Luận văn: Pháp luật về kiểm soát suy thoái nguồn thuỷ sinh - Pdf 20

Luận văn
Pháp luật về kiểm
soát suy thoái nguồn
thuỷ sinh
1
NỘI DUNG
PHẦN I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Khái niệm chung về thuỷ sinh.
Theo Đại từ điển tiếng Việt, thuỷ sinh là những loài " sống ở dưới
nước, mọc ở trong nước". Thuỷ sinh bao gồm động vật thuỷ sinh và thực
vật thuỷ sinh.
Nguồn thuỷ sinh là một khái niệm khá rộng, nó bao gồm toàn bộ các
loài động và thực vật sống ở trong nước. Môi trường sống của nguồn thuỷ
sinh bao gồm vùng nước, mặt đất ngập nước và cả phần đất mà các loài
thuỷ sản sinh sống.
Hiện nay, nguồn thuỷ sinh đang ở trong một tình trạng suy thoái trầm
trọng. Và để hiểu thế nào là suy thoái nguồn thuỷ sinh, thì trước hết ta phải
hiểu là suy thoái là gì?
Suy thoái là “ở trong tình trạng yếu và sút kém dần có tính chất kéo
dài”. Như vậy nguồn thuỷ sinh có thể sẽ lâm vào tình trạng suy thoái khi
chúng bị giảm về chất lượng và cạn kiệt về số lượng trong khoảng thời gian
nhất định .”
2. Những nguyên nhân gây suy thoái nguồn thủy sinh.
2.1. Những ảnh hưởng từ tự nhiên đối với nguồn thuỷ sinh.
Môi trường sống của nguồn thuỷ sinh bao gồm vùng nước, mặt đất
ngập nước và cả phần đất mà các loài thuỷ sinh sinh sống. Do đó, nguồn
thuỷ sinh tồn tại có chất lượng hay không trước tiên phải phụ thuộc vào
môi trường sống của chúng.
Một số thành phần môi trường chi phối trực tiếp số lượng và chất
lượng của các loài thuỷ sinh như: nước, đất, không khí, rừng, các yếu tố tự
nhiên thuộc về thời tiết như nhiệt độ, gió, mưa…Trong quá trình vận động

bằng nếu không có sự tác động mạnh mẽ từ con người. Điều mà biện pháp
pháp luật nói riêng và các biện pháp khác nói chung được thực hiện chính
là nhằm hạn chế các tác động tiêu cực từ con người.
2.2. Những ảnh hưởng từ hoạt động của con người tới nguồn thuỷ sinh.
Như trên đã trình bày, sự suy thoái về môi trường tự nhiên cũng gây
nên những tác động không nhỏ tới sự suy thoái của nguồn thuỷ sinh. Tuy
nhiên, thủ phạm chính tạo ra những tác động nghiêm trọng cho sự suy thoái
thuỷ sinh lại chính là con người.
3
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, con người có
điều kiện để cải tiến công cụ sản xuất, thúc đẩy phát triển các hoạt động
công nghiệp cũng như nông nghiệp, và song song đó là quá trình đô thị
hoá, giao thông vận tải đường thuỷ…cũng làm nên sự ô nhiễm nặng nề cho
nguồn thuỷ sinh.
Ví dụ như, với hàng chục nghìn lượt tàu thuyền ra vào cảng Hải
Phòng và phương tiện thủy nội địa hoạt động gia tăng trong khu vực, mỗi
năm, chúng đã thải ra sông, biển hàng nghìn tấn chất thải sinh hoạt, nhiên
liệu, cặn dầu, nước rửa tàu lẫn chất thải rắn, mạt kim loại, sơn và các chất
tẩy rửa trong quá trình hoạt động.
