luận văn đề tài thu nhập và phân tích nguyên nhân dẫn đến suy thoái nguồn tài nguyên rừng ở việt nam và biện pháp khắ - Pdf 15

NGUYỄN TRỌNG TUYÊN (543038) 2011
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: THU THẬP VÀ PHÂN TÍCH
NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SUY THOÁI
NGUỒN TÀI NGUYÊN Ở VIỆT NAM VÀ
BIỆN PHÁP KHẮC PHỤc
Tiểu luận: Thu thập và phân tích nguyên nhân dẫn đến suy thoái nguồn tài
nguyên rừng ở Việt Nam và biện pháp khắc phục
NGUYỄN TRỌNG TUYÊN (543038) 2011
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 3
A. TÀI NGUYÊN RỪNG VIỆT NAM MỘT SỐ THÀNH TỰU, TỒN TẠI, NGUYÊN NHÂN 4
I. THÀNH TỰU.
1. Bảo vệ và phát triển rừng 4
2. Công tác quản lý và bảo vệ rừng 5
II. CÁC TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI MẤT RỪNG 7
1. Mất rừng xảy ra phổ biến ở nhiều nơi. 7
2. Tình trạng vi phạm pháp luật còn nghiêm trọng. 7
3. Tình hình phòng cháy, chữa cháy rừng. 8
4. Phòng trừ sinh vật hại rừng. 8
5. Nguyên nhân dẫn đến mất rừng. 8
B. GIẢI PHÁP CƠ BẢN BẢO VỆ RỪNG 12
I. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU.
1. Quan điểm 12
2. Mục tiêu 12
II. GIẢI PHÁP. 13
1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về quản lý bảo vệ rừng. 13
3. Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật 14
4. Nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền các cấp và sự tham gia 15
KẾT LUẬN 19
Tiểu luận: Thu thập và phân tích nguyên nhân dẫn đến suy thoái nguồn tài

NHÂN
I. THÀNH TỰU.
1. Bảo vệ và phát triển rừng.
Hiện nay, diện tích rừng được khôi phục nhanh chóng, về số lượng cũng như chất
lượng rừng ngày càng tiếp tục được cải thiện tích cực.
a) Diện tích rừng.
Theo thống kê của các địa phương trong cả nước, đến năm 2009, toàn quốc có trên
13,26 triệu ha (hécta) rừng, bao gồm: 10,3 triệu (ha) rừng tự nhiên và trên 2,9 triệu
(ha) rừng trồng; độ che phủ đạt 39,1%. (Xem phụ lục kèm theo). Thời gian tới, Ngành
Lâm nghiệp tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ còn lại của Dự án trồng mới 5 triệu ha
rừng, đảm bảo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao chất lượng và
giá trị của rừng, đồng thời phấn đấu tăng độ che phủ rừng lên 42% vào năm 2015, góp
phần giảm thiểu tác hại biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Từ năm 1991 đến nay (sau khi Luật bảo vệ và phát triển rừng được ban hành),hoạt
động bảo vệ rừng và thực thi pháp luật lâm nghiệp có chuyển biến tích cực,diện tích
rừng ngày càng được phục hồi, Việt Nam trở thành quốc gia duy nhất trong khu vực
có diện tích rừng ngày càng tăng. Diện tích rừng tăng lên do khoanh nuôi, xúc tiến tái
sinh tự nhiên và trồng mới những năm qua luôn cao hơn diện tích rừng bị giảm do
những nguyên nhân hợp pháp và bất hợp pháp.
Thống kê về diện tích rừng trên đây cho thấy, độ che phủ rừng toàn quốc 5 năm qua
(2002 – 2007) tăng bình quân gần 0,5% mỗi năm, kết quả này là cố gắng rất lớn trong
công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng của Việt Nam, trong khi độ che phủ rừng các
nước trong khu vực đang suy giảm.
b) Chất lượng rừng.
- Chất lượng, trữ lượng và giá trị đa dạng sinh học được duy trì, bảo tồn tốt hơnở
những khu rừng đặc dụng đã được thành lập và có ban quản lý. Tuy nhiên, tình trạng
phổ biến là rừng tự nhiên vẫn bị suy giảm về chất lượng, những khu rừng nguyên sinh,
rừng giàu chủ yếu chỉ còn ở những khu rừng đặc dụng và phòng hộ thuộc vùng sâu,
vùng xa, rừng tự nhiên thuộc quy hoạch rừng sản xuất hiện có3.105.647ha, trong đó
rừng giàu và trung bình chỉ còn 652.645 ha chiếm 21%,rừng nghèo và rừng non

cộng đồng và tổ chức bảo vệ gần 2,45 triệu hécta rừng, trong đó: rừng đặc dụng 285
nghìn hécta, rừng phòng hộ 2 triệu hécta, rừng sản xuất 215 nghìn hécta. Thực tiễn
khẳng định đây là quan điểm phát triển lâm nghiệp đúng đắn trong nền kinh tế thị
trường, nhờ đó huy động được các nguồnlực của nhiều thành phần kinh tế trong công
tác quản lý bảo vệ và phát triển rừngtrong những năm qua.
b) Cơ chế quản lý bảo vệ rừng được ban hành nhằm đẩy mạnh thực hiện chủ
trương xã hội hóa ngày càng có hiệu quả.
- Chính sách về quyền hưởng lợi của chủ rừng và người nhận khoán bảo vệ rừng
theo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/ 2001 của Thủ tướng Chính phủ bước
Tiểu luận: Thu thập và phân tích nguyên nhân dẫn đến suy thoái nguồn tài
nguyên rừng ở Việt Nam và biện pháp khắc phục
NGUYỄN TRỌNG TUYÊN (543038) 2011
đầu kích thích chủ rừng và người nhận khoán đầu tư bảo vệ và phát triển rừng cần tổng
kết thực tiễn để sớm sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế.
- Việc đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý lâm trường quốc doanh đã được triển khai
thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị và Quyết định
số187/1999/QĐ-TTg, Nghị định số 200/2004/NĐ–CP. Tuy còn những khó khăn và
vướng mắc về cơ chế hoạt động, nhưng về cơ bản các lâm trường sau khi được sắpxếp
lại đã được định hướng rõ nét hơn về cơ chế tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh,
nhiều lâm trường đã điều chỉnh giảm về quy mô diện tích (theo kiểu bao chiếm đất, sử
dụng hiệu quả thấp) để dành quỹ đất lâm nghiệp giao cho các tổ chức, cá nhân khác
quản lý bảo vệ tốt hơn.
- Các biện pháp quản lý rừng cộng đồng được thực hiện, trong đó việc hỗ trợ và
hướng dẫn gần 40.000 cộng đồng dân cư thôn, bản xây dựng và thực hiện quy chế bảo
vệ rừng đã góp phần quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, phát huy tính tự quản và sự
cố kết của cộng đồng trong bảo vệ rừng.
- Thực hiện Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 25/11/ 1998 của Thủ tướng Chính
phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp. Uỷ
ban nhân dân các tỉnh đã và đang tổ chức rà soát chiến lược phát triển lâm nghiệp, chỉ
đạo Uỷ ban nhân dân cấp huyện, xã thực hiện các biện pháp tăng cường trách nhiệm

quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng tuy có giảm, nhưng vẫn ở mức cao làm
mất 94.055ha rừng, chiếm 23,5% trong tổng diện tích rừng mất trong 7 năm qua, bình
quân thiệt hại 13.436 ha/năm
2. Tình trạng vi phạm pháp luật còn nghiêm trọng.
Từ năm 1999 đến tháng 10 năm 2008, cả nước đã phát hiện, xử lý 494.875 vụ vi
phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Mặc dù
tình trạng vi phạm giảm qua các năm, nhưng số vụ vi phạm còn lớn, diễn ra phổ biến ở
nhiều nơi, những cố gắng trong ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật chưa tạo được
chuyển biến căn bản.
