226
số lượng loài nhiều nhất là Orthomorpha, Tylopus, Pratinus
Nhóm Cuốn chiếu đũa (Juliformia) (hình 9.27K): Thân hình
trụ,nhiều đốt (trên 30 đốt). Ở Việt Nam đã gặp 22 loài, các giống có nhiều
loài là Thyropygus, Glyphiulus và Eucarlia.
1.3.4 Phân lớp Chân môi (Chilopoda)
Bao gồm các động vật nhiều chân có kích thước thay đổi từ bé đến
lớn. Chân môi ăn thịt, sử dụng nọc độc làm tê liệt con mồi. Có họ
Euscolopendridae hoá thách được tìm thấy ở kỷ Các bon. Hiện nay biết
khoảng 2800 loài, xếp thành các nhóm.
Nhóm Rết đất (Geophilomorpha - hình 9.27C,D): Cơ thể rất mảnh,
dài, có 31 – 177 đôi chân tủy loài. Một số phát sáng do tiết dịch chứa lân
tinh gây bỏng da (nhân dân ta thường gọi là giời leo). Ở Việt Nam có 15
loài, các giống có nhiều loài là Ballophilus, Mecistocephalus.
Nhóm Rết (Scolopendromorpha - hình 9.27G): Cơ thể có 21 – 23 đốt
thân đều nhau. Đại diện có loài Scolopendra morsitans gặp phổ biến, kích
thước khá lớn (dài tới 26cm). Ở Việt Nam biết khoảng 13 loài trong họ
Cryptopidae. Các giống có nhiều loài là Scolopendra và Otostigmus.
Nhóm Lithobiomorpha (hình 9.27E): Cơ thể có 15 đôi chân, sống
trong lớp thảm mục và lớp đất mục. Chúng săn bắt các chân khớp nhỏ. Ở
Việt Nam đã biết 9 loài, phần lớn thuộc giống Lithobius.
Nhóm rết chân dài (Scutigiromorpha- hình 9.27H): Cơ thể cũng có
15 đôi chân nhưng chân rất dài, sống trong mặt đất trong rừng ẩm. Cơ thể
có hệ ống khí phát triển và có tầng cuticun mặt. Ở Việt Nam gặp 2 loài là
Thereuonema feae và Thereuopoda longicornis.
2. Lớp Côn trùng (Insecta hay Hexapoda)
2.1 Đặc điểm cấu tạo và sinh lý
2.1.1 Đặc điểm phân đốt và phần phụ
Cơ thể côn trùng trưởng thành được chia làm 3 phần, đó là phần
đầu, phần ngực và phần bụng. Mỗi phần có các phần phụ như phần đầu
đỉnh, vùng trán, vùng má, vùng gáy, vùng chẩm ) trong đó có rãnh chữ Y
ở vùng đỉnh là quan trọng nhất gọi là rãnh lột xác. Khi lột xác thì vỏ của
hộp sọ côn trùng nứt ra theo rãnh này, từ đó côn trùng sẽ chui ra khỏi vỏ
cũ. Phần phụ đầu gồm có râu, mắt kép, mắt đơn và phần phụ miệng.
Râu: Côn trùng chỉ có 1 đôi râu (anten), có hình dạng thay đổi tùy
nhóm loài, có vai trò khứu giác, xúc giác và vị giác
Phần phụ miệng: Gồm 3 đôi nằm ở mặt dưới đầu, bao quanh miệng
làm thành cơ quan miệng. Do các lối dinh dưỡng khác nhau mà phần phụ
miệng của côn trùng biến đổi về cấu tạo (kiểu nghiền, nghiền liếm, hút,
liếm, đốt hút ). Phần phụ miệng nguyên thuỷ và đơn giản nhất là phần
phụ miệng kiểu nghiền. Ví dụ phụ miệng của Cào cào lúa (phần phụ
miệng kiểu nghiền). Cấu tạo gồm có một môi trên, hai hàm trên, hai hàm
dưới, một môi dưới và một tấm hạ hầu. Môi trên là một tấm kitin hình chữ
nhật, cứng, mặt trong có nhiều lông cảm giác. Tấm hạ hầu nằm giữa
không miệng, chia xoang thành 2 ngăn (ngăn thức ăn và ngăn nước bọt).
Hàm trên là một khối kitin cứng, màu đen với nhiều răng nhọn, khớp động
với sọ bằng một khớp lồi và một khớp lõm. Hàm dưới gồm 2 phần: Phần
gốc ngắn và phần ngọn dài hơn có mang xúc biện hàm (5 đốt), tấm nghiền 228
trong và tấm nghiền ngoài. Môi dưới do 2 hàm dưới thứ 2 hợp lại, gồm
cằm phụ, cằm và cằm trước. Cằm trước có một đôi pan môi, tấm bên lưỡi
dày to và tấm lưỡi rất nhỏ. Bằng phương pháp giải phấu và so sánh hình
thái mà người ta đã xác định được từ dạng nguyên thuỷ ban đầu là kiểu
nghiền mà côn trùng biến đổi phần phụ miệng thành các kiểu khác nhau.
