Tiểu luận
Phân tích kinh tế Ấn Độ
LỜI MỞ ĐẦU
Để có thể trả lời cho những câu hỏi trên, chúng em xin đi vào phân tích kinh tế Ấn
Độ qua 4 chương:
Chương I : Sơ lược về Ấn Độ. Ở chương này chúng em sẽ đưa ra cái nhìn khái quát
chung về tình hình văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị của Ấn Độ hiện nay
Chương II : Lịch sử kinh tế Ấn Độ. Với chương này, chúng em sẽ đi phân tích tình hình
kinh tế Ấn Độ qua các thời kỳ mà chủ yếu là thời kỳ thuộc địa và sau thuộc địa
Chương III : Đánh giá sự phát triển kinh tế Ấn Độ. Chương III này chúng em sẽ đưa ra
những đánh giá của mình về sự phát triển kinh tế của Ấn Độ và so sánh với một số quốc
gia khác trong những năm qua đặc biệt là so sánh kinh tế Ấn Độ với Trung
Quốc.Độ.Đồng thời, chúng em tìm ra những nguyên nhân chính Trung Quốc lại vượt
trước Ấn Độ cũng như dự báo xem liệu tương lai Ấn Độ có bắt kịp và vượt qua Trung
Quốc không?
Chúng em xin chân thành cảm ơn TS Phan Thị Nhiệm đã tạo điều kiện và nhiệt tình
hướng dẫn chúng em hoành thành bài viết này.
Do khả năng còn có hạn nên bài viết vẫn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự
đóng góp và bổ sung của các thầy cô và bạn đọc để bài viết của chúng em được hoàn thiện
hơn.
Ngày Quốc khánh của Ấn Độ là 26/1/1950.
8.Tôn giáo :
Ấn Độ không có quốc đạo. Có sáu tôn giáo chính : trên 80% dân số theo Ấn Độ giáo,
13% theo Hồi giáo, 2% theo Thiên chúa giáo, 2% theo Đạo Sikh, khoảng 1% theo đạo Thiền
( Jainism ) và 0,75% theo Phật giáo. Chính sự đa tôn giáo này khiến nhiều cuộc xung đột sắc
tộc đã và vẫn đang xảy ra ở Ấn Độ làm tình hình chính trị không thể ổn định.
9.Ngôn ngữ :
Có mười chín thứ tiếng được Hiến pháp công nhận là ngôn ngữ chính. Tiếng Hindi là
ngôn ngữ chính thức làm việc của Nhà Nước liên bang và được gần 40% dân số sử dụng.
Tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp, được sử dụng rộng rãi.
10.Đơn vị tiền tệ :
Đơn vị tiền tệ của Ấn Độ là Rupi. 1 INR = 100 paise. 36 Rupi = 1 USD
II.Thể chế chính trị :
Nhà nước Ấn Độ được tổ chức theo hình thức liên bang và theo chế độ dân chủ đại
nghị.Hiện nay, Ấn Độ có 28 bang và 7 lãnh thổ trực thuộc trung ương.
Quốc hội liên bang gồm 2 viện : Thượng viện ( Raiya Sabba ) và Hạ viện ( Lok Sahba ).
Chính phủ Liên bang gồm có : Tổng thống, Phó Tổng thống và Hội đồng Bộ trưởng, đứng
đầu là Thủ tướng.
1.Lãnh đạo hiện nay ( 2007 ) :
Tổng thống : A.P.G Ap – đun Ca – lam ( APJ Abdul Kalam ) , từ 2/2002 ( hết nhiệm
kỳ vào 7/2007).
Thủ tướng ( từ 5/2004) : Man – mô – han Xinh ( Manmohan Singh ).
Chủ tịch Quốc hội : S.Chat – tơ – di ( S.Chatteriee ) từ 6/2004.
Đứng đầu Hội đồng Bộ trưởng là Thủ hiến bang ( Chief Minister ).Thống đốc do
Tổng thống chỉ định, nhiệm kỳ 5 năm. Thủ hiến do Thống đốc bổ nhiệm.
2.Các Đảng chính trị ở Ấn Độ:
Ấn Độ có rất nhiều đảng phái chính trị, trong đó có một số đảng chủ yếu là:
2.1.Đảng Quốc Đại
Đảng Quốc đại thành lập năm 1885, có khoảng 25 triệu đảng viên chính thức. Đảng
III.Đặc điểm về kinh tế – xã hội:
1.Về kinh tế :
Nền kinh tế Ấn Độ lớn thứ ba thế giới nếu tính theo sức mua tương đương ( PPP ) ;
đứng thứ 10 trên thế giới nếu tính theo tỷ giá hối đoái với USD( Tổng sản phẩm quốc nội –
GDP đạt 1 nghìn tỷ USD năm 2007 ). Ấn Độ là nền kinh tế lớn, tăng trưởng nhanh thứ hai
trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng GDP lên tới 9,4% trong năm tài chính 2006 – 2007. Tuy
nhiên, dân số khổng lồ đã làm cho GDP bình quân đầu người chỉ đạt mức 4031 USD tính theo PPP hay 885 USD tính theo GDP danh nghĩa ( ước năm 2007 ). Ngân hàng thế giới WB
xếp Ấn Độ vào nhóm các nền kinh tế có thu nhập thấp ( năm 2000 ).
Nền kinh tế Ấn Độ đa dạng và bao gồm các ngành và lĩnh vực : nông nghiệp, thủ công
nghiệp, dệt, chế tạo và nhiều ngành dịch vụ. Dù 2/3 lực lượng lao động Ấn Độ vẫn trực tiếp
hay gián tiếp sống bằng nghề nông nhưng dịch vụ là một lĩnh vực đang tăng trưởng và hiện
đang đóng góp vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Ấn Độ. Sự tiến tới một thời
đại kỹ thuật số và một số lượng lớn dân số trẻ và có học, thông thạo tiếng Anh đang dần
chuyển Ấn Độ thành một điểm đến quan trọng của các dịch vụ điều hành kinh doanh (
backoffice ) của các công ty toàn cầu khi họ tiến hành outsourcing ( đưa một phần hoặc toàn
bộ công việc sang cho các nước khác thực hiện ) các dịch vụ khách hàng hoặc hỗ trợ kỹ thuật
của họ. Ấn Độ là một nước xuất khẩu chính nhân công tay nghề cao trong lĩnh vực phần
mềm và các dịch vụ tài chính và công nghệ phần mềm. Các lĩnh vực khác nhau như chế tạo,
dược phẩm, công nghệ sinh học, công nghệ nano, viễn thông, đóng tàu và hàng không đang
thể hiện tiềm năng mạnh và đang đạt mức tăng trưởng ngày càng cao hơn.
Ấn Độ đã từng áp dụng một phương pháp kinh tế xã hội chủ nghĩa trong gần suốt lịch
sử độc lập của mình. Chính phủ đã kiểm soát chặt chẽ sự tham gia của khu vực tư nhân,
ngoại thương và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, kể từ đầu thập niên 1990, Ấn Độ đã
dần mở cửa thị trưởng của mình thông qua các cuộc cải cách kinh tế theo hướng giảm kiểm
soát của chính phủ đối với thương mại và đầu tư.Việc tư nhân hóa các ngành thuộc sở hữu
công và việc mở cửa một số ngành nhất định cho nước ngoài và tư nhân tham gia diễn ra
chậm chạp và gắn liền với những tranh cãi chính trị.
kỳ tiền thuộc địa kéo dài đến thế kỷ 17. Thời kỳ thuộc địa của Anh bắt đầu từ thế kỷ 17, kết
thức bằng mốc Ấn Độ giành được độc lập từ Anh quốc năm 1974. Thời kỳ thứ 3 kéo dài từ
năm 1947 cho đến nay
Do thời gian có hạn,chúng em xin đi lướt qua thời kỳ tiền thuộc địa mà đi sâu vào
phân tích thời kỳ thuộc địa và thời kỳ hậu thuộc địa đến nay.
I.Thời kỳ thuộc địa ( 1857-1950 ):
Ấn Độ có trên 5000 năm lịch sử, là một trong những cái nôi văn minh của loài
người. Triều đại Ashoka (273-323 sau công nguyên) là thời kỳ hưng thịnh nhất của lịch sử
cổ đại Ấn Độ, lãnh thổ Ấn được mở rộng gần như ngày nay. Từ cuối thế kỷ 15, người Châu
Âu bắt đầu đặt chân lên Ấn Độ. Đầu tiên là Bồ Đào Nha, đặt trung tâm thương mại của mình
tại Goa, tiếp đến là Hà Lan đặt một số cơ sở thương mại tại Ấn Độ, sau đó là tới Pháp và
Anh.Năm 1857, Ấn trở thành thuộc địa của Anh Mãi đến năm 1974, Ấn Độ mới giành lại
quyền tự trị cho mình.
1.Quá trình xâm lược của Anh ( từ 1500-1858)
1.1.Anh và chủ nghĩa trọng thương.
Chủ nghĩa trọng thương là 1 lý thuyết thương mại ra đời và phát triển từ năm 1500 đến
1800. Theo thuyết trọng thương, các nước nên xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu và nếu làm
thành công thì sẽ nhận được 1 khoảng thặng dư thương mại bằng vàng từ nước khác hoặc
ngược lại các nước đó đã bị thâm hụt thương mại.Để có thể xuất nhiều hơn nhập,chính phủ
phải thao túng họat động thương mại của nước mình.Việc xâm lược các nước của Anh nhằm
phục vụ cho lý thuyết thương mại này.Đầu tiên, các nước thuộc địa sẽ cung cấp nhiều hàng
hóa mà chính quốc phải nhập từ nước ngoài nên sẽ đạt được thặng dư thương mại nhiều
hơn.Thứ 2,các nước thuộc địa lại phải nhập khẩu từ các nước chính quốc để bị thâm hụt
thương mại. Để đạt được mục đích này, các nước chính quốc đã không chỉ thao túng ngành
thương mại thụôc địa mà còn kìm hãm sự phát triển sản xuất của các nước thuộc địa.Vì vậy, các nước thuộc địa phải xuất khẩu những nguyên liệu thô ít giá trị và nhập khẩu những thành
phẩm giá trị cao.
Những đế quốc dựa trên chính sách thuyết trọng thương này là Bồ Đào Nha, Tây Ba
Đối với nghề thủ công,Anh bóc lột rất tàn nhẫn.Họ thông qua các thương quán của các
công ty Anh được bố trí khắp mọi nơi cũng như thông qua người mại bản Ấn Độ để cưỡng
bách hàng triệu người làm nghề thủ công tại Ấn Độ phải gia công những mặt hàng do họ đặt
làm trong khi đó họ lại trả tiền công cho những người này chỉ bằng nửa giá bán ngoài thị
trường,thậm chị không đủ để mua lại nguyên liệu.
Ngoài ra, công ty của Anh còn độc quyền muối,thuốc lá và nha phiến.Công ty cưỡng
bách nông dân trồng thuốc phiện và họ mua vào với giá thấp rồi đem buôn lậu vào Trung
Quốc để kiếm lời.Nguồn lợi từ nha phiến đã chiếm 1/7 tổng thu nhập của công ty Đông Ấn –
Anh.
Từ năm 1814 đến 1835, Anh đã dựa vào mức thuế quan thấp ( thuế đới với hàng dệt
may bằng bông vải là 3,5% ,hàng dệt bằng sợi len là 2%),nên từ chỗ trước khi chở sang Ấn
Độ các loại vải dệt bằng sợ bông chưa đầy 1 triệu Yard ( 0,0144m) đã tăng lên đến 41 triệu
Yard trở lên. Nước Ấn Độ từ xa xưa nổi tiếng trên Thế giới bằng sợi bông vải thế mà lúc
đó,đâu đâu cũng toàn hàng dệt bằng sợ bông vải của Anh.Do hàng hóa của Anh quá rẻ, khiến
các ngành thủ công tại Ấn Độ bị đánh 1 đòn có tính hủy diệt. Hàng triệu người làm nghề thủ
công bị phá sản, lâm vào cảnh tuyệt vọng.Dacca trước đay nổi tiếng về công nghịêp dệt sợi
mà nay đã trở nên tiêu điều. Từ năm 1827 đến 1837, dân số thành phố này từ 150000 người
giảm còn 130000 người. Riêng tổng đốc Anh là William Cavendish Bentick cũng phải thừa
nhận: “ tình trạng bi thảm chưa từng có trong lịch sủ thương nghiệp Ấn. Xương trắng của
những người công nhân dệt bông vải đã trải trắng cả một cánh đồng mênh mông”.
Về thuế ruộng đất,Anh đã đưa ra 2 chế độ thuế : thuế “ Zamindan cố định” ( tước bỏ
quyền thừa kế ruộng đất,không thừa nhận quyền sở hữu mảnh đất người dân canh tác và
buộc họ phải nôp thuế ruộng đất cho công ty với số lượng1/2 đến 1/3 sản lượng hàng năm
của họ) và chế độ thuế “ Zamindan không cố định”( 25-30 năm 1 lần định lại mức thu
thuế).Mác cho rằng 2 loại thuế đó có sức mâu thuẫn nội tại to lớn, đều không nhằm vào việc
bảo vệ cho người chiếm hữu và quản lý ruộng đất cũng không bảo vệ đông đảo tầng lớp
nông dân mà chỉ bảo vệ lợi ích cho chính phủ trong vịêc trưng thu thuế ruộng đất.Kết quả là
thu nhập thuế tăng vọt.Như niên khóa 1800-1801, tông thuế thu ruộng đất là 4,2 triệu bảng
mà tới niên khóa 1857-1858 thì đã tăng vọt lên 15,6 triệu bảng Anh chiếm trong mức thuế
kiểm soát chủ đạo. Sau thế chiến II, chỉ còn là vẤn đề thời gian cho Ấn Độ giành được độc
lập cho nước mình. Một chiến dịch đảo chính chính quyền Anh đã nổ ra mà người khởi tạo
đầu tiên là Mohandas Gandhi rồi lan ra các phong trào khác trong suốt những năm 1920, đã
đều được đưa ra để chống lại Anh vào cuối thế chiến II. Vào 1974, Anh đã buộc phải trao trả
quyền tự trị lại cho Ấn Độ.
Trong những năm đầu giành độc lập,do vấn đề tôn giáo,một cuộc nội chiến đã diễn ra ở
Ấn Độ. Cuối cùng đến năm 1950, Ấn Độ chia thành 2 nước : Hindu India ( Ấn Độ - Ấn độ
giáo ) - nước Ấn Độ bây giờ và Muslim Pakistan. ( Pakistan - Hồi giáo ) .Đây là điểm kết cuộc nội chiến 3 năm nhưng cũng là mở đầu cho cuộc chiến tranh giữa Ấn Độ và Pakistan
trong những năm tiếp theo.Điều này khiến chính trị Ấn Độ đã bất ổn; nay sẽ còn bất ổn hơn.
4.Những ảnh hưởng của đế quốc Anh :
Sự thống trị của Anh ở Ấn ĐỘ hơn 200 trăm năm không thể không ảnh hưởng tới Ấn
Độ.
Đầu tiên, hệ thống luật của Ấn là dựa trên cơ sở luật pháp Anh nói chung có từ thời
Nóc măng ở Anh năm 1066. Tiền đề của những nước có hệ thống pháp luật chung như ở Ân
là sẽ tạo sự ổn định cần thíêt cho mọi người dân hoạt động kinh doanh và giúp Nhà nước
định hướng được những kế hoạch tương lai.
Thứ 2,ngôn ngữ tiếng Anh được sử dụng rộng rãi ở Ấn.Ngày nay, tiếng Anh được coi
là tiếng phổ thông để giao tiếp ở Ấn.
Thứ 3, hệ thống giáo dục của Ấn Độ là theo khuôn khổ hệ thống giáo dục của Anh
thậm chí cả những trường học cộng đồng cao cấp cũng là theo mô hình của Eton và Harrow.
Do đó, có một lượng lớn sinh viên Ấn Độ du học ở đại học Anh và Mĩ.Cũng vì vậy, văn hóa
của Ấn có khuynh hướng Tây hóa.
Thứ 4, hệ thông chính trị của Ấn cũng là 1 sẩn phẩm của sự thống trị của Anh. Đó là
chế độ dân chủ với tự do tranh cử và những tham gia tích cực của các đảng chính trị lớn.
II.Thời kỳ tiền thuộc địa : (1947-nay):
Chính phủ Ấn Độ thành lập theo HIến pháp năm 1950 và đi theo khuynh hướng các
bang với quyền lực cụ thể được chia giữa chính phủ bang và chính phủ trung ương. Ấn Độ
gồm 24 bang với ngôn ngữ và văn hóa riêng.Hiến pháp Ấn Độ dựa trên hiến pháp Mỹ,Pháp
và Magna Carta Anh.Ý tưởng tự do, công bằng,tín ngưỡng được lấy từ hiến pháp Anh trong
khi tư tưởng về Nhà nước tôn giáo và Chính phủ cộng hòa liên bang lại được lấy từ hiến
pháp Mỹ. Cơ quan lập pháp Ấn Độ cũng như hệ thống ở Anh với thủ tướng đứng đầu Chính
Phủ và 1 bộ máy quyền lực cấp cao.Còn có 1 nghị viện đứng đầu là Tổng thống người mà
chỉ huy lưỡng viện. Ngoài ra còn có nội các chính phủ và Toàn Án tối cao - quan tòa cao
nhất ở Ấn
1.1.1.2.Bộ máy quyền lực cao cấp.( Hội đồng bộ trưởng)
Hội đồng bộ trưởng của chính phủ Ấn theo lụât pháp thì sẽ được nắm giữ bởi Tổng
thống ở New Delhi, thủ đô Ấn Độ và chính phủ các bang. Bộ máy cao cấp này có quyền
chấp thuận ngân sách cho cơ quan lập pháp hoặc có quyền tra xết những khoản ngân sách bộ
máy thấy phải xem xét lại.Tổng thống và thủ tướng các bang có thể triệu họp Hội đồng bộ
trưởng và chất vấn cơ quan này về các vấn đề quản lý của họ. Nhưng thực chất bộ máy
quyền lực cao cấp này không có thực quyền.Mà mọi quyền hành đều do thủ tướng Ấn Độ và Bộ trưởng bộ nội vụ của liêng bang cả nước nắm giữ.Thủ tướng có quyền lực cho đến khi
thủ tướng yêu cầu tổng thống bãi nhiễm nghị viện và một cuộc bầu cử mới được tổ chức.
1.1.1.3.Bộ máy quyền lực lập pháp
Quyền lực lập pháp ở chính quyền trung ương cũng như ở chính quyền các bang là
làm theo dạng cai trị của Anh.Nghị viện Ấn Độ bao gồm 2 nghị viện: thượng nghị viện và hạ
nghị viện ( rất giống với Anh : Anh cũng có thượng nghị viện - House of commons và hạ
nghị viện House of Lords). Hạ nghị viện , Lok Sabha ( House of People – Viện nhân dân )
bao gồm 520 thành viên và thượng nghị viện, the Rajya Sabha ( Council of State – Viện
Chính Phủ ) chỉ không hơn 250 nghị sĩ Thượng nghị viện không bao giờ quan trọng ngang
với hạ nghị viện vì mục đích lập pháp. Như House of lords của Anh , nó không bao giờ bị
1.1.2.1.Kế hoạch kinh tế ( Economic Planning)
Đối ngược với những gì người ta nghĩ,Ấn Độ không phải là một nước Cộng sản mặc
dù nó có mối liên hệ mật thiết với Liên Xô cũ. Ấn độ bản thân có thể tự goi là nước XHCN
dân chủ và nhấn mạnh vào sự bảo hộ của Nhà nước. Ấn có cả khu vực Nhà nước và khu vực
tư nhân. Nhiều ngành của Ấn độ là do Nhà nước sở hữu Ấn Độ dựa trên kế hoạch kinh tế-
xã hội quy mô lớn Kế hoạch kinh tế lại giống với lối trình bày của Pháp hơn lối kế hoạch
kinh tế mệnh lệnh của Xô-Viết, và như Pháp, Ấn Độ là 1 nước tư bản với 1 lượng lớn các
ngành do Nhà nước sở hữu.Việc kiểm soát 1 lượng ngành chính đã giúp nhà lập kế hoạch
kiểm soát được định hướng của mục tiêu kế hoạch.Kinh tế Ấn Độ dựa vào kế hoạch kinh tế 5
năm.Nhiệm vụ kế hoạch là làm sao đạt được mục tiêu đã đặt raVà như mô hình Xô-Viết, dựa
vào bảng đầu ra- đầu vào để xác định mục tiêu kế hoạch tới.
a.Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ( 1951-1956):
Từ năm 1951 đến năm 1956 , chính phủ Nehru đã thực hành kế hoạch năm năm lần
thứ nhất.Theo kế hoạch này, mục tiêu ưu tiên sẽ là tăng sản lượng nông nghịêp, phục hồi lại
hệ thống đường sắt và bắt đầu phát triển hệ thống tưới tiêu để tăng diện tích tưới tiêu và
thành nguồn cung cấp cho sản xuất điện.Chú ý tới việc tái sinh lại đời sống nông nghiệp của
người dân Ấn thông qua chương trình phát triển cộng đồng , đồng thời ban bố pháp lệnh xóa
bỏ những địa chủ “ trung gian “ và cải cách việc cho thuê mướn ruộng đất , thực hiện bước
đầu chính sách cải cách ruộng đất của Ấn Độ.Việc phát triển các ngành như ngành sản xuất
xi-măng,giấy, hóa chất và công nghịêp nhẹ đã được nhấn mạnh.Chính sách tiền tệ của Chính
phủ là tập trung vào bình ổn giá cả.Sự viện trợ tài chính cho sự phát triển của ngành nông
nghiệp và công nghịêp thời kỳ này đều đến từ khu vực tư nhân và Nhà nước Ấn độ và từ
viện trợ nước ngoài mà đa số được giúp đỡ từ phía Mỹ Kết quả cửa việc thực thi kế hoạch năm năm lần thứ nhất , nông nghiệp cửa Ấn Độ có
sự phát triển nhất định , vật giá bắt đầu ổn định theo .Tiền lương công nhân đã bằng với tiền
lương hồi năm 1939.Qua cải cách ruộng đất đã xóa bỏ được tầng lớp địa chủ “ trung gian”
giảm nhẹ được địa tô và giúp cho những người tá điền đảm bảo được việc đóng địa tô trong
1 kỳ hạn nhất định . việc cải cách ruộng đất mặc dù không triệt để , nhưng có lợi cho nhân tố
thứ 3 là tăng sản lượng các ngành công nghiệp như thép, nhôm,xi-măng và gang.Các mục
tiêu đó đều đạt được.Ví dụ, giống cây lương thực tăng từ 75 triệu tấn năm 1961 lên tới 105
triệu tẤn năm 1966 , và sản lượng sợi bông cũng tăng từ 5.4 triệu tấn kiên bông lên tới 7.2
triệu kiến bông vào 1966.Sắt đã tôi luỵên đã tăng từ 2,6 triệu tấn năm 1961 lên 6,9 triệu tấn
năm 1966.Trong khu vực phúc lợi xã hội, phải đạt được mục tiêu là đưa được dịch vụ chăm
sóc sức khỏe và lĩnh vực giáo dục vào các vùng nông thôn Ấn Độ.
Tuy kế hoạch thứ 3 này tập trung vào nông nghịêp và phát triển sản lượng gạo nhưng
cuộc chiến tranh giữa Sino - Ấn Độ bùng nổ vào năm 1962 đã bộc lộ những điểm yếu kém,
lạc hậu trong nông nghiệp và buộc phải chuyển từ việc tập trung phát triển nông nghiệp sang
mục tiêu duy trì được sản lượng nông nghiệp. Tháng 5 năm 1964, Nehru bị bệnh qua đời, Bộ
trưởng nội chính là Lal Bahadur Shastri lên thay thế chức vụ thủ tướng.Tháng 1 năm 1966 ,
Shastri bệnh chết đột ngột; con gái cửa Nehru là Indira Gandhi (1917 – 1984) lên kế nhiệm
chức vụ thủ tướng. Indira Gandhi tuyên bố bà sẽ kế tục phương châm chính sách của Nehru,
đồng thời bà đề xuất khẩu hiệu “xóa bỏ nghèo nàn , thực hiện công bằng xã hội “. Do nông
nghiệp lạc hậu, lương thực thiếu thốn nên vào mùa thu năm 1967 tại khu vực Nasaerbali nằm
về phía bắc cửa bang Tây Bengal bùng nổ một cuộc khỏi nghĩa nông dân và nhanh chóng lan
tràn đến các vùng nông thôn lân cận,hình thành một phong trào Nasaerbali có tính toàn quốc.
Trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1967 , đảng Quốc Đại mặc dù tiếp tục duy trì đa số trong
Viện nhân dân và tiếp tục chấp chính tại chính phủ trung ương, nhưng có 1 số nghị hội tại
tiểu bang, đảng Quốc Đại bị mất đi đa số, buộc phải trở thành đảng đối lập. Đứng trước tình
hình đó,chính phủ Indira Gandhi cùng 1 lúc với việc dùng vũ lực để trấn áp phong trào
Nasaerbali và đã điểu chỉnh chiến lược phát triển kinh tế. Nhằm khắc phục tình trạng khủng
hoảng lương thực, Chính phủ đã thực hành chiến lược mới về nông nghiệp: lấy “ cách mạng
xanh “ làm chủ yếu, đồng thời, dựa vào quy luật kinh tế thị trường, hấp thụ vốn đầu tư nước
ngoài và tiến hành hạn chế sinh đẻ một cách nghiêm túc để hạ thấp tăng trưởng dân số.Nhờ
đó, kinh tế Ấn Độ bước vào thời kỳ phát triển nông nghiệp trở lại và đẩy mạnh áp dụng luật
kinh tế thị trường ở các thành thị. “Cuộc cách mạng xanh “ đã phổ biến rộng việc chọn lựa
các cây giống cây cao sản và cải tiến kỹ thuật nông nghiệp ,nhờ đó đã giành được 1 số thành
quả nhất định tại Ấn Độ.Năm 1966 , Ấn Độ còn là 1 quốc gia phải nhập khẩu lúa tiểu mạch
cửa Mỹ để sống, nhưng đến cuối thập niên 70 thì lương thực cơ bản đã có thể tự cung tự
nhưng kết quả cuối cùng là 1 tỷ lệ tăng trưởng trung bình,thấp hơn rất nhiều so với mong
đợi( chỉ đạt trung bình khoảng 2% tăng trưởng mỗi năm mà có nhiều năm còn bị âm).Việc
thiếu hụt lương thực ở Ấn Độ cũng nằm ngoài dự liệu và sự lệ thuộc của Ấn Độ vào sự trợ
giúp nước ngoài đặc biệt trong việc cung cấp giống lương thực lại gia tăng. 1.1.3.Ấn Độ những năm 70:
1.1.3.1.Quốc hữu hóa ngành công nghịêp:
Ngọn sóng quốc hữu hóa diễn ra ở Ấn Độ sau cuộc bầu cử cả nước vào 1971.
Jawaharal Nehru, lãnh đạo đảng Quốc Đại của Ấn Độ, đã hình dung ra nền kinh tế CNXH
mà ông xây dựng sẽ có thể so sánh với xã hội dân chủ.ÔNg loại trừ chủ nghĩa tư bản cùng
với lý thuyết cơ sở về của cải tư nhân, lợi nhuận tư nhân và thu nhập bất công bằng. Ông
nhận thấy rằng mâu thuẫn giai cấp là bắt nguồn từ xã hội nhưng ông không đồng ý với quan
niệm chủ nghĩa Mác về việc sử dụng bạo lực để xóa bỏ chủ nghĩa tư bản.Thay vào đó, ông
muốn đạt đến sự quá độ thông qua những phương pháp dân chủ để có được 1 nền kinh tế hôn
hợp- 1 nền kinh tế mà kế hoạch kinh tế sẽ phân bổ nguồn lực.Khi Nehru và đảng Quốc Đại
trở thành người lãnh đạo và đảng chi phối ở Ấn, việc quốc hữu hóa các ngành công nghiệp
trở thành 1 phương tiện kiểm soát kinh tế Ấn Độ của Nhà nước.
Nhà nước đã quốc hữu hóa công ty bảo hiểm nhân thọ vào 1956 và những ngân hàng
thươmg mại chính.Vào 1971,Chính phủ đã quốc hữư hóa toàn bộ các công ty bảo hiểm
nhưng quan trọng nhất là đã quốc hữu hóa được ngành công nghiệp khai thác than.Vào tháng
9 năm 1971, hơn 200 mỏ than và lò luyện than cốc nằm dược quyền kiểm soát của Chính
Phủ.Đến 1972 thì các mỏ than đã bị quốc hữu hóa.Lý do chính cho sự quốc hữu hóa ngành
công nghiệp than là để lấy sản phầm đầu ra của ngành thanh cung cấp cho quá trình sản xuất
ngành sắt và thép-ngành mà đã được quốc hữu hóa cùng với ngành sản xuất đồng.Ngành sản
xuất vải bông – ngành sản xuất lớn và có từ lâu đời nhất đóng góp 1/5 thu nhập quốc dân
cũng đã được quốc hữu hóa. Kết quả là nhiều ngành công nghịêpphải trải qua những khó
khăn tài chính trong những năm 1960 và nhiều nhà xưởng đã phải đóng cửa và cuối thập
niên này.Trong nông nghịêp, ngành thương mại bán buôn lúa mì cũng đã được quốc hữu hóa
với mục tiêu xã hội hóa việc phân phối hạt giống
Thiét bị vận tải
Phân bón
Ngành khai khoáng
Chất đốt
Khoáng sắt
Khoáng kim loại và phi kim loại
Các ngành khác
Ngân hàng và bảo hiểm
Giao thông vận tải và thông tin liên lạc
Thương mại năng lượng
Làn sóng quốc hữu hóa diến ra trong suốt 1969-1973.Nói chung việc này đã ảnh
hưởng tiêu cực tới nền kinh tế Ấn.Lạm phát và thiếu lương thực liên miên khiến các ngành công nghịêp trong tình trạng phấp phỏng.Vịêc quốc hữu hóa đã ngăn cản quá trình sản xuất
kinh doanh và giới hạn sự hoạt động của khu vực tư nhân.Tầng lớp trung và giàu có phản đối
chính quyền vì đã quóc hữu hóa việc bán buôn lúa mì.Quân đội và cảnh sát Ấn độ đã phải
đàn áp rất nhiều cuộc bãi công của lao động trong khu vực Nhà nước.Thủ tướng Indira
Grandhi đã phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp vào tháng 6 năm1975.Nhằm nỗ lực xoa dịu các
nhóm người bất mãn ở Ấn ,bà tuyên bố rằng chính phủ không còn dự định sẽ tiếp tục chính
sách quốc hữu hóa của mình. Thế mà,chính phủ lại tiếp tục quốc hữu hóa ngành dàu khí
thông qua giành được công ty Esso and Shell vì vậy lại tiếp tục giành lấy quyền kiểm soát
5%,công nghiệp tăng trưởng 8%,nông nghiệp vẫn tiếp tục ở mức độ tốt.Niên khóa 1988-
1989, sản lượng lương thực đã đạt đến mức kỷ lục trong lịch sử là 170.160.000 tấn.Khoa học
kỹ thuật cũng có bước phát triển mới.Ấn Độ những năm này có đến 3 triệu nhân viên kỹ
thuật khoa học cao. Dù vậy,sự phát triển này luốn bị quấy rối từ mâu thuẫn nội bộ và những
hạn chế quá lớn từ vịêc cải cách xa hoa của ông.Trong quá trình điều tiết về mặt thị
trường,đã xuất hiện sự hỗn loạn về kinh tế ngày càng nhiều hơn,con số thâm hụt ngày càng
cao,lạm phát càng nhiều.Tuy vậy.không có sự thay đổi lắm và sự kiểm soát Chính phủ trong
nền kinh tế vẫn tiếp tục.Cùng lúc đó,sự công bố thay đổi về bản chất trong chiến lược phát
triển kinh tế của Trung Quốc mà bắt đầu vào năm 1978 và tiếp tục trong suốt những năm
1980.Chiến lược này bao gồm phát triển dựa vào các nhân tố thị trường và quyền tự do hơn
trong các hoạt động của lĩnh vực tư nhân.Thêm vào nữa, Ấn Độ đã không còn được sự viện
trợ của các nước phía Tây ngoại trừ Mĩ trong khi đó Trung Quốc lại giành được sự ủng hộ và
thu hút được những vốn đầu tư nước ngoài mà chính Ấn Độ cũng cần phải có cho sự phát
triển kinh tế.