Tình hình chống người thi hành công vụ diễn ra ngày càng gay gắt, quyết liệt,hung
hãn. Hành vi chống đối có tổ chức (có nơi bầu người lãnh đạo, tổ chức canh gác, đặt
bẫy chông, đá, đập phá phương tiện, tài sản…), dùng các thủ đoạn trắng trợn và côn
đồ, như: đập phá phương tiện của các cơ quan và cán bộ có thẩm quyền, đe doạ xâm
hại tính mạng, sức khỏe, tài sản của người thi hành công vụ và thân nhân, gia đình họ,
khi bị phát hiện hành vi vi phạm, chúng dùng nhiều phương tiện tấn công, kể cả việc
đâm xe vào lực lượng kiểm tra, dùng kim tiêm có máu nhiễm HIV để tấn công
Do lợi nhuận cao từ buôn bán gỗ và động vật hoang dã trái phép, nên tình hìnhdiễn
ra phức tạp ở hầu khắp các địa phương. Đầu nậu thường giấu mặt, thuê người nghèo
vận chuyển, thu gom, tập kết gỗ, động vật hoang dã tại những điểm bí mật rồi tổ chức
vận chuyển đến nơi tiêu thụ. Nhiều thủ đoạn tinh vi được chúng sử dụng để vận
chuyển, tiêu thụ gỗ trái phép, động vật hoang dã trái phép như: dùng xe khách, xe
chuyên dùng, xe cải hoán (hai đáy, hai mui, dùng biển số giả…), giấu gỗ dưới hàng
hóa khác, kết gỗ chìm dưới bè, sử dụng giấy tờ quay vòng nhiều lần Gần đây xuất
Tiểu luận: Thu thập và phân tích nguyên nhân dẫn đến suy thoái nguồn tài
nguyên rừng ở Việt Nam và biện pháp khắc phục
NGUYỄN TRỌNG TUYÊN (543038) 2011
hiện một số đường dây buôn bán gỗ, động vật hoang dã xuyênbiên giới, quá cảnh qua
nước ta sang nước thứ ba.
3. Tình hình phòng cháy, chữa cháy rừng.
Từ năm 1995 đến tháng10/2008, cả nước xảy ra 10.444 vụ cháy rừng, gây thiệt hại

Tiểu luận: Thu thập và phân tích nguyên nhân dẫn đến suy thoái nguồn tài
nguyên rừng ở Việt Nam và biện pháp khắc phục
NGUYỄN TRỌNG TUYÊN (543038) 2011
nhai, lấy đất canh tác hoặc làm thuê cho bọn đầu nậu, kẻ có tiền để phá rừng hoặc khai
thác gỗ, lâm sản trái phép.
- Do cơ chế thị trường, giá cả một số mặt hàng nông, lâm sản tăng cao, nhu cầu về
đất canh tác các mặt hàng này cũng tăng theo, nên đã kích thích người dân phá rừng để
lấy đất trồng các loại cây có giá trị cao hoặc buôn bán đất, sang nhượng trái phép.
- Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong tình hình mới, nhiều công trình
xây dựng, đường xá và cơ sở hạ tầng khác được xây dựng gây áp lực lớn đối với rừng
và đất lâm nghiệp, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động phá rừng,khai thác và
vận chuyển lâm sản trái phép.
- Tình hình thời tiết diễn biễn ngày càng phức tạp, khô hạn kéo dài, bão lũ xảy ra
thường xuyên gây thiệt hại không nhỏ tới tài nguyên rừng. Diện tích rừng khoanh nuôi
phục hồi và rừng trồng tăng lên, dẫn đến nguy cơ xảy ra cháy rừng và sinh vật hại rừng
cao hơn.
b) Nguyên nhân chủ quan.
Một là, công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật và cơ chế chính sách về
lâm nghiệp chưa được thực hiện có hiệu quả. Người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa
chưa nhận thức đầy đủ tính cấp thiết của việc bảo vệ và phát triển rừng, nên vẫn tiếp
tục phá rừng, có nơi còn tiếp tay, làm thuê cho bọn đầu lậu, kẻ có tiền.