Như vậy phần đầu của côn trùng có chức năng cảm giác và lấy thức
ăn, cấu tạo điển hình có 5 đốt. Sơ đồ cấu trúc giống giáp xác nhưng đốt
râu II bị tiêu giảm.
b. Ngực và phần phụ ngực: Ngực gồm 3 đó là đốt ngực trước (prothorax),
229
lên, còn ở Cánh cứng thì đôi cánh trước chuyển hẳn sang chức năng bảo
vệ đôi cánh sau, nên có cấu tạo là 2 mảnh cứng, thường xoè ra cho cánh
sau hoạt động. Ở Hai cánh (ruồi, muỗi ) chỉ có đôi cánh trước hoạt động,
đôi cánh sau tiêu giảm thành 2 mấu giữ thăng bằng và điều chỉnh hướng
bay. ỳ h
Hình 9.29 Hoạt động và nguồn gốc của cánh (theo Dogel)
A. K
ạn;
g
ạ cánh; B. Kỳ nâng cánh; C. Thiếu trùng mối ; D-G. Cắt ngang cánh ở các giai
đo D. Nhộng; E. Bướm mới chui ra khỏi nhộng; G. Bướm bắt đầu bay; 1. Tấm
lưn ; 2. Cánh; 3. Gốc cánh; 4. Tấm bên; 5. Cơ lưng bụng; 6. Cơ dọc; 7. Gốc chân;
8. Nế
ngày lớn từ 6 – 10, ong từ 200 – 500, muỗi có thể tới 1000. Vận tốc bay
của côn trùng đạt từ 7 – 25 km/giờ.
c. Bụng và phần phụ bụng: Số đốt của phần bụng thay đổi tuỳ theo nhóm
côn trùng: Ở côn trùng cổ như bộ Đuôi nguyên thuỷ (Protura) thì bụng vẫn
có 12 đốt, ở các nhóm côn trùng tiến hoá cao thì hai đốt bụng sau thường
tiêu giảm nên bụng còn 10 đốt, thậm chí ở ong, ruồi chỉ còn lại 5 – 6 đốt.
Các tấm kitin của các đốt ở phần bụng có hai tấm bên biến thành màng 230
mỏng nên các đốt bụng có thể co giãn khá lớn. Phần phụ bụng nói chung
tiêu giảm và mức độ tiêu giảm tuỳ theo nhóm côn trùng. Ở các côn trùng
tiến hoá thấp thì vẫn còn dấu vết phần phụ như ở bộ Thysanura còn các
mấu trên các phần bụng, bộ Protura có 3 phần bụng đầu tiên còn phần phụ
hay bộ Collembola có đuôi bật. Các côn trùng tiến hoá hơn thì phần phụ
giao phối, đẻ trứng cũng được xem là phần phụ bụng.
2.1.2 Vỏ cơ thể
a. Cấu tạo vỏ cơ thể: Cấu tạo vỏ cơ thể của côn trùng thể hiện đặc điểm
chung của ngành chân khớp nhưng có nhiều biến đổi để thích nghi.
4. Tế bào mô bì; 5. Tế bào tuyến đơn
bào; 6. Lớp không có canxi; 7. Lớp
canxi; 8. Lớp sắc tố; 9. Procuticun
Tính chất, lý hoá của kitin là không
hoà tan trong nước, rượu, cồn, ête,
axit yếu, kiềm yếu hay đậm đặc.
b. Phần phụ vỏ: Phần phụ vỏ cơ thể côn trùng có rất nhiều kiểu khác nhau:
Trên bề mặt ngoài có các lông (lông cảm giác, lông tự vệ), gai Vỏ cơ
thể của côn trùng có nhiều loại tuyến đơn bào hay đa bào như tuyến hôi ở
phần ngực, của bọ xit, tuyến bảo vệ của nhiều ấu trùng trong đó phổ biến
nhất là tuyến lột xác tiết dịch lột xác trong thời kỳ côn trùng cần vứt bỏ
lớp vỏ cũ và hình thành lớp vỏ mới.
Màu sắc của vỏ cơ thể cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống
côn trùng như dùng để tự vệ, ngụy trang, khoe mẽ (gọi mời con cái hay đe
doạ ). Màu sắc có 3 loại nguồn gốc là màu sắc vật lý, màu sắc hoá học và
màu sắc hỗn hợp giữa hoá học và vật lý. Hiện tượng mất màu sau khi côn
trùng chết là do các tế bào sắc tố bị phân huỷ.
231
2.1.3 Cấu tạo nội quan
a. Hệ cơ: Hệ cơ của côn trùng rất phức tạp, tổng số gần 1,5 – 2.000 bó cơ,
ở côn trùng bay giỏi thì khối lượng cơ chiếm tới 15 – 25% tổng khối
lượng cơ thể. Cấu tạo cơ của côn trùng chủ yếu là cơ vân, phát triển và
chuyên hoá rất cao nhờ vậy cơ thể đưa lại hiệu quả co cơ rất lớn như muỗi
có thể đập cánh tới 1000 lần trong 1 giây, chuồn chuồn có thể bay dài tới
hàng trăm km không nghỉ.
b. Thể xoang và vị trí các cơ quan trong cơ thể: Thể xoang của côn trùng
là khoảng trống trong cơ thể và có nguồn gốc từ lá phôi giữa. thể xoang có
232
hoá rất đặc trưng cho các nhóm côn trùng khác nhau. Côn trùng ăn thịt hay
hút máu thì hệ men phân giải protein chiếm ưu thế, côn trùng ăn thực vật
thì hệ men tiêu tiêu hoá đường chiếm ưu thế hơn, một số côn trùng ăn gỗ
khô thì có trùng roi sống cộng sinh để tiết men tiêu hoá cho chúng như
mối hay mọt gỗ khô. Côn trùng có thể dự trữ năng lượng bằng thể mỡ và
chúng có thể nhịn đói rất lâu như rệp giường có thể nhịn đói tới 6 tháng.
Hình 9.31 Hệ tiêu hoá của côn trùng (Gián nhà)
d. Hệ bài tiết: Cơ quan bài tiết quan trọng nhất là hệ ống malpighi. Ống
malpighi nằm ở ranh giới của ruột giữa và ruột sau, chúng có màu vàng và
có thể tự vận động nhẹ. Số lượng ống malpighi thay đổi tuỳ loài (Ruồi,
Muỗi có 4 cái, Cánh thẳng có hàng chục chiếc, còn Cánh màng có tới hàng
sáng, phần thể mỡ này nằm ngay dưới lớp kitin trong suốt của bụng. Sự
phát sáng có ý nghĩa sinh học là để sự tìm đến nhau của con đực và con
cái. Do có các vi khuẩn phát quang sống cộng sinh trong tế bào của các
thể mỡ này. Quá trình biến đổi tạo ra ánh sáng theo phản ứng:
Luxifêrin + O
2
Ôxyluxifêrin + ánh sáng
Vi khuẩn
lucifêraza
e. Hệ hô hấp: Là hệ thống ống khí rất phát triển ở côn trùng, chúng phân
nhánh khắp cơ thể, đến tận nội quan, mô và tế bào. Tuy nhiên mức độ phát
triển có khác nhau ở các nhóm côn trùng khác nhau. Về cấu tạo có thể chia
thành 3 phần chính là lỗ thở (stigma), các ống khí ( tracheata) và vi khí
quản (trachaeola), một số còn có thêm túi khí.
Lỗ thở là nơi thông hệ ống khí với môi trường ngoài, hình bầu dục,
có xoang không khí và các lông nhỏ bao quanh để ngăn bụi. Cấu tạo có
các phiến được điều khiển bởi các cơ để có thể đóng mở chủ động khi cần
thiết. Số đôi lỗ thở thay đổi tuỳ nhóm côn trùng, nói chung côn trùng càng
tiến hoá thì số đôi lỗ thở càng ít. Ví dụ như ở Gián nhà có 10 đôi lỗ thở (ở
2 tấm ngực và 8 tấm bụng) nằm ở mép của tấm lưng và tấm bụng. Các khí
quản: Bao gồm các khí quản ngang và dọc phân bố khắp cơ thể. Để thích
nghi với sự trao đổi khí và sự chuyển vận của đời sống, khí quản có cấu
tạo bền vững, chắc chắn. Ống khí có nguồn gốc là lá phôi ngoài, vách
trong được bao bọc bởi màng intim là một màng kitin tương ứng với tầng
cuticun của vỏ da. Màng intim tạo thành các gờ xoắn theo kiểu lò xo làm
cho khí quản không bị bẹp khi côn trùng vận động (hình 9.32A, B).
Các vi khí quản: Thường rất mảnh và phân bố tới tận tế bào và mô,
nhiều nhất là các tế bào cơ (hình 9.32C, D).
sự co giãn của cơ buồng tim (hình 9.33). Máu di chuyển từ thể xoang vào
buồng tim qua đôi lỗ tim (do cơ duỗi co đã làm giãn xoang bao tim). Tiếp
theo thành ống tim co để đẩy máu lên động mạch đầu và vào nội quan. Cơ
màng bụng co làm cho máu từ vùng đầu chuyển ra nội quan phía sau rồi
tập trung vào các khe xoang hổng trước khi trở về xoang bao tim. Số
lượng buồng tim thay đổi tuỳ loài (gián có 13 buồng, côn trùng thấp có ít
hơn). Số lần co bóp cũng khác nhau tuỳ nhóm và tuỳ trạng thái hoạt động
của cơ thể. Ví dụ như ở ngài Sphinx ligustri khi đậu co bóp khoảng 70
lần/phút còn khi bay thì đạt tới 140 – 150 lần/phút. Một số côn trùng có
thêm các tim phụ là các túi co bóp ở gốc chân (Bọ xit) hay râu (Gián),
cánh Máu của côn trùng phần lớn không có màu hay có thể có màu vàng
nhạt hay màu xanh (thay đổi tuỳ loài và theo giới tính như ở ấu trùng
bướm Lymantria). Máu gồm huyết tương lỏng và huyết thể. Thành phần
huyết tương của máu thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển khác nhau như
lột xác, hoá nhộng, hoá trưởng thành bao gồm muối vô cơ, chứa nhiều
chất dinh dưỡng các chất thải, men và sắc tố, trong đó hàm lượng nước
giao động khoảng 75 – 90%. Các huyết thể (tế bào máu) gồm các tế bào
amip bơi lội tự do trong huyết tương, có khả năng thực bào, các tế bào
tham gia vào chức năng bài tiết (tế bào quanh tim, tế bào vàng…).
Máu của côn trùng không có sắc tố hoạt tải ô xy hay cố định khí
cacbonic. Riêng ấu trùng muỗi Chironomus máu có chứa sắc tố
hemoglobin, khi nồng độ ô xy trong nước giảm, lượng sắc tố cũng giảm. 235
tuyến nước bọt (dây vận động và dây cảm giác). Hai dây thần kinh lớn
chạy về phía sau tạo thành chuỗi thần kinh bụng. Chuỗi thần kinh bụng
gồm 3 đôi hạch ở phần ngực (điều khiển hoạt động của chân và cánh) và 6
– 11 đôi hạch ở phần bụng điều khiển phần bụng và phần phụ bụng. Ở
nhiều côn trùng thì từng đôi hạch hợp lại tạo thành một hạch ở mỗi đốt.
Thường ở giai đoạn phôi, số đốt hạch nhiều hơn ở dạng trưởng thành. 236
Khuynh hướng tấp trung thần kinh theo chiều dọc thể hiện ở nhiều nhóm
côn trùng (hình 9.34). đ
aria; 1. Nã
iao cảm
Hệ thần kinh giao cảm của côn trùng có các hạch trán nằm trước não
và nối với não sau, từ hạch này có các dây thần kinh đi môi trán nối với
hạch dưới não và hạch miệng. Ngoài ra còn có các hạch thần kinh giao
cảm chạy dọc chuỗi thần kinh bụng, toả nhánh ra hai bên ứng với mỗi đốt
và phần cuối có dây thần kinh điều khiển ruột sau và cơ quan sinh dục.
Giác quan: Đặc điểm nổi bật là giác quan của côn trùng rất tinh tế,
nhạy bén và cũng rất đa dạng. Điều nay liên quan đến hoạt động sống rất
phức tạp để thích nghi với điều kiện sống vốn rất đa dạng. Có thể thông kê
các loại cảm giác ở côn trùng là thị giác, xúc giác, thính giác, thuỷ nhiệt,
khứu giác
Cơ quan thị giác là mắt đơn và mắt kép. Mắt đơn bao gồm mắt lưng
và mắt bên. Mắt bên chỉ có ở giai đoạn ấu trùng. Mắt lưng cũng tương
đồng với mắt kép có ở giai đoạn trưởng thành. Số lượng mắt lưng thường
là 2 hay 3 và xếp thành hình tam giác. Mắt lưng có cấu tạo như sau: Bên 237
ngoài cũng có màng cứng, trong suốt, ben trong có các tế bào thị giác và
thường có cả tế bào sắc tố.
Mắt kép có 1 đôi, mỗi mắt kép gồm nhiều ô mắt (ommatidium), mỗi
ô mắt là một mắt đơn lẻ. Số lượng ô mắt thay đổi tuỳ nhóm côn trùng. Ví
dụ như chuồn chuồn là côn trùng bay giỏi và mỗi mắt kép có tới 28.000 ô
mắt, còn mắt kép của kiến thợ chỉ có 8 – 9 ô mắt (hình 9.35).
mm. Khả năng phân biệt màu sắc và cường độ ánh sáng cũng rất khác
nhau và so với người thì cũng khác, phổ ánh sáng mà chúng nhận biết
được thiên về vùng sóng ngắn do vậy nhiều chi tiết chúng nhận biết được
nhưng mắt người không phân biệt được. Ví dụ như ong không nhìn được
màu đỏ, nhưng có thể nhìn tất cả các màu còn lại (kể cả tia tử ngoại).
Ngoài tự nhiên thì ong thích nhất màu hoa xanh lơ và màu hoa tím. Côn
trùng có thể nhận nhanh ảnh của vật tới 300 lần trong một giây, còn người
là 20 lần/ giây nhằm thích nghi với sự di chuyển nhanh khi bay.
