếu phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng
hoàn thiện thể chế.
Hai là: tiếp tục thực hiện nhất quán lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành
phần, phát huy mọi nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời
hoàn thiện cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Ba là: kết hợp hài hòa tăng triển kinh tế với phát triển xã hội, tặp trung giải
quyết vấn đề bức xúc, nhắm tạo được chuyển biến rõ về thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội.
Bốn là: kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả
sử dụng các nguồn lực vừa phục vụ sự phát triển kinh tế vừa phục vụ an ninh
quốc phòng.
Năm là: kết hợp phát triển các vùng kinh tế trọng điểm với các vùng khác,
tạo điều kiện cho các vùng, tránh chênh lệch quá xa về nhịp độ tăng trưởng
giữa các vùng.
<Văn kiện đại hội VIII của Đảng - NXBCTQG>
6