Hai là, các ngành, các cấp chính quyền, đặc biệt là cấp xã nhận thức chưa đầy đủ, tổ
chức thực hiện thiếu nghiêm túc trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm
nghiệp. ở những điểm nóng phá rừng, do lợi ích cục bộ, đã làm ngơ, thậm chí có biểu
hiện tiếp tay cho các hành vi phá rừng, khai thác, tiêu thụ lâm sản,sang nhượng đất đai
trái phép, nhưng không bị xử lý nghiêm túc. Sau một thờigian thực hiện các biện pháp
kiên quyết ngăn chặn tình trạng phá rừng theo chỉ đạo của Thủ tướng, một số nơi có
biểu hiện thỏa mãn với thành tích, không duy trì hoạt động thường xuyên, do vậy tình
trạng phá rừng và các hành vi vi phạm pháp luật tiếp tục tái xuất hiện.
Ba là, chủ rừng là các lâm trường quốc doanh, Ban quản lý rừng phòng hộ và rừng

hiệu quả, còn mang tính hình thức, nhiều tụ điểm phá rừng trái phép chưa có phương
án giải quyết của liên ngành. Việc xử lý các vi phạm chưa kịp thời, thiếu kiên quyết,
còn có những quan điểm khác nhau của các cơ quan chức năng ở một số địa phương.
Trong khi lâm tặc phá rừng, khai thác gỗ trái phép với thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo
quyệt; chống trả người thi hành công vụ ngày càng hung hãn; không xử lý kiên quyết,
nghiêm minh, lâm tặc sẽ coi thường pháp luật và tiếp tục chống người thi hành công
vụ với mức độ phổ biến hơn.
Sáu là, lực lượng kiểm lâm mỏng, địa vị pháp lý chưa rõ ràng, trang thiết bị,phương
tiện thiếu thốn, lạc hậu. Chế độ chính sách cho lực lượng kiểm lâm chưa tương xứng
với nhiệm vụ được giao. Vì vậy, ở những vùng trọng điểm phá rừng nếu chỉ có lực
lượng kiểm lâm không thể giải quyết dứt điểm. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn
hạn chế (nhất là nghiệp vụ vận động quần chúng), một số công chức kiểm lâm dao
động trước khó khăn, thậm chí có biểu hiện tiêu cực. Công tác đào tạo, huấn luyện
nghiệp vụ, giáo dục đạo đức phẩm chất cho đội ngũ bảo vệ rừng nhất là kiểm lâm chưa
được coi trọng đúng mức, nên chưa có cơ sở vật chất cho việc đào tạo, huấn luyện.
Tiểu luận: Thu thập và phân tích nguyên nhân dẫn đến suy thoái nguồn tài
nguyên rừng ở Việt Nam và biện pháp khắc phục
NGUYỄN TRỌNG TUYÊN (543038) 2011
Bảy là, cơ sở vật chất cho công tác bảo vệ rừng hết sức khó khăn. Những năm qua
nguồn đầu tư cho bảo vệ rừng chủ yếu từ chương trình 661, nhưng chỉ được 5% cho
xây dựng cơ sở hạ tầng, vì vậy các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng, công trình
nghiệp vụ khác được xây dựng không đáp ứng được yêu cầu bảovệ rừng bền vững. Tỷ
trọng vốn đầu tư của xã hội cho công tác bảo vệ rừng không đáng kể.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG.
Những năm qua công tác bảo vệ rừng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng,nhận
thức về rừng được nâng cao, quan điểm đổi mới xã hội hóa về lâm nghiệp đãđược triển
khai thực hiện có hiệu quả; hệ thống pháp luật về bảo vệ và phát triểnrừng ngày càng
hoàn thiện; chế độ chính sách lâm nghiệp, nhất là chính sách về đa dạng hóa các thành
phần kinh tế trong lâm nghiệp, giao đất, giao rừng, khoán bảovệ rừng và quyền hưởng
lợi từ rừng được ban hành và bước đầu đi vào cuộc sống. Nhà nước đã tăng cường đầu

đối với rừng sản xuất của chủ rừng. Các chủ rừng có diện tích rừng lớn phải có lực
lượng bảo vệ rừng chuyên trách.
