290
Vòng máu quanh miệng và vòng máu đối miệng liên hệ với nhau nhờ vào
cơ quan trụ. Máu có nhiều bạch cầu và nhận chất dinh dưỡng từ ruột đi nuôi
cơ thể (hình 11.15A, B).
Hình 11.15 Cấu tạo trong của sao biển (A) và tuần hoàn cảu sao biển (B)
(theo Natali)
A: 1. Mang da; 2. Gai xương; 3. Gai khớp; 4. Dây thần kinh phóng xạ; 5. Ống đá; 6.
Tấm sàng; 7. Ampun; 8. Ống nước phóng xạ; 9. Chân ống; 10. Cơ quan trụ; 11. Mạch
máu vùng đối miệng; 12. Mạch máu phóng xạ; 13. Miệng; 14. Dạ dày; 15. Cuống của
tuyến tiêu hoá; 16. Túi gan; 17. Hậu môn; 18. Tuyến sinh dục B: 1. Vòng máu quanh
miệng; 2. Mạch máu phóng xạ; 3. Mạch máu tới da; 4. Cơ quan trụ; 5. Vòng máu đối
chuyển ra ngoài cơ thể qua các
phần biểu mô mỏng. Cũng có khi
các tế bào này bắt thể lạ, tích luỹ
chúng dưới da hay nội quan, tạo
thành các vùng hạt có màu vàng.
Các tế bào amip do đó luôn luôn
được đổi mới nhờ cơ quan trụ và
tuyến tideman sinh ra chúng.
Phức hợp cơ quan trụ nằm
giữa trục cơ thể gồm có các phần
chính sau: 1 - Ống đá và tấm sàng
của hệ thống ống dẫn nước, 2 - cơ
quan trụ trong có mạch máu, 3 -
Khe hổng trái và khe hổng phải
của trụ là các phần của thể xoang.
Khe hổng trái xuất phát từ vòng
Hệ thần kinh rất điển hình cho ngành động vật Da gai, có 3 mạng thần
kinh là hệ ngoài, hệ dưới da và hệ trong. Giác quan của Sao biển phát triển
kém. Cơ quan xúc giác là chân ống với 5 tua ngắn ở tận cùng 5 cánh. Ở gốc
tua có mắt, cấu tạo đơn giản theo kiểu hố mắt nên chỉ có thể phân biệt được
sáng và tối. Có thể Sao biển cũng nhận biết được mùi vị. Trong thí nghiệm
phá huỷ mắt, