BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH NGA
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT SUY THOÁI
TÀI NGUYÊN RỪNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380101
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Vũ Thị Duyên Thủy
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại
học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Luật
Kinh tế đã truyền thụ kiến thức cũng như tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu chương trình sau đại học tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến Giảng
viên- TS. Vũ Thị Duyên Thủy, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi
hoàn thành Luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên,
quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
1.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng
.............................................................................................................................. 20
1.2.1. Khái niệm pháp luật kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng ............ 20
1.2.2. Vai trò của pháp luật kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng ........... 21
1.2.3. Nội dung điều chỉnh pháp luật về kiểm soát suy thoái tài nguyên
rừng....................................................................................................................... 22
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT SUY
THOÁI TÀI NGUYÊN RỪNG ........................................................................... 26
2.1. Các quy định pháp luật về thống kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng;
lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng .............................................. 26
2.1.1. Các quy định pháp luật về thống kê, kiểm kê rừng, theo dõi diễn
biến tài nguyên rừng ............................................................................................. 26
2.1.2. Các quy định pháp luật về lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát
triển rừng .............................................................................................................. 28
2.2. Các quy định pháp luật về hoạt động giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi
rừng và chuyển mục đích sử dụng rừng ............................................................... 32
2.2.1. Các quy định pháp luật về giao rừng và cho thuê rừng ................. 32
2.2.2. Các quy định pháp luật về thu hồi rừng và chuyển mục đích sử
dụng rừng ............................................................................................................. 39
2.3. Các quy định pháp luật về hoạt động kiểm soát suy thoái tài nguyên
rừng của chủ rừng................................................................................................. 42
2.3.1. Kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng của hộ gia đình, cá nhân, cộng
đồng dân cƣ thôn .................................................................................................. 44
2.3.2. Kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng của các tổ chức trong nƣớc . 48
2.3.3. Kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng của ngƣời Việt Nam định cƣ ở
nƣớc ngoài; tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài............................................................. 53
2.4. Các quy định pháp luật về kiểm soát suy thoái động, thực vật rừng
hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.............................................................................. 54
2.3.5. Hoàn thiện quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng ............................................. 83
3.3. Các giải pháp khác ................................................................................ 85
3.3.1. Đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc đối với
kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng. ................................................................... 85
3.3.2. Tăng cƣờng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật 86
3.3.3. Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý và kiểm soát
suy thoái tài nguyên rừng ..................................................................................... 87
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 91
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, đƣợc con
ngƣời khai thác sử dụng phục vụ cho cuộc sống ngay từ khi hình thành. Rừng
vừa có vai trò đảm bảo an ninh-quốc phòng, cung cấp oxi, bảo vệ môi trƣờng
sống, cung cấp nguồn nƣớc phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt của con ngƣời vừa
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế-xã hội, góp phần
không hề nhỏ vào các hoạt động kinh tế nhờ vào khả năng cung cấp nguyên liệu
liên tục lâu dài cho các ngành công nghiệp. Do đó, tài nguyên rừng cần đƣợc
quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững, và đây cũng là xu thế phát triển lâm
nghiệp của thế giới hiện nay.
Đến 1/1/2014, tổng diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam là 33,097 triệu ha
trong đó 15,845 triệu ha là đất lâm nghiệp, phân bố chủ yếu trên các vùng đồi
núi của cả nƣớc, là môi trƣờng sống của rất nhiều các loài động thực vật và đáp
ứng nhu cầu của hơn 90 triệu dân. Tuy nhiên, trên thực tế, nguồn tài nguyên rừng
đang dần bị suy thoái, cả về số lƣợng và chất lƣợng. Những năm qua, ở Việt
Nam, diện tích rừng đã đƣợc cải thiện nhƣng diện tích rừng tự nhiên vẫn bị sụt
cứu, bài viết về vấn đề này với nhiều hƣớng tiếp cận và phát triển.