Bên cạnh đó, chính sự khai thác, đánh bắt, con người cũng góp phần
đáng kể vào quá trình suy thoái nguồn thuỷ sinh, như việc khai thác không
đúng phương pháp, không đúng kỹ thuật, hoặc dùng những phương tiện,
công cụ mang tính huỷ diệt hàng loạt…
Từ 10 năm trở lại nay, tốc độ tàu thuyền khai thác thủy sản tăng nhanh
đáng kể, cùng theo đó là hiện tượng khai thác bằng các ngư cụ phạm pháp:
mắt lưới quá nhỏ, mìn, điện, chất hóa học, đều gây nên tác động xấu tới
nguồn lợi hải sản và môi trường biển. Kết quả của nhiều cuộc điều tra cho
thấy tới hơn 50% số ngư dân được phỏng vấn đều cho rằng sản lượng khai
thác có xu hướng giảm, khuynh hướng này chắc chắn đe dọa tính bền vững
của nguồn lợi hải sản.

sinh đắp đê lấn biển, ngăn mặn, đắp đê ngăn lũ làm phân cách mạng lưới
các hệ sinh thái ở nước, các quần xã sinh vật không được trao đổi và bổ
sung cho nhau. Cùng với đó việc con người đắp đập chắn ngang sông xây
dựng các hồ chứa nước cũng làm thay đổi chất lượng nước, phân tách nhiệt
độ…dẫn tới là thay đổi sinh thái quần thể động thực vật ở vùng nước đó
làm mất đi một số loài sống ở vùng nước chảy, nước tĩnh và nước nông.
Thành phần của các loài thuỷ sinh tại các hồ chứa đều giảm rất nhiều so với
các sông hình thành ra nó. Ở thượng lưu hồ, nước bị ngập ứ, úng ở đoạn
5
sông phía trên hồ chứa làm giảm khả năng tự làm sạch của nguồn nước, tốc
độ dòng chảy bị chậm lại làm thay đổi cuộc sống của thuỷ sinh vật, các loài
cá nước chảy phải nhường chỗ cho các loài cá nước tĩnh do không thể thích
nghi, dẫn đến sự tuyệt chủng của một số giống loài quý. Ở hạ lưu đập việc
chắn dòng chảy làm nhiều loài thuỷ sinh không thể di chuyển đến vùng cao
hơn, sản lượng cũng bị giảm. Lượng phù sa, lượng muối dinh dưỡng, hàm
lượng hữu cơ, sinh vật phù du ở các vùng hạ lưu cũng suy giảm nghiêm
trọng.
3. Thực trạng suy thoái thuỷ sinh
3.1. Trên thế giới
Một hệ sinh thái bền vững là một hệ sinh thái mang đến cho nguồn
thuỷ sinh môi trường sống an toàn. Ở những nơi đó, các loại tảo và san hô
phát triển mạnh, cung cấp thức ăn và nơi trú ẩn cho động vật biển. Nhưng
số lượng hệ sinh thái như vậy ngày càng ít đi. Kể từ năm 1950, 29% loại cá
mà con người có thể đánh bắt gần như đã tuyệt chủng (một loài được coi là
tuyệt chủng khi ít nhất 90% số lượng cá thể trong loài đã biến mất), và điều
đáng báo động là tốc độ biến mất của các loài thuỷ sinh ngày càng tăng.
Theo kết quả phân tích, nếu tốc độ này giữ nguyên thì những loài sinh vật
biển mà con người có thể đánh bắt hiện nay sẽ biến mất vĩnh viễn vào năm
2048.
Bên cạnh đó, theo tờ Mongabay.com, thì một phần ba số loài san hô

Theo điều tra gần đây cho thấy rằng kích thước cá đánh bắt được đã
giảm rõ rệt và số lượng cá to cũng không còn nhiều.
Ví dụ như: Trên sông Hồng, bốn loài cá: lăng chấm, cá chiên, cá bỗng
và cá anh vũ đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Sản lượng khai thác 4 loài cá
giảm xuống bằng 10-15% sản lượng những năm 70, 80; thậm chí lượng cá
bỗng chỉ xấp xỉ bằng 1%.
7
Ảnh 1 - Cá anh vũ - một trong 4 loài cá quý hiếm trên sông Hồng
(nguồn fishternet.vn)

Thông tin này vừa được công bố trong Bản điều tra nghiên cứu về
hiện trạng và biện pháp bảo vệ, phục hồi một số loài cá hoang dã quí hiếm
có nguy cơ tuyệt chủng trên hệ thống sông Hồng của nhóm tác giả Phạm
Báu, Nguyễn Ðức Tuân, Bùi Ðình Ðặng, Nguyễn Công Thắng (Viện
Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I).
Theo đó, 4 loại cá quý hiếm có tên khoa học là: Cá lăng chấm
(Hemibagrus gutattus Lacépède, 1803), cá chiên (Bagarius yarrelli Sykes,
1839), cá bỗng (Spinibarbus denticulatus Oshima, 1926) và cá anh vũ
(Semilabeo obscous Lin, 1981). Tuy nhiên, sản lượng những loài cá được
coi là đặc sản hàng đầu của hệ thống sông Hồng này đang có nguy cơ tuyệt
chủng, xếp ở mức nguy cấp bậc 2.
Báo cáo cho thấy, sự phân bố của 4 loài cá này trên hệ thống sông
Hồng đang ngày càng thu hẹp, nhìn chung có xu hướng lùi dần về phía
thượng lưu các sông, suối, nơi có địa hình hiểm trở, phía hạ lưu không gặp
hoặc rất ít gặp. Bãi đẻ của 4 loài này hầu như không còn, cá đẻ phân tán, rải
rác trên khu vực thượng nguồn các sông, suối.
Nói đến suy thoái thủy sinh không thể không nói tới sự suy thoái
nguồn thực vật biển mà cụ thể là sự suy thoái các rạn san hô.
Sự suy thoái của các rạn san hô biểu hiện ở việc giảm sút về các rạn
san hô.Một điêu tra san hô gần đây cho thấy 200 điểm rạn san hô được

hải sản quý trên vùng biển địa phương hiện đang bị khai thác đến mức kiệt
quệ; trong đó có nhiều loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, như: rùa biển,
hải sâm, cầu gai sọ dừa, cá ngựa, sò huyết
Loài hải sâm trắng ở đầm Thủy Triều (huyện Cam Lâm), trước năm
1987 có sản lượng hàng năm từ 150- 200 tấn, nhưng hiện nay còn lại rất ít.
Các loài hải sâm đen, hải sâm mít, hải sâm dừa, hải sâm vú là các đối
tượng kinh tế quan trọng, có giá trị thương mại cao ở vịnh Nha Trang, hiện
cũng nằm trong hoàn cảnh tương tự.
10
Loài cầu gai sọ dừa ở vịnh Nha Trang tập trung nhiều ở Rạn Chắn và
Rạn Cạn, đã bị khai thác ồ ạt với sản lượng thành phẩm có năm lên đến
hàng chục tấn, đến nay đã cạn kiệt
Vùng biển Khánh Hòa có tổng trữ lượng hải sản khoảng 150.000 tấn,
cho phép khai thác ở mức 70.000 tấn/năm. Trên thực tế sản lượng khai thác
được từ 60.000 tấn- 68.000 tấn/ năm, nhưng các loài hải sản quý hiếm với
giá trị kinh tế cao luôn là đối tượng bị săn lùng, đánh bắt triệt để.
Trong nghị định số 82/2008 QĐ-BNN ngày 17/7/2008 ra quyết định
có 158 loài sinh vật thuỷ sinh có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam.
Nguồn lợi gần bờ cũng sẽ chậm phục hồi do các nơi sinh cư tự nhiên
quan trọng ở đây như các rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn…bị
phá huỷ nghiêm trọng do các hoạt động phát triển ở vùng ven biển và lưu
vực sông (tốc độ mất rừng ngập mặn do các hoạt động sản xuất trong giai
đoạn 1995-2005 ước khoảng 15.000 ha/năm). Điều này dẫn đến không gian
sống của các loài thủy sinh ngày càng khan hiếm, tính đa dạng sinh học
ngày càng mất đi, tính bất ổn định của hệ sinh thái ngày càng tăng cao.
Hiện nay nguồn lợi thủy sản vùng gần bờ có xu hướng giảm dần về trữ
lượng, sản lượng và kích thước các loài thủy sản đánh bắt. Một số loài cá
kinh tế thông thường vẫn đánh bắt với số lượng lớn, đến nay đã trở nên
khan hiếm. Mùa vụ và khu vực hải sản tập trung có những thay đổi đáng
kể. Sự phân biệt mùa vụ ( vụ Bắc, vụ Nam ) xuất hiện không còn rõ như

Ngoài ra trong nghị định 182/2008 QĐ-BNN ngày 17/7/2008 ra quyết
định có 158 loài sinh vật thuỷ sinh có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam.
Nguồn lợi gần bờ cũng sẽ chậm phục hồi do các nơi sinh cư tự nhiên
quan trọng ở đây như các rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn…bị
phá huỷ nghiêm trọng do các hoạt động phát triển ở vùng ven biển và lưu
vực sông ( tốc độ mất rừng ngập mặn do các hoạt động sản xuất trong giai
đoạn 1985-2000 ước khoảng 15.000 ha/năm ). Điều này dẫn đến không
gian sống của các loài thủy sinh ngày càng khan hiếm, tính đa dạng sinh
12
học ngày càng mất đi, tính bất ổn định của các hệ sinh thái ngày càng tăng
cao.
Trong đất liền thì các loài thủy sinh cũng bị đe dọa nghiêm trọng bởi
hành động tiêu cực của con người như: làm ô nhiễm nguồn nước , việc
nhập khẩu các sinh vật ngoại lai.
Ảnh 4 - Ô nhiễm sông Đồng Nai, cá chết hàng loạt.
(Ảnh: Trần Duy)
Hiện nay ở nước ta các con sông bị ô nhiễm hàng loạt đã làm suy
giảm các nguồn lợi thủy sinh như: ô nhiễm sông Hồng, sông Đồng Nai,
sông Thị Vải Các loài sinh vật trong các con sông này đã chịu ảnh hưởng
nặng nề.
Kết quả điều tra cho thấy, hơn một nửa thế kỷ qua, đã có trên 40 loài
động vật thủy sinh lạ được nhập khẩu vào Việt Nam để sản xuất thực
phẩm, làm cảnh, tập trung nhiều nhất ở 2 vùng đồng bằng Bắc bộ và Nam
bộ.
Tiến sĩ Lê Thiết Bình, một thành viên của nhóm các nhà khoa học
thuộc Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản, cho rằng việc phát
13
triển các loài động vật thủy sinh này đã góp phần tạo ra giá trị kinh tế và
tăng thu nhập cho người nuôi trong nước. Tuy nhiên, có nhiều loài trong số
đó đang khiến các loài thủy sinh bản địa trở nên khan hiếm và bị đe dọa

triển bền vững nguồn thuỷ sinh là sự phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu về
thuỷ sinh của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của thế hệ
trong tương lai đáp ứng các nhu cầu của họ. Phát triển bền vững nguồn
thuỷ sinh đòi hỏi đảm bảo sử dụng đúng mức và ổn định nguồn lợi này
cũng như môi trường sống của chúng. Mọi sự phát triển không theo hướng
bền vững đều phải trả giá.