- Bảo vệ rừng gắn với phát triển, sử dụng rừng bền vững, duy trì diện tích lâm phần
rừng ổn định, chú trọng bảo vệ rừng tận gốc và kiểm soát lâm sản tại nơi chế biến, tiêu
thụ, hạn chế kiểm soát trong lưu thông.
2. Mục tiêu
a) Mục tiêu tổng quát:
Nâng cao năng lực quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ ổn định lâm phận các loại rừng;phát
huy vai trò, lợi thế của từng loại rừng, trên cơ sở bảo tồn, sử dụng, cung cấp các dịch
vụ và phát triển rừng bền vững, góp phần phát triển kinh tế và xã hội, duy trì các giá trị
đa dạng sinh học của rừng, góp phần tích cực bảo vệ môi trường và thích ứng, giảm
thiểu biến đổi khí hậu.
b) Mục tiêu cụ thể:
- 8,5 triệu hécta rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn được bảo vệ nghiêm ngặt,
từng bước chấm dứt tình trạng khai thác trái phép, cháy rừng đối với hai loại rừng này.
- Giảm căn bản tình trạng vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát
triển rừng, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phá rừng trái phép và thiệt hại do
cháy rừng gây ra; bảo đảm kinh doanh bền vững đối với rừng sản xuất.
- Xóa bỏ căn bản các tụ điểm khai thác, kinh doanh buôn bán lâm sản trái phép; chấm
dứt tình trạng chống người thi hành công vụ.
- Tăng độ che phủ của rừng lên 43% vào năm 2010, cải thiện chất lượng rừng đáp ứng
yêu cầu về phòng hộ, bảo tồn đa dạng sinh học.
3. Nhân tố thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quản lý tài nguyên rừng.
Rừng có ý nghĩa quan trọng với đời sống cộng đồng: Những cuộc phỏng vấn đã cho
thấy rừng có vai trò quan trọng trong sản xuất đời sống hoặc có ý nghĩa tâm linh với
cộng đồng. Họ đã cùng với rừng tồn tại như những bộ phận không thể tách rời của hệ
sinh thái nhân văn.
Tiểu luận: Thu thập và phân tích nguyên nhân dẫn đến suy thoái nguồn tài
nguyên rừng ở Việt Nam và biện pháp khắc phục
NGUYỄN TRỌNG TUYÊN (543038) 2011

thể ba loại rừng toàn quốc;
Tiểu luận: Thu thập và phân tích nguyên nhân dẫn đến suy thoái nguồn tài
nguyên rừng ở Việt Nam và biện pháp khắc phục
NGUYỄN TRỌNG TUYÊN (543038) 2011
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát danh mục hệ thống rừng đặcdụng
để ổn định đến năm 2020 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong năm2006. Trên
cơ sở đó, xác định thứ tự ưu tiên đầu tư cho các khu rừng đặc dụng theo Chiến lược
quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt.
- Xác định ranh giới ba loại rừng trên bản đồ và thực địa; hoàn thành việc đóng cọc
mốc, cắm biển báo ranh giới rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đầu nguồn vào năm
2010.
3. Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật
- Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, Uỷ ban
nhân dân các cấp đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Thiết lập cơ chế,
tổ chức quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo ngành và liên ngành hợp lý để quản lý,
bảo vệ rừng có hiệu quả.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có
liên quan rà soát, hệ thống hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về bảo
vệ và phát triển rừng; sửa đổi, bổ xung, xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật
có liên quan đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ rừng, chính quyền
các cấp và người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trên cơ sở đó,
xây dựng chiến lược khung pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020, tạo
hành lang pháp lý ổn định trong hoạt động lâm nghiệp.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì xây dựng chính sách về bảo vệ rừng
theo hướng đảm bảo lợi ích của những người làm nghề rừng, những người trực tiếp
tham gia bảo vệ rừng, tạo động lực thu hút đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển
rừng. Trong đó, sớm sửa đổi chính sách về quyền hưởng lợi của chủ rừng theo Quyết
định 187/TTg của Thủ tướng Chính phủ; chính sách giao, cho thuê rừng, khoán bảo vệ
rừng; chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng lâm nghiệp trước hết là nâng cao tỷ trọng vốn

nguyên sinh, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ.