Ở nƣớc ngoài có thể kể đến một số công trình nhƣ: Luận án tiến sĩ luật học
của tác giả Sofia R.Hirakuri năm 2003 tại Trƣờng Luật, Đại học Wanshington
với đề tài “Can Law Save the Forest? Lesson from Finland and Brazil” (Liệu
rằng pháp luật có thể bảo vệ được rừng? Những bài học từ Phần Lan và Brazil);
Bài báo của tác giả Sofia Hirakuri, (2000) “How Finland made forest owners
follow the law” (Phần Lan, làm thế nào để các chủ rừng tuân thủ pháp luật);
Cuốn sách của Marcus Colchester, (2006), “Justice in the forest Rural livehoods
and forest law enforcement (Cân bằng trong rừng - Sinh kế dân bản địa và thực
thi lâm luật) hay Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới năm 2007 “Forest law and
sustainable development- Addressing Contemporary Challenges Through Legal
Reform” (Luật lâm nghiệp và Phát triển bền vững- Giải quyết các thách thức
đương đại thông qua cải cách pháp lý1).
Ở trong nƣớc có một số công trình tiêu biểu:
1
Nguyễn Thanh Huyền (2012), Hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở
Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
3
* Đề tài khoa học nghiên cứu về pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát
triển tài nguyên rừng: luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Hải Âu với đề tài:
"Pháp luật bảo vệ môi trường rừng ở Việt Nam - Thực trạng và phương hướng
hoàn thiện", bảo vệ năm 2001; luận văn thạc sỹ luật học của Lê Văn Hà với đề
tài: "Trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng và vấn đề đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm này trên địa bàn tỉnh
Gia Lai", bảo vệ năm 2002; báo cáo tƣ vấn “Xem xét năng lực thừa hành pháp
luật và xác định nhu cầu đào tạo của chủ thể quản lý khu rừng đặc dụng” năm
2003 của PGS.TS. Lê Hồng Hạnh; luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Thanh
trọng của pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng, nhiệm vụ cấp bách của kiểm soát
suy thoái tài nguyên rừng. Mặc dù vậy, những công trình này không nghiên cứu
cụ thể về hệ thống pháp luật quản lý và bảo vệ rừng, cũng chƣa tập trung vào các
vấn đề lý luận pháp luật liên quan đến pháp luật về kiểm soát suy thoái tài
nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay, bên cạnh đó, cùng với xu hƣớng hội nhập với
nền kinh tế khu vực và trên thế giới thì thực trạng suy thoái tài nguyên rừng ngày
càng diễn ra mạnh. Pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng có những bƣớc phát triển
và đổi mới cần đƣợc tổng hợp và nghiên cứu.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm, luận điểm về tài
nguyên rừng, kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng; hệ thống các văn bản pháp
luật hiện hành quy định về kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng, ngoài Luật Bảo
vệ và phát triển rừng 2004 và các văn bản hƣớng dẫn thi hành còn có quy định
tại một số văn bản pháp luật liên quan về kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng
nhƣ Luật Môi trƣờng 2014, Luật Đa dạng sinh học 2008, Luật Đất đai 2013…
Ngoài ra còn có tình hình thi hành thực hiện pháp luật về kiểm soát suy thoái tài
nguyên rừng trên phạm vi cả nƣớc nói chung.
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp
luật Việt Nam về kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng, có liên hệ với các Điều
ƣớc quốc tế có liên quan mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia với tƣ cách thành
viên. Hệ thống pháp luật về kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng đƣợc nghiên
cứu ở rất nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên, trong luận văn này tác giả không
có tham vọng đi sâu nghiên cứu toàn bộ nội dung điều chỉnh của pháp luật hiện
hành về bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam mà chỉ tập trung vào một số quy
5
định về kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng. Bên cạnh đó là thực tiễn thi hành
các quy định trên từ khi Luật Bảo vệ và phát triển rừng có hiệu lực (từ năm 2004
đến nay).
- Phƣơng pháp chứng minh đƣợc sử dụng để chứng minh: các luận điểm
đƣợc nêu ra ở chƣơng I; các tồn tại, vƣớng mắc về thực trạng pháp luật và thi
hành pháp luật kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng tại chƣơng II của luận văn.
Ngoài ra để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài đảm bảo tính khách quan,
phản ánh đúng thực tiễn đồng thời minh họa cho các vấn đề nêu ra cần đƣợc giải
quyết, luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp nhƣ:
- Thống kê, tổng hợp số liệu từ Chi cục lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm và
các cơ quan trực tiếp thi hành nhiệm vụ bảo vệ rừng.
6. Những đóng góp mới của đề tài
Với mong muốn góp phần hoàn thiện pháp luật về kiểm soát suy thoái tài
nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay, luận văn có một số đóng góp mới sau đây:
- Góp phần xây dựng và phát triển hệ thống lý luận khoa học về pháp luật
kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng ở Việt Nam
- Thông qua nghiên cứu hệ thống pháp luật cũng nhƣ thực tiễn thi hành
pháp luật để phát hiện những mâu thuẫn, vƣớng mắc, bất cập trong các quy định
về kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng, đƣa các phân tích, đánh giá về sự không
phù hợp giữa quy định pháp luật hiện hành với thực tế áp dụng.
- Đƣa ra các giải pháp về hoàn thiện pháp luật trong kiểm soát suy thoái tài
nguyên rừng, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kiểm soát suy thoái tài
nguyên rừng để đáp ứng các yêu cầu thực tiễn, phù hợp với quy định của pháp
luật quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể giúp những ngƣời hoạt động trong lĩnh
vực kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng, các chủ rừng những kiến thức cần thiết
trong quá trình thực thi pháp luật về kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng ở Việt
Nam hiện nay. Là cơ sở để hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp
luật về kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng, góp phần bảo vệ rừng phát triển bền
vững.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Tài nguyên rừng là một loại tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo là bộ
phận quan trọng của môi trƣờng sinh thái, có giá trị to lớn bao gồm rừng tự nhiên
và rừng trồng trên đất lâm nghiệp, gồm có thực vật rừng, động vật rừng và
những yếu tố tự nhiên có liên quan đến rừng. Tài nguyên rừng chính là nguồn
của cải vật chất hữu ích gắn liền với rừng để cung cấp cho nhu cầu kinh tế, xã
hội của loài ngƣời và sinh vật.
Rừng là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của trái đất và có ý
nghĩa to lớn trong sự phát triển của đời sống con ngƣời cũng nhƣ các sinh vật
sống khác. Do đó, ngay từ thủa sơ khai, con ngƣời đã dần dần có ý thức nghiên
cứu các khái niệm, xây dựng một hệ thống khoa học về rừng. Đến thế kỉ XIX,
H.Cotta (ngƣời Đức) đã xuất bản tác phẩm Những chỉ dẫn về lâm học, trong đó
trình bày tổng hợp những khái niệm về rừng, góp phần to lớn vào việc xây dựng
học thuyết về rừng có ảnh hƣởng không chỉ đến quê hƣơng ông mà còn lan tỏa ra
cả châu Âu thời kì đó. Bƣớc sang thế kỷ XX, cùng với sự ra đời của sinh thái
học, khái niệm về rừng đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và làm
sáng tỏ. Năm 1912, G.F.Morodop công bố tác phẩm Học thuyết về rừng. Sự phát
triển hoàn thiện của học thuyết này về rừng gắn liền với những thành tựu về sinh
thái học. Năm 1930, Morozov đƣa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có
mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và
trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của
cảnh quan địa lý. Năm 1952, M.E. Tcachenco phát biểu: Rừng là một bộ phận
của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ,
động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan
9
hệ sinh học và ảnh hƣởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài. Năm 1974, I.S.
Mê-lê-khôp cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành
phần cơ bản của sinh quyển địa cầu.
Trong đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu năm 2010, Tổ chức Lƣơng thực
10
quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng, trong đó Điều 3 quy định một đối
tƣợng đƣợc xác định là rừng phải đáp ứng cả 3 tiêu chí:
Một là, hệ sinh thái có thành phần chính là các loài cây lâu năm thân gỗ,
cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 mét trở lên (trừ rừng mới trồng và một số
loài cây rừng ngập mặn ven biển), tre nứa,…có khả năng cung cấp gỗ, lâm sản
ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác nhƣ bảo tồn đa dạng sinh học,
bảo vệ môi trƣờng và cảnh quan.
Rừng mới trồng các loài cây thân gỗ và rừng mới tái sinh sau khai thác rừng
trồng có chiều cao trung bình trên 1,5 m đối với loài cây sinh trƣởng chậm, trên
3,0 m đối với loài cây sinh trƣởng nhanh và mật độ từ 1.000 cây/ha trở lên đƣợc
coi là rừng. Các hệ sinh thái nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản có rải rác một số
cây lâu năm là cây thân gỗ, tre nứa, cau dừa,… không đƣợc coi là rừng.
Hai là, độ tàn che của tán cây là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở
lên.
Ba là, diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là dải cây rừng
phải có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên.
1.1.1.2. Phân loại rừng
Tùy theo yêu cầu của việc nghiên cứu hay quản lý mà có nhiều cách phân
loại rừng khác nhau: Dựa theo trữ lƣợng, rừng đƣợc chia thành rừng giàu, rừng
trung bình, rừng nghèo, rừng kiệt; dựa theo tác động của con ngƣời chia thành
rừng tự nhiên, rừng nhân tạo; dựa theo nguồn gốc chia thành rừng chồi, rựng hạt;
dựa theo tuổi chia thành rừng non, rừng sào, rừng trung niên, rừng già…
Để đáp ứng nhu cầu quản lý, BV&PTR, pháp luật Việt Nam dựa vào mục
đích chủ yếu của rừng mà phân chia thành ba loại: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng
và rừng sản xuất.
“Rừng phòng hộ là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo
vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu và
trời, CO2, H2O và các chất khoáng đƣợc rừng hấp thu để sản xuất ra chất hữu cơ
và giải phóng oxy tự do vào không khí. Khi hình thành một tấn gỗ khô tuyệt đối,
rừng đã thu vào từ 1,7 đến 1,8 tấn CO2 và giải phóng ra 1,39 đến 1,42 tấn oxy.
Bên cạnh đó, rừng cây với những hệ thống gốc rễ của chúng là kho chứa nƣớc,
có tác dụng giữ nƣớc, điều hòa và duy trì lƣu lƣợng dòng chảy, làm giảm bớt tốc
độ dòng nƣớc, giảm nguy cơ xảy ra lũ lụt, xói mòn ở những vùng đất dốc.
12
Những khu rừng nhiệt đới nhiều tầng, cành lá xum xuê có thể che cản dƣới 20%
lƣợng nƣớc mƣa, chỉ có 35% lƣợng mƣa rơi qua khe lá xuống mặt đất, 45% chảy
dọc theo thân cây trong đó 17% ngấm vào vỏ cây, 28% chảy xuống đất và chỉ có
khoảng trên 60% lƣợng nƣớc mƣa rơi xuống đất4. Rừng còn là nguồn gen vô tận
của con ngƣời, là nơi cƣ trú của các loài động thực vật quý hiếm, tạo nên sự đa
dạng, phong phú về sinh học đối với từng điều kiện thiên nhiên khác nhau.