Kiểm soát suy thoái nguồn thuỷ sinh một cách bền vững nghĩa là phải
đảm bảo vừa tôn trọng cơ sở khoa học, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế. Trong quá trình kiểm soát, phải đáp ứng đạt được mục tiêu phát triển lâu
bền, đồng thời phải đảm bảo đời sống cho ngư dân. Đây chính là yêu cầu
phát triển bền vững nguồn thuỷ sinh. Trên cơ sở yêu cầu này, nhà nước đã
và đang có chính sách bảo đảm phát triển bền vững nguồn thuỷ sinh,
khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân khai thác và sử
dụng hợp lý nguồn thuỷ sinh, bảo đảm tái tạo nguồn thuỷ sinh và phát triển
nuôi trồng thuỷ sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự
nhiên khác.
15
Những năm gần đây, phát triển bền vững đã được nhiều tổ chức quốc
tế, nhiều nước hết sức chú ý xây dựng các mô hình dự án, chính sách phát
triển kinh tế - xã hội.
Phát triển bền vững không chỉ là tăng trưởng kinh tế hợp lý, mà phải
bảo đảm tính bền vững về môi trường sinh thái và ổn định xã hội, thoả
mãn nhu cầu trước mắt và lâu dài.
Một định hướng mục tiêu như vậy quả là rất khó khăn, phức tạp để
triển khai các mô hình, thậm chí một số nhà nghiên cứu còn cho rằng đây
chỉ là vấn đề lý thuyết, ý tưởng tốt đẹp.
Đối với nghề cá nước ta hiện nay vùng hải sản gần bờ đang bị khai
thác quá mức (năm 1993 một mã lực công suất máy tàu cá khai thác được
0,7 tấn, năm 2003 chỉ còn 0,35 tấn). Sản lượng và kích cỡ cá đánh bắt
được giảm dần, chất lượng môi trường suy giảm, đã có tới 17 loại hải sản

nguy cơ tuyệt chủng. Số tiền này sẽ xây dựng thí điểm khu bảo vệ một số
loài thủy sinh đặc hữu, điển hình như cá Mòi Cờ, cá Cháy, cá Chiên, cá
Chình, cá Anh vũ
Trong đó, giai đoạn từ nay đến 2010 Ngân sách Nhà nước sẽ đầu tư
228 tỷ đồng; từ 2010-2015 là 223 tỷ đồng và từ 2016 đến 2020 là 125 tỷ
đồng để triển khai đề án.
Không những thế, Nhà nước còn có dự định xây dựng Bảo tàng các
loài thủy sinh vật Việt Nam, cùng với nhiều chương trình khác như
“Chương trình Bảo vệ và Phát triển Nguồn lợi Thủy sản đến năm 2010"
vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hệ thống này bao gồm Trung
tâm Dữ liệu Quốc gia về Thủy sinh vật; một hoặc hai bảo tàng lưu giữ,
trưng bày các loài thủy sinh vật Việt Nam.
Mặt khác yêu cầu phát triển bền vững nguồn thuỷ sinh còn được nhà
nước thực hiện thông qua hoạt động phát triển kinh tế thuỷ sản trên cơ sở
quy hoạch phát triển ngành thuỷ sản phù hợp với quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế -xã hội trong phạm vi cả nước và của từng địa phương, đảm
17
bảo việc xây dựng các công trình ven sông, ven biển hoặc gần khu vực nuôi
trồng thuỷ sản không làm ảnh hưởng đến nguồn thuỷ sinh.
Ảnh 6 - khu vực nuôi tôm ven biển
(Nguồn: vietbao.com)
Thủy sản là một trong những ngành kinh tế quan trọng của nước ta.
Trong nhiều năm qua, ngành thủy sản đã giải quyết việc làm cho hàng triệu
lao động, bảo đảm nguồn thực phẩm dồi dào cho xã hội, góp phần quan
trọng vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước, đặc biệt là giá trị xuất khẩu.