ế
Cơ quan thụ cảm là môi giới trung gian giữa cơ thể côn trùng và môi
trường ngoài. Tùy theo các loại kích thích mà cơ thể côn trùng có các phản
ứng đáp lại, cộng tất cả các hoạt động đáp lại đó chính là hành vi của côn 238
trùng. Đơn vị cơ sở của tế bào thần kinh cảm giác ở côn trùng là các
sensil. Mỗi sensil gồm 2 phần: phần cấu trúc da và tế bào cảm giác nằm
phía dưới. Thường thì mỗi sensil có một tế bào cảm giác và tuỳ theo vị trí
mà người ta chia thành 2 loại sensil là nổi và chìm. Sensil nổi là lồi ra khỏi
bề mặt vỏ cơ thể, còn sensil chìm thì ẩn dưới lớp vỏ mỏng.
Thụ cảm cơ học: Là các lông cảm giác nằm rải rác khắp trên bề mặt
cơ thể. Đó là các sensil nổi gắn liền với các lông cứng cảm giác. Bao gồm
thụ cảm về xúc giác, chấn động hay về thăng bằng. Khi lông cảm giác tiếp
xúc với vật rắn hay dòng nước, dòng khí hay các rung động khác thì cảm
giác này được truyền về cho tế bào cảm giác và tạo nên hưng phấn
truyền về trung ương thần kinh.
Thính giác (âm thanh): Bao gồm nhiều sensil nằm giữa 2 đoạn
cuticun, mỗi cơ quan này gồm 3 tế bào là tế bào chóp, tế bào bao quanh và
tế bào thần kinh cảm giác. Cơ quan thụ cảm âm thanh phân bố ở các vùng
khác nhau của cơ thể như bụng, râu, chân trước và thường có vị trí đối
năng: Tuyến hàm hay còn gọi là tuyến giáp (corpora allata): Được hình
thành từ lá phôi ngoài, hình chồi, nằm giữa đốt hàm trên và đốt hàm dưới.
Chất tiết là hoomon sinh trưởng. Tuyến lưng (tuyến tim – Corpora
cardiaca): Gồm có 2 thể hay một khối có liên hệ với tuyến hàm, được hình
thành từ thành lưng của đốt ngực trước. Chất tiết của tuyến này điều hoà
hoạt động của tuyến não. Tuyến ngực trước: Là một đôi tuyến nằm ở mặt
bụng của ngực trước. Ở sâu non tiết ra hoomon ecdizon có công thức khái
quát là C
18
H
30
O
4
làm mất đình dục và kích thích quá trình lột xác. Tế bào
thần kinh tiết của não thuỳ tiết chất hoomon não và kích thích hoạt động
của tuyến ngực trước. Khi tuyến này ngừng hoạt động thì sự phát triển
dừng lại và côn trùng rơi vào trạng thái đình dục (diapause).
g. Hệ sinh dục: Đa số côn trùng phân tính, chỉ có một số ít côn trùng lưỡng
tính như rệp, côn trùng Hai cánh sống trong tổ mối. Thường có hiện tượng
dị hình chủng tính rõ rệt (hình dạng, màu săc, trạng thái sinh lý ).
Cơ quan sinh dục đực: Gồm một đôi tuyến tinh dạng viên đơn giản
hay nhiều thùy, ống dẫn tinh đổ vào ống phóng tinh, các tuyến phụ cũng
đổ vào ống phóng. Tận cùng là cơ quan giao phối rất đặc trưng cho các
loài và là đặc điểm chẩn loại. Các loài côn trùng không có cơ quan giao
phối thì bao tinh được gắn lỗ sinh dục cái khi giao phối (hình 9.36).
Cơ quan sinh dục cái: Gồm một đôi tuyến trứng, thường có dạng
búi, số lượng biến đổi tuỳ loài (từ 1 đến hàng ngàn). Mỗi ống gồm có phần
đỉnh là phần sinh trứng, phần dưới là phần chứa trứng, có nhiều ngăn. Các
ống sinh trứng tập trung vào 2 ống dẫn trứng, chập lại thành âm đạo rồi đổ
ra ngoài qua huyệt sinh dục cái. Cạnh âm đạo có túi nhận tinh (hình 9.36).
Hiện tượng đực cái cùng cơ thể: Có một số ít loài trên cơ thể có cả
tính đực và cái như rệp bông Icerya purchasi (có tới 99% số cá thể). Trong
tuyến sinh dục con cái có cả trứng và tinh trùng (một phần tế bào mặt
ngoài của tuyến sinh dục phát triển thành trứng, phần tế bào phía trong
hình thành nên tinh trùng). Sự thụ tinh đều do cá thể của cùng 1 cá thể.
Sinh sản đơn tính (trinh sản – parthenogenes): Trứng con cái đẻ ra
không qua thụ tinh vẫn phát triển bình thường. Có thể trinh sản độc lập
như ở mối có trứng không thụ tinh thành con đực, hay xen kẽ với lưỡng
tính có chu kỳ như rệp muội (nhiều lần trinh sản, 1 lần lưỡng tính).