Đối với kinh tế, rừng cung cấp một sản lƣợng lớn lâm sản phục vụ nhu cầu
của ngƣời tiêu dùng trong nƣớc cũng nhƣ xuất khẩu ra nƣớc ngoài. Năm 2015,
giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản của nƣớc ta đạt 7,1 tỷ USD. Trồng rừng tập
trung đạt 239 nghìn ha; sản lƣợng khai thác gỗ rừng trồng tập trung đạt 12.800
nghìn m3; dịch vụ môi trƣờng rừng cả năm thu đƣợc khoảng 1.253,28 tỷ đồng5.
Rừng còn cung cấp nguồn dƣợc liệu vô giá mà từ ngàn xƣa con ngƣời đã biết
khai thác để làm thuốc chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe. Ngoài ra, du lịch sinh thái
rừng cũng là một ngành dịch vụ xanh khá phát triển, làm tăng thêm thu nhập cho
nhân dân địa phƣơng cũng nhƣ nâng cao ý thức của con ngƣời trong việc bảo vệ
rừng. Những địa điểm du lịch sinh thái nổi tiếng có thể kể đến nhƣ Vƣờn cò Thủ
Đức, Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng, Khu du lịch Cần Giờ, Vƣờn quốc gia U Minh
Hạ…
Đối với xã hội, rừng tạo ra việc làm ổn định, thu nhập cho ngƣời dân.
Nguồn lợi từ hoạt động trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng đã giúp cho ngƣời dân,
đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số nâng cao chất lƣợng và ổn định cuộc
vật, các hệ sinh thái, các khu dân cƣ, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, danh
lam thắng cảnh, di tích lịch sử (Từ điển luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, 1999).
Pháp luật Việt Nam cũng đã đƣa ra khái niệm suy thoái môi trƣờng tại khoản 9
Điều 3 Luật bảo vệ môi trƣờng 2014 “Suy thoái môi trường là sự suy giảm về
chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con
người và sinh vật”. Nhƣ vậy, một thành phần môi trƣờng bị coi là suy thoái khi
có đầy đủ hai điều kiện:
Một là, có sự suy giảm về chất lƣợng và số lƣợng. Đây có thể là sự suy
giảm đồng thời cả về số lƣợng và chất lƣợng hoặc sự thay đổi về số lƣợng dẫn
đến sự thay đổi về chất lƣợng và ngƣợc lại. Sự suy giảm này có thể do sự tác
động của yếu tố tự nhiên nhƣng chủ yếu là do hành vi khai thác, sử dụng quá
mức của con ngƣời dẫn đến các thành phần môi trƣờng không kịp để tái tạo đáp
ứng nhu cầu.
14
Hai là, sự suy giảm đó gây ảnh hƣởng xấu cho con ngƣời và sinh vật. Nghĩa
là, chỉ khi một thành phần môi trƣờng bị suy giảm về số lƣợng và chất lƣợng làm
ảnh hƣởng bất lợi cho cuộc sống của con ngƣời hay các sinh vật khác thì nó mới
bị xác định là suy thoái.
Từ những tìm hiểu về suy thoái môi trƣờng, ta có thể hiểu suy thoái môi
trƣờng rừng là sự suy giảm về số lƣợng và chất lƣợng rừng dẫn đến tác động bất
lợi tới việc thực hiện vai trò của rừng, gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời và sinh
vật. Dấu hiệu của suy thoái tài nguyên rừng là sự suy giảm về số lƣợng rừng thể
hiện ở sự thu hẹp diện tích rừng, giảm sút số lƣợng cũng nhƣ sự đa dạng các loài
sinh vật do hoạt động khai thác, các tác động xấu của con ngƣời. Hoặc là sự suy
giảm về chất lƣợng thể hiện suy giảm các thành phần quan trọng của rừng nhƣ:
sự giảm sút, biến mất của các loài động thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm;
suy giảm về đa dạng sinh học bao gồm suy giảm về chất lƣợng, chủng loại các
loại sinh vật và các nguồn gen quý; suy giảm về độ che phủ rừng dẫn đến các
lên, nhân loại bắt đầu thải vào bầu khí quyển một lƣợng khí CO2, NO2…khiến
cho nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên. Trong khi đó, hệ sinh thái mới thay thế hệ
sinh thái rừng trƣởng thành bị mất đi sẽ có lƣợng cacbon cố định nhỏ hơn không
đủ cân bằng với lƣợng cacbon thải ra khí quyển, dẫn đến biến đổi khí hậu.
Hậu quả của suy thoái tài nguyên rừng đang ảnh hƣởng đến cuộc sống của
chúng ta từng ngày, từng giờ và không chỉ tác động đến một thế hệ mà còn gây
ảnh hƣởng nghiêm trọng đến những thế hệ tƣơng lai. Do vậy cần phải có các
công cụ, chính sách pháp luật phù hợp để kiểm soát các hoạt động của con ngƣời
khi tác động đến rừng cũng nhƣ có các biện pháp để động viên, khuyến khích
việc giữ gìn, BV&PTR của cả cộng đồng.
Thực trạng suy thoái tài nguyên rừng ở Việt Nam:
Việt Nam là đất nƣớc nhiều đồi núi, diện tích đồi núi chiếm tới ¾ diện tích
lãnh thổ nên phần lớn diện tích lãnh thổ đƣợc rừng che phủ. Đất nƣớc Việt Nam
trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, với địa hình rất đa dạng, lại có khí hậu
thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam, đến á nhiệt đới ở vùng cao phía bắc, đã tạo
nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú về các loài sinh vật. Tuy
nhiên trong những năm qua, do tác động của nhiều nguyên nhân mà rừng của
nƣớc ta đã bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lƣợng và chất lƣợng.
16
Theo tài liệu của Maurand thì vào thời gian trƣớc năm 1945, rừng nƣớc ta
có 14,3 triệu ha với trữ lƣợng gỗ khoảng 200-300 m3/ha. Năm 1976 giảm xuống
còn 11 triệu ha với tỷ lệ che phủ là 34%, năm 1985 còn 9,3 triệu ha và tỷ lệ che
phủ là 30%. Diện tích rừng bình quân cho một ngƣời là 0,13 ha (1995), thấp hơn
mức trung bình vùng Đông Nam Á (0,42 ha/ngƣời)6. Trong thời kỳ 1945-1975
cả nƣớc mất khoảng 3 triệu ha rừng, bình quân 100.000 ha/năm. Quá trình mất
rừng diễn ra nhanh hơn ở giai đoạn 1975 – 1990: Mất 2,8 triệu ha, bình quân
140.000 ha/ năm do dân số tăng nhanh, nạn đốt nƣơng làm rẫy cũng nhƣ quá
trình khai hoang lấy đất trồng cây công nghiệp. Đến những năm 1990 – 1995,
Thứ hai, do hoạt động khai thác quá mức của con người. Khai thác rừng là
hành động do con ngƣời tạo ra, vì những mục đích khác nhau mà tác động và tàn
phá rừng thông qua các hoạt động: khai thác gỗ, khai thác củi, khai thác lâm sản
ngoài gỗ. Sự khai thác trái phép, tràn làn, không theo quy hoạch, kế hoạch khiến
rừng không kịp tái tạo nguồn tài nguyên của mình dẫn đến sự sụt giảm đáng kể
cả về số lƣợng và chất lƣợng rừng.
Thứ ba, do cháy rừng. Năm 2015, tổng diện tích rừng bị cháy của nƣớc ta là
1076 ha, dù đã giảm 65,9% so với năm 20149 nhƣng vẫn là con số đáng báo
động. Cháy rừng thƣờng diễn ra nhanh chóng là lan ra trên một diện tích rộng
lớn trong khi đó sự phục hồi và tái tạo rừng trong điều kiện này rất chậm vì thế
mà tài nguyên rừng đang dần cạn kiệt đi.
Thứ tư, do chuyển đổi mục đích sự dụng đất. Chuyển đổi mục đích sử dụng
đất có thể kể đến nhƣ phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, phá rừng để trồng cây
công nghiệp, phá rừng làm nƣơng rẫy… Chỉ vì những lợi ích kinh tế trƣớc mắt
mà việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng một cách ồ ạt, không theo quy
hoạch đã dẫn đến việc diện tích rừng thu hẹp, làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng
cuộc sống của cả tƣơng lai.
Thứ năm, do sức ép của dân số. Sự gia tăng dân số đòi hỏi tăng nhu cầu
trong sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu khác, diện tích đất rừng bị chuyển sang
các mục đích khác nên ngày càng thu hẹp lại. Bên cạnh đó những nhu cầu về giải
trí, ăn uống, du lịch của con ngƣời cũng tăng lên, họ vào rừng để săn bắt, khai
thác các loại động thực vật quý hiếm, dẫn đến tình trạng số lƣợng và chủng loại
sinh vật giảm đi đáng kể, thậm chí có nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn.
Thứ sáu, do tập quán du canh, du cư. Du canh du cƣ là tập quán sản xuất
nông nghiệp lâu đời của nhiều dân tộc ít ngƣời ở Việt Nam mà thƣờng xuất hiện
tại các vùng đồi núi và cao nguyên nhằm ổn định sản xuất và đời sống trong một
phạm vi lãnh thổ cố định. Hoạt động này dẫn đến việc đất không có thời gian
nghỉ ngơi, cũng không đƣợc bổ sung chất dinh dƣỡng một cách hợp lý, sẽ nhanh
9
Hiện nay, các văn bản pháp luật Việt Nam vẫn chƣa đƣa ra cụ thể khái niệm
về kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng nhƣng từ khái niệm về kiểm soát cũng
nhƣ về suy thoái tài nguyên rừng đã trình bày ở phần trên, có thể hiểu “Kiểm
soát suy thoái tài nguyên rừng là toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước,
tổ chức, cá nhân kiểm tra, xem xét việc thực hiện quản lý, khai thác, BV&PTR
nhằm phát hiện, ngăn ngừa, khắc phục kịp thời tình trạng suy giảm chất lượng
và số lượng thành phần rừng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia”.
So với khái niệm quản lý nhà nƣớc về BV&PTR, khái niệm kiểm soát suy
thoái tài nguyên rừng có nội hàm rộng hơn, thể hiện ở các khía cạnh nhƣ mục
đích thực hiện, chủ thể thực hiện, cách thức, công cụ và phƣơng tiện kiểm soát,
nội dung kiểm soát…Có thể kể đến một số đặc điểm của kiểm soát suy thoái tài
nguyên rừng nhƣ sau:
- Chủ thể kiểm soát: Luật BV&PTR 2004 đã trao quyền cho hai nhóm đối
tƣợng thực hiện hoạt động kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng:
19
Một là chủ rừng: Điều 5 Luật BV&PTR 2004 đã ghi nhận các chủ thể đƣợc
nhà nƣớc giao rừng, cho thuê rừng hoặc giao đất, cho thuê đất để bảo vệ, quản
lý, khai thác là chủ rừng: Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; tổ chức
kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trong nƣớc, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp;
ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài đầu tƣ tại Việt Nam và tổ chức, cá nhân
nƣớc ngoài đầu tƣ tại Việt Nam.
Hai là các cơ quan quản lý nhà nước về BV&PTR. Trong đó, cơ quan thống
nhất quản lý nhà nƣớc trên phạm vi toàn quốc là Chính phủ. Giúp việc cho
Chính phủ còn có Bộ NN&PTNT, các Bộ có liên quan và Ủy ban nhân dân
(UBND) các cấp.
- Mục đích chính của việc kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng: là bảo vệ và
phát triển nguồn tài nguyên rừng tránh khỏi các tác động tiêu cực của con ngƣời