Trên cơ sở yêu cầu phát triển bền vững nguồn thủy sinh, pháp luật về
kiểm soát suy thoái thuỷ sinh đã quy định nghĩa vụ bảo vệ, tái tạo và phát
triển nguồn thuỷ sinh, xác định các hành vi bị nghiêm cấm trong khi tiến
hành các hoạt động có nguy cơ gây hại nguồn thuỷ sinh, các công cụ,
phương tiện, phương thức đánh bắt trong hoạt động thuỷ sản nhằm bảo vệ

đó, việc đi sâu vào các giải pháp tự nhiên, giải pháp sinh học khó có hiệu
quả thực sự. Việc kiểm soát suy thoái nguồn thuỷ sinh muốn có hiệu quả
19
trước tiên cần kiểm soát sự tác động của con người vào môi trường , trên cơ
sở của những quy định pháp luật, cụ thể như sau:
1. Những quy định về bảo vệ, tái tạo và phát triển giống loài thuỷ sinh:
1.1. Các quy định về bảo vệ môi trường sống của các loài thuỷ sinh.
Môi trường sống là nhân tố quan trọng quyết định sự sống còn và chất
lượng của các loài thuỷ sinh. Do vậy, mọi hoạt động của con người đều
phải đảm bảo giữ gìn và cải thiện chất lượng môi trường sống cho chúng.
Theo quy định của Điều 7 Luật thuỷ sản năm 2003 và Luật môi trường năm
2005 thì ta có thể khái quát thành một số vấn đề sau:
- Các tổ chức, cá nhân đều phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường
sống của các loài thuỷ sản nói riêng và nguồn thuỷ sinh nói chung. Mọi
hoạt động có nguy cơ tác động đến môi trường sống của nguồn thuỷ sinh
đều phải được áp dụng các biện pháp nhằm triệt tiêu đến mức tối đa sự tác
động đó.
- Khi xây dựng mới, thay đổi hoặc phá bỏ các công trình có liên quan
đến môi trường sống, di cư, sinh sản của các loài thuỷ sinh đều phải thực
hiện việc đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật.
- Các hoạt động khai thác thuỷ sản bằng đặt đăng, đáy hoặc bằng
phương pháp ngăn, chắn khác ở các sông, hồ, đầm, phá phải dành hành
lang cho các loài thuỷ sinh di chuyển theo quy định của uỷ ban nhân địa
phương.
- Bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường, phòng ngừa dịch bệnh thuỷ
sản; không được sử dụng hóa chất độc hại hoặc tích tụ độc hại.
- Không được xây dựng khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung trên bãi bồi
đang hình thành vùng cửa sông ven biển; phá rừng ngập mặn để nuôi trồng
thuỷ sản (Quy định tại Điều 47 Luật bảo vệ môi trường).
1.2. Các quy định về khuyến khích đầu tư vào bảo vệ và phát triển

1.3. Các quy định về bảo vệ giống loài thủy sinh khi có dịch.
Để bảo vệ và phát triển nguồn thủy sinh, Nhà nước đã ban hành nhiều
quy định liên quan, đặc biệt là khi chúng có dịch bệnh. Tổ chức, cá nhân
chăn nuôi nguồn thủy sinh phải thực hiện những biện pháp phòng bệnh cho
chúng. Trên nguyên tắc “việc chăn nuôi không được gây ô nhiễm môi
trường sinh thái” và đảm bảo số lượng cũng như chất lượng của các loài vật
nuôi, các đối tượng có liên quan cần thực hiện công tác phòng chống dịch
bệnh cho thủy sinh (chương II phòng bệnh, chữa bệnh và chống dịch bệnh
cho động vật – pháp lệnh thú y năm 2004) bao gồm:
- Bảo đảm đủ tiêu chuẩn vệ sinh thú y tại các cơ sở chăn nuôi, chế biến
thức ăn chăn nuôi, chế biến sản phẩm từ nguồn thủy sinh.
- Thực hiện các biện pháp phòng bệnh, chuẩn đoán xác định bệnh, khống
chế, tiêu diệt dịch bệnh cho các giống loài thủy sinh.