Sinh sản sâu non: Một số loài thuộc họ muỗi năn (Cecidomyiidae),
Bọ chỉ hồng (Chironomidae), họ Micromatidae bộ Cánh cứng ấu trùng
có buồng trứng chín và trứng không qua thụ tinh vẫn phát dục hình thành
nên ấu trùng mới, ấu trùng này sau đó lớn đẫy thì đục cơ thể mẹ chui ra và
tiếp tục phương thức sinh sản của con mẹ. Nhiều trường hợp có xen kẽ với
sinh sản lưỡng tính, hình thành giai đoạn nhộng và trưởng thành.
Sinh sản đa phôi: Từ một trứng phát triển thành nhiều cá thể do giai
đoạn phôi đã phân chia thành các hạch bào tử, chùm hạch bào tử và rất
nhiều phôi. Số lượng phôi sai khác nhau (từ 2 – 2000 phôi). Thường gặp ở
các loài ong ký sinh thuộc họ Chalcidae, Braconidae
Sinh sản thai sinh (đẻ con): Là do trứng phát triển trong cơ thể mẹ ra
ngoài dưới dạng ấu trùng. Thường gặp ở họ rệp muội (Aphidae), Ruồi
Tachnidae, Ruồi nhà Muscidae
241
1. Dải phôi; 2. Màng trong; 3. Màng
ngoài; 4. Noãn hoàng; 5. Mầm chung của
lá phôi trong và lá phôi giữa; 6. Xoang
bao phôi (t. trước, s, sau, l. lưng; b. bụng)
+ Ở côn trùng không có cánh (thấp) thì phát triển trực tiếp, không có
biến thái. Con non chui ra khỏi vỏ trứng thì có những nét cơ bản giống với
trưởng thành, chưa có đủ số đốt bụng, sau đó lột xác sẽ hoàn thiện dần.
+ Ở côn trùng có cánh (tiến hoá cao) thì phát triển có biến thái,
nghĩa là hình thành ấu trùng. Trải qua thời gian phát triển tiếp theo mới
hình thành đầy đủ các đặc điểm hình thái ngoài cũng như cấu tạo trong
của con trưởng thành. Tuỳ theo mức độ biến thái mà chia ra: Biến thái
không hoàn toàn và biến thái hoàn toàn:
Biến thái không hoàn toàn: Thường gặp ở côn trùng tiến hoá thấp
như Cánh thẳng, Chuồn chuồn, Phù du, Cánh nửa, Cánh đều, Cánh da,
Cánh giống Vòng đời có 3 pha phát triển là trứng, thiếu trùng và trưởng
thành. Sâu non mới nở ra khá giống với trưởng thành và được gọi là thiếu
trùng (ví dụ như chưa có cánh, chưa đủ số đốt, chưa có hệ sinh dục thứ
cấp ). Sau một số lần lột xác để hoá trưởng thành (hình 9.38).
Biến thái hoàn toàn: Thường gặp ở Cánh cứng, cánh vảy, cánh
Màng, Hai cánh Vòng đời có 4 pha phát triển là trứng, ấu trùng, nhộng
và trưởng thành. ấu trùng nở ra từ trứng khác hẳn trưởng thành về đặc
điểm hình thái, đặc điểm sinh học. Ví dụ như ấu trùng bướm ăn lá cây, có
phần phụ kiểu nghiền, còn bướm thì hút mật hoa, có phần phụ miệng hút.
Từ ấu trùng để đến được giai đoạn trưởng thành, ấu trùng phải lột xác
nhiều lần và trải qua pha phát triển mới là nhộng (hình 9.39). 242 Pha ấu trùng của côn trùng biến thái hoàn toàn thường có hình dạng
khác nhau với 3 đôi chân ngực và có thêm một số đôi chân ở phần bụng
(ấu trùng Cánh vảy) hay tiêu giảm hoàn toàn (ấu trùng Hai cánh). Trên bề 243
mặt cơ thể thường có các gai, lông và màu sắc rất khác nhau. Dựa vào
hình dạng ngoài có thể chia thành các kiểu như sâu non dạng dòi (Hai
cánh), dạng bướm (Cánh vảy), dạng Campo (Bọ Ba đuôi), dạng bắp cày
(Cà niễng, Bọ rùa), dạng Bọ hung (Bọ hung, Bọ vừng), dạng sâu non
Cyclops (tương tự như giáp xác Chân kiếm). Pha nhộng của côn trùng
biến thái hoàn toàn được chia là các dạng khác nhau dựa vào đặc điểm
hình thái. Thường gặp hai dạng nhộng chính là nhộng hở và nhộng kín.
Nhộng kín là có các phần phụ dính sát vào cơ thể và có một màng mỏng
bao bọc bên ngoài. Nhộng hở hay nhộng tự do, các phần phụ của cơ thể
nằm tự do, không dình sát vào cơ thể và không có màng bao bọc.