- Hoàn thành giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vào năm 2010.
c) Đối với lực lượng Công an.
Bộ Công an chỉ đạo công an các tỉnh, thành phố hỗ trợ và phối hợp thường xuyên
với lực lượng kiểm lâm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng theo một cơ chế
thống nhất; tổ chức điều tra nắm chắc các đối tượng phá rừng, kinhdoanh buôn bán
lâm sản trái phép, đặc biệt phải triển khai các biện pháp kiên quyết trừng trị thích
đáng; ngăn chặn triệt để tình trạng chống người thi hành côngvụ; phối hợp với các lực
lượng có liên quan truy quét bọn phá rừng và kiểm tra,kiểm soát lưu thông lâm sản. Rà
soát và xử lý dứt điểm các vụ án hình sự tồn đọngtrong lĩnh vực bảo vệ rừng.
d) Đối với lực lượng Quân đội
- Huy động các đơn vị quân đội ngăn chặn các điểm nóng về phá rừng: BộQuốc
phòng chỉ đạo các Quân khu, Quân đoàn, Bộ tư lệnh Biên phòng; Bộ chỉ huy quân sự
và Bộ chỉ huy biên phòng các tỉnh phối hợp với chính quyền địa phương xác định
những khu vực rừng đang là điểm nóng về phá rừng, đặc biệt là khu vựcTây Nguyên,
Tiểu luận: Thu thập và phân tích nguyên nhân dẫn đến suy thoái nguồn tài
nguyên rừng ở Việt Nam và biện pháp khắc phục
NGUYỄN TRỌNG TUYÊN (543038) 2011
Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ để tổ chức các đơn vị quân đội đóng quân, chốt giữ, xây
dựng địa bàn quốc phòng an ninh gắn với bảo vệ rừng, bố trí lực lượng, phương tiện
thường trực sẵn sàng tham gia các đợt truy quét chống chặt phá rừng.
Sau khi giải quyết căn bản ổn định tình hình phá rừng trái phép trong một thời gian,
các đơn vị quân đội bàn giao việc bảo vệ rừng cho chính quyền địa phương để tiếp tục
duy trì công tác bảo vệ rừng. Tuy nhiên, ở những khu vực có vị trí quan trọng về quốc
phòng, thì có thể giao quản lý rừng lâu dài cho các đơn vị quân đội.
- Huy động các đơn vị quân đội tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng ở những khu
vực rừng có nguy cơ cháy rừng cao như: U Minh, Tây Nguyên, Đông NamBộ, Uỷ ban
nhân dân các tỉnh phải có phương án để huy động lực lượng quân đội đóng quân trên
địa bàn bố trí lực lượng thường trực, canh phòng và sẵn sàng chữa cháy rừng vào các

định mức bình quân 1.000 ha rừng có 1 kiểm lâm.
- Tăng cường trang thiết bị cho kiểm lâm gồm các phương tiện hoạt động phù hợp
với địa bàn rừng núi, hệ thống thông tin liên lạc, thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng.
- Ban hành một số chính sách về kinh phí cho hoạt động nghiệp vụ, tiền lương,chế
độ thương binh, liệt sỹ, cơ chế sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ để trấn áp lâm tặc. Ban
hành tiêu chuẩn ngạch công chức kiểm lâm vào năm 2006.
- Đánh giá nhu cầu đào tạo về quản lý bảo vệ rừng, lập kế hoạch đào tạo, bồidưỡng
về chuyên môn nghiệp vụ và chính trị cho các đối tượng. Xây dựng chiến lược đào tạo
về bảo vệ rừng đến năm 2010. Tổ chức các chương trình trao đổi kinh nghiệm về công
tác quản lý, bảo vệ rừng.
6. Hỗ trợ nâng cao đời sống người dân.
- Đẩy mạnh việc giao rừng và đất lâm nghiệp, khoán bảo vệ rừng cho các hộ
giađình, cộng đồng dân cư sống chủ yếu bằng nghề lâm nghiệp, đặc biệt là đối với
đồng bào dân tộc khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc; đồng thời hoàn thành việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ rừng.