- Xác định và thông báo giới hạn vùng có dịch; quy định vành đai bảo vệ
quanh vùng có dịch; đặt biển báo hiệu, trạm gác và hướng dẫn việc đi lại
tránh vùng có dịch.
- Thực hiện việc kiểm dịch nguồn thủy sinh và các sản phẩm của chúng,
kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thực phẩm có nguồn gốc từ nguồn
thủy sinh để phát hiện, ngăn chặn dịch lây lan và bảo đảm an toàn cho
người sử dụng.
Cũng trong thời gian có dịch và tại các vùng dịch, người không có
nhiệm vụ thì không vào nơi có các giống loài thủy sinh ốm hoặc chết; đưa
vào hoặc mang ra khỏi vùng có dịch các loại thuộc đối tượng vệ sinh; mổ
thịt, lưu thông trong vùng có dịch nguồn thuỷ sinh và các sản phẩm của
chúng dễ nhiễm dịch bệnh đã công bố; vận chuyển qua vùng có dịch nguồn
thủy sinh thuộc loại dễ bị nhiễm bệnh dịch đã công bố, tránh lây lan dịch
bệnh cho các giống loài khác.
Theo quy định, trước khi đưa ra khỏi trại giống, cơ sở phải khai báo và
gửi hồ sơ kiểm dịch đến cơ quan quản lý thú ý địa phương để kiểm dịch và
22

tình hình sức khoẻ, dịch bệnh và có chứng nhận cơ sở đảm bảo điều kiện vệ
sinh thú y thuỷ sản. Ngoài ra, địa điểm xây dựng cơ sở sản xuất, kinh
doanh giống thủy sản phải theo quy hoạch của địa phương; quy mô và cơ
sở vật chất kỹ thuật, các trang thiết bị, hệ thống cấp và thoát nước, xử lý
nước thải phải đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh từng đối tượng và
phẩm cấp thủy sản theo quy định; Có hồ sơ theo dõi quá trình sản xuất,
kinh doanh giống; Có nhân viên kỹ thuật có chứng chỉ, văn bằng về chuyên
ngành nuôi trồng thủy sản.
2. Những quy định về công cụ, phương thức đánh bắt thuỷ sản nhằm
bảo vệ nguồn thuỷ sinh:
Trong hoạt động thuỷ sản, việc các tổ chức, cá nhân sử dụng các công
cụ, phương thức đánh bắt có hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo tốc độ sinh sản
để có thể phát triển bền vững nguồn thuỷ sinh là một vấn đề hết sức quan
trọng.
Nhiều năm qua chưa vì chưa được đầu tư đúng mức nên nghề đánh bắt
thủy sản nhìn chung còn hạn chế, chưa khai thác hết nguồn lợi thủy sản sẵn
có. Công cụ khai thác phần lớn mang tính lạm sát nên nguồn lợi thủy sản
trong vùng thủy nội địa và ven bờ ngày càng cạn kiệt. Chẳng hạn như, sử
dụng xung điện, cào điện để khai thác thủy sản, trước hết là hủy diệt tất cả
các loài sinh vật nằm trong phạm vi của hai cực nguồn điện và sau đó nó sẽ
làm phá hủy, thay đổi môi trường.
Dựa trên nguyên tắc chung là việc khai thác thuỷ sản ở vùng biển,
sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác phải đảm bảo không
làm cạn kiệt các nguồn thuỷ sinh, các tổ chức, cá nhân khi tiến hành các
hoạt động thuỷ sản phải tuân theo những quy định sau đây về mùa vụ khai
thác, thời hạn khai thác, vùng khai thác, chủng loại, kích cỡ thuỷ sản được
khai thác cũng như sản lượng khai thác hàng năm:
- Các tổ chức, cá nhân được phép tiến hành đánh bắt nguồn thuỷ sinh
và nguồn lợi thuỷ sản bằng các công cụ, phương tiện phù hợp với khoảng
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status