Nhộng là giai đoạn đặc trưng của biến thái hoàn toàn, đây không
phải là giai đoạn tĩnh mà là sự biến đổi rất lớn. Là quá trình tiêu mô của
giai đoạn ấu trùng và sinh mô mới của giai đoạn trưởng thành nghĩa là xây
dựng lại toàn bộ cấu trúc cơ thể của dạng trưởng thành từ các tế bào đĩa
mầm. Mỗi giai đoạn phát triển của côn trùng biến thái hoàn toàn giữ một
chức năng chủ yếu của loài. Ấu trùng là giai đoạn tích luỹ năng lượng nên
chúng ăn rất khoẻ, tham gia tích cực vào quá trình cải tạo đất hay gây hại
lớn cho cây trồng. Trưởng thành là giai đoạn sinh sản, duy trì nòi giống.
Pha trưởng thành có nhiều đặc điểm quan trọng, có lối sống phong phú và
hoạt động rất tinh tế, thích nghi với cao độ với điều kiện sống của môi
trường. Đến giai đoạn trưởng thành côn trùng thường không lớn thêm, làm
nhiệm vụ duy trì sinh sản. Trưởng thành có các đặc điểm như sau:
tượng sinh lý bình thường, gắn liền với sự thay đổi điều kiện của môi
trường như thiếu thức ăn, tăng hay giảm nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng. Ví dụ
như ở Việt Nam kén sâu sòi thường đình dục từ tháng 11 đến tháng 3 năm
sau, ứng với thời gian lá sòi rụng hết, đến đầu tháng 4, lúc cây sòi đâm lộc
thì cũng là lúc hoá trưởng thành.
Bản năng của côn trùng: Bản năng của côn trùng thực chất là một
chuỗi phản xạ không điều kiện được điều khiển bởi thể nấm và rất phức
tạp và tinh tế. Đặc điểm của bản năng là mang tính di truyền. Bản năng
thường có tính bền vững, khó thay đổi. Như các bản năng của côn trùng
như xây tổ, giao hoan, phân đàn, chăm sóc con cái, ấp trứng Bản năng
đặc biệt phát triển ở côn trùng có đời sống xã hội. Ví dụ như bản năng xây
tổ phổ biến ở nhóm côn trùng Cánh màng (Hymenoptera), Cánh đều
(Isoptera). Quá trình xây tổ của ong rất công phu và có nhiều động tác rất
"sáng tạo, chính xác và khoa học", hoặc kiến xây tổ trên mặt đất rộng tới
100m
2
, trông như một pháo đài hay dùng lá để khâu thành một cái tổ rất
vững chắc như loài kiến Oecophylla smaragdina. Chúng sử dụng con non
nhả tơ làm guồng chỉ, khâu 2 mép lá cây làm tổ. Bản năng chăm sóc con
cái khá phổ biến ở côn trùng và có nhiều hình thức như chọn nơi đẻ trứng
thích hợp, chuẩn bị sẵn thức ăn cho con non như các loài côn trùng ký
sinh, ong mật dự trữ mật và phấn hoa cho con non, tò vò chuẩn bị thức ăn
tươi, bọ hung chuẩn bị phân tươi trước khi đẻ trứng Tập tính "bắt nô lệ"
của kiến Polyergus ruescens được hình thành do kiến thợ của loài này
ngoài khả năng chiến đấu thì không biết làm gì khác và có thể chết đói
ngay bên cạnh thức ăn. Loài kiến trồng trọt Mesor barbarus thường chọn
các hạt giống tốt mang đi cất (một tổ có tới hơn nửa kilôgam hạt và và tới
35 loại hạt giống khác nhau). Các giống kiến Atta và Acromyrmex có khả
năng nhân giống nấm mà chúng thích ăn và chúng có thể gìn giữ giống
này để nhân giống sau này cho thế hệ con. Giống kiến Lasius thích hút
Hình 9.40 Một số đại diện của bộ Đuôi bật (theo Borrer)
A. Orchesella (Entomobryidae);B. Bourletiella (Smithuridae); C. Burletiella nhìn mặt
lưng. Isotomurus (Entomobryidae);F. Anurrida (Poduridae);co: đuôi bật; fur: gai đuôi 246
Ở Việt Nam nhóm côn trùng này còn ít được nghiên cứu, chỉ có
nhóm Đuôi bật đã có một số công trình nghiên cứu vì vai trò quan trọng
của chúng trong việc cải tạo đất, đã phát hiện được 62 loài, tập trung trong
2 họ là Isotomidae và Entomobryidae. Giống phong phú nhất là
Lepidocitrus, Pseudosinella và Proisotoma Trong khi đó thì trên thế giới
hiện nay biết khoảng 3 bộ phụ, 5 họ với 1.100 loài (theo Essig).
2.3.2 Phân lớp Hàm ngoài hay Hàm lộ (Ectognatha)
Bao gồm các côn trùng có phần phụ miệng đa dạng, chìa ra ngoài.
Kích thước thay đổi, biến thái khác nhau, có mắt kép, khí quản phát triển ở
dạng trưởng thành Chia làm nhiều bộ.
a. Bộ Ba đuôi (Thysanura)
Kích thước bé (dưới 2mm), không có cánh, phần phụ miệng kiểu
247
Hiện biết khoảng 4500 loài, chia thành 2 nhóm lớn là Chuồn ngô
(Anisoptera) và Chuồn kim (Zygoptera) sai khác nhau về tư thế của cánh
khi đậu và hình dạng của thiếu trùng. Hoá thạch có từ kỷ Cacbon. Ở Việt
Nam đã phát hiện được 122 loài. Đại diện có các giống thường gặp
Onychogomphus, Gomphus, Leptogomphus (chuồn ngô, chuồn ông),
Lestes, Megalestes, Ischnura (chuồn kim).
c. Bộ Gián (Blattoptera)
Là nhóm sâu bọ cổ, cơ thể có kích thước trung bình (10 – 40mm).
Biến thái không hoàn toàn. Có 2 đôi cánh, xếp bằng trên lưng, đôi cánh
trước dày hơn đôi cánh sau. Chân chạy, phần phụ miệng kiểu nghiền. Râu
rất dài và linh hoạt, cuối bụng có 1 đôi phần phụ cảm giác (cercus). Trứng
được đẻ trong bao. Các loài sống trong nhà ăn tạp, sinh sản nhanh và gây
hại (cắn hỏng đồ dùng, truyền bệnh ), dạng sống ngoài tự nhiên có một
số loài có tác dụng cải tạo đất. Hiện nay biết khoảng 3000 loài. Loài phổ
biến là gián nhà (Periplaneta americana, Blattaria germanica) (hình
9.42). Ở rừng gặp các giống Supella, Ischnoptera, Eoblatta.
Hình 9.43 Một số bộ côn trùng (theo Fox)
A. Bọ que (Phasmoptera); B-D. Orthoptera (họ Tettigonidae); C. Họ Gryllidae, D. Họ
Gryllotalpidae); E. Bộ Embrioptera; F. Bộ Dermaptera; G. Bộ Corodentia
Họ Châu chấu (Acrididae = Locustidae): Đại diện có các loài như
Châu chấu di cư (Locusta mirgatoria), châu chấu sa mạc (Schistocerca
gregaria), châu chấu ma rốc (Dociostaurus maroccanus) phân bố chủ yếu
ở các nước châu Á, châu Phi và châu Âu. Ở Việt Nam có các loài như
châu chấu nâu (Oxya velox, Oxya sinensis), thường gây hại trên ruộng lúa,
mạ, Châu chấu tre lưng vàng (Ceracris kiangsu), châu chấu tre lưng xanh
(Ceracris nigricornis) phá hại tre nứa, mai, giang Một đàn châu chấu di
cư có thể tạo thành đám mây với kích thước 50 vạn ha, trọng lượng
khoảng 44 triệu tấn và sức tàn phá thật khó hình dung nổi. 249
Họ Dế mèn (Gryllidae): Có cơ quan phát thanh là cọ xát cánh, cơ
quan thính giác ở ống chân trước. Sống trên mặt đất, ruộng, vườn và rừng
cây, hoạt động về đêm. Đại diện có loài dế mèn (Gryllus testaceus).
Họ sát sành (Tettigonidae): Râu đầu rất dài, chân sau kiểu nhảy. con
đực có thể phát tiếng kêu bằng cách cọ xát 2 cánh trước, cơ quan thính
giác ở đốt ống chân trước. Đại diện có loài Euconocephalus pallidus.
Côn trùng có 2 đôi cánh giống nhau
về kích thước và hệ thống gân cánh, cánh
chỉ có ở cá thể sinh sản, trước khi giao
phối, còn sau khi giao phối thụ tinh thì
cánh bị rụng đi. Các thành viên của tập
đoàn bao gồm mối vua, mối chúa, mối
lính, mối thợ và các cá thể non. Chúng
thường sống trong tổ, tổ được xây dựng
rất công phu, kiên cố và tiện lợi. Kích
thước tổ có thể đạt tới chiều cao hàng
chục mét (tổ của loài Bellicositermes
natalensis và B. bellicosus có chiều cao
là 20 – 30 m). Mối ưa hoạt động nơi có
độ ẩm cao, thiếu ánh sáng. Thức ăn chủ
yếu là gỗ và các sản phẩm có cấu tạo
bằng xenluloz do trong ruột mối có trùng
roi sống cộng sinh. Mối phá hoại nhiều
công trình như nhà cửa, cầu cống, cây
cối, đê đập (hình 9.44).
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu cho thấy đã phát hiện được
khoảng 82 loài mối trong số 2500 loài mối trên toàn thế giới (Nguyễn Đức
Khảm, 1996), trong đó có 25 loài phá hại công trình kiến trúc, 30 loài hại
đê đập và nhiều loài phá hại cây trồng. Các giống có nhiều loài là
Odontotermes, Macrotermes, Nasutitermes (Họ Termitidae),
Reticulitermes Coptotermes (Họ Rhinoterrmitidae). Đại diện có các loài
như Coptoterrmes domesticus hại gỗ khô trong nhà, Coptotermes
formosanus phá hại các công trình kiến trúc. Hình 9.46 Một số họ quan trọng của bộ Cánh nửa (theo Storer)