Vậy tại sao kinh tế Ấn Độ lại phát triểm chậm chạp trong những năm 1950-1990?Sự
không hiệu quả và kém tăng trưởng là do 3 nguyên nhân chính
-Nguyên nhân thứ nhất: Ngành công nghịêp và thương mại hoàn toàn bị kiếm soát bởi hoạt
động quan liêu của Nhà nước nên đã hạn chế sự m ở cửa thị trường và sự cạnh tranh trong
nhập khẩu.ĐIều này cũng gây bất lợi cho khả năng mở rộng sản xuất không nằm trong biên
chế, đồi hỏi nhiều giấy phép cho mỗi hoạt độn sản xuất kinh doanh nên hần như kiểm soát
hết họat động đầu tư và sản xuất kinh doanh.
-Nguyên nhân thứ 2 : Khi các nước khác đang m ở rộng thương mại với nước ngòai thì chính
sách phát triển kinh tế Ấn Độ lại làm điều ngược lại.Chính sách đã không sử dụng cơ chế tủ
giá hối đoái để xúc tiến xuất khẩu và lại bảo hộ thị trường trong nước thông qua việc sử
dụng thuế xuất nhập khẩu cao và hạn ngạch nhập khẩu.Những quốc gia với cơ sở công
nghiệp nhỏ hơn nhiều so với Ấn lại xuất khẩu nhiều hơn các thành phẩm hơn và cuối cùng
đã vượt qua Ấn về sản lượng trong khu vực sản xuất.Tỷ phần đóng góp trong xuất khẩu thế
giới của Ấn Độ rơi từ 2,1% năm 1950 xuống còn 0,4 % vào năm 1980.
cách nền kinh tế xã hôi chủ nghĩa.P.V. Narasimha Rao (28/6/1921 – 23/12/2004) người còn
được gọi là cha đẻ của những cải cách nền kinh tế Ấn Độ là thủ tướng thứ 12 của nước cộng
hòa Ấn Độ và đứng đầu Quốc Hội, và lãnh đạo một trong những chính phủ quan trọng nhất trong lịch sử Ấn Độ hiện đại đã chứng kiến một cuộc chuyển đổi kinh tế trọng đại và một số
rắc rối ảnh hưởng tới an ninh quốc gia. Vào thời điểm đó Dr. Manmohan Singh (thủ tướng
hiện tại của Ấn Độ) khởi đầu cải cách tự do thương mại Ấn Độ nhờ đó đã cứu vãn quốc gia
gần như trên bờ vực phá sản . Đó là sự bắt đầu của tư nhân hóa và tự do hóa ở Ấn Độ.
2.Giai đọan 1990-2007: phục hồi và tăng trưởng thần kỳ
2.1.Giai đoạn 1990-2000: Những cải cách m ạnh bạo
Tình hình thế giới có những chuyển biến lớn trong những năm dầu 1990 để cho Ấn
Độ ngày càng kiệt sức.Hai sự thay đổi chính đã diễn ra với sự thay đổi lớn nhất là sự sụp đổ
của hệ thống XHCN. Liên Xô cũ-nước có mối liên hệ cả về kinh tễ lẫn chính trị chặt chẽ với
Ấn độ trong 30 năm đã sụp đổ.Hàng loạt nước trong đó cả Liêng bang Nga mới đã cầu cứu
sự viện trợ của rất nhiều quốc gia để có nguồn lực cho sự chuyển đổi về nền kinh tế thị
trường Rất nhiều sự vay mượn đưa ra cho những quỹ tiền giới hạn .Sự thay đổi thứ 2 là sự
tụt dốc thảm hại của sự tín cậy của thế giời đối với Ấn Độ.Sự vay mượn nguồn tư nhân và
Nhà nước sẽ vô ích nếu thiếu sự nỗ lực trong cải cách kinh tế Ấn ĐỘ.Cải cách thuế cùng với
sự nới lỏng hạn định về ngoại thương là cần thiết.
Vào năm 1991, Narashimha Rao lãnh đạo Đảng Quốc đại đang chiếm thiểu số và Bộ
trưởng Tài chính Mamohan Signh đã tiến hành tự do hóa các hoạt động kinh tế khỏi những
kìm hãm từ thập niên 70.Động lực của những cải cách này chính là cuộc khủng hoảng khi
mà Ấn Độ đã tiêu hết những khoản vay nước ngoài từ những năm 1980, dư nợ lên đến 21%
trong tổng số thu tài khoản hiện tại và tiền lãi phải trả bằng 20% chi tiêu chính phủ.
Tuy
nhiên, chính phủ Rao đã ban hành các quy định giúp giải quyết các nguồn tài khóa hạn hẹp
của cuộc khủng hoảng; cắt giảm số lượng các ngành công nghiệp vốn là đặc quyền sản xuát