- Sớm hoàn thành chủ trương giải quyết đất ở, đất sản xuất, hỗ trợ nhà ở cho đồng
bào dân tộc đang gặp nhiều khó khăn, gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia về
xóa đói giảm nghèo, chương trình định canh định cư, quy hoạch và tổchức thực hiện
các dự án ổn định vùng kinh tế mới để người dân có thu nhập từ sản xuất, sớm ổn định
cuộc sống, giảm bớt sự lệ thuộc vào thu nhập từ các hoạt động khai thác rừng trái pháp
luật
- Rà soát ổn định diện tích canh tác nương rẫy theo phong tục tập quán của đồng bào
ở một số khu vực, từng bước chuyển sang phương thức canh tác thâm canh, cung cấp
giống cây trồng phù hợp với lập địa, có hiệu quả kinh tế cao và hướng dẫn kỹ thuật
cho đồng bào.
- Nghiên cứu chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho đồng bào tương đương với thu
nhập từ canh tác quảng canh nương rẫy hiện nay (tương đương khoảng 1 đến 1,5tấn
thóc/hécta/năm) trong thời gian 3 đến 5 năm, cung cấp giống cây rừng và một số vật tư
cần thiết khác cho đồng bào dân tộc tại chỗ để chuyển căn bản họ sang trồng rừng,
đồng thời cho họ được hưởng 100% sản phẩm rừng

- Xây dựng cơ chế về đóng góp tài chính cho hoạt động bảo vệ rừng từ các tổ
chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Uỷ ban nhân dân các tỉnh đáp ứng đủ vốn
đầu tư cho các dự án, chương trình về bảo vệ và phát triển rừng được duyệt với tổng
kinh phí 2.077 tỷ đồng bao gồm: đầu tư cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng 502
tỷ đồng; khoán bảo vệ 4,5 triệu hécta rừng đặc dụng, phòng hộ1.250 tỷ đồng; hoạt
động nghiệp vụ, công trình và trang thiết bị bảo vệ rừng 225 tỷđồng; xây dựng cơ sở
và huấn luyện đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực về bảovệ rừng 100 tỷ đồng.
10. Hợp tác quốc tế.
- Triển khai thực hiện tốt các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên(Công
ước về buôn buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp - CITES;
Tiểu luận: Thu thập và phân tích nguyên nhân dẫn đến suy thoái nguồn tài
nguyên rừng ở Việt Nam và biện pháp khắc phục
NGUYỄN TRỌNG TUYÊN (543038) 2011
Hiệp định ASEAN về chống ô nhiễm khói bụi xuyên biên giới - HAZE; Diễn đàn hổ
toàn cầu - GTF, )
- Thu hút các nguồn vốn ODA và các hỗ trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế cho công
tác bảo vệ rừng.
- Xây dựng và thực hiện các thỏa thuận song phương về hợp tác bảo vệ rừng liên biên
giới với các nước Lào và Cămpuchia
KẾT LUẬN
Tài nguyên rừng Viêt Nam đang gặp phải nhiều vấn đề như nạn phá rừng trái phép
dưới nhiều hình thức và mục đích khác nhau đang diễn ra rất phức tạp, gây nhiều khó
khăn cho các cấp chính quyền cũng như cơ quan chức năng trong vấn đề quảnlý. Đây
là vấn đề mang tính xã hội cao, để giải quyết vấn nạn này không đơn thuần là giải
pháp riêng biệt của một ngành, một lĩnh vực mà cần có những giải pháp tổng hợp với
sự tham gia của nhiều ngành chức năng. Những năm vừa qua, nhiều chính sách hỗ trợ
của Nhà nước đã được thực hiện như chương trình 132, 134, 135đã có tác động tích
cực, góp phần thay đổi bộ mặt của các vùng nông thôn, miền núi, song vẫn chưa giải
quyết được triệt để nạn phá rừng. Với việc đẩy mạnh các hoạt động truyền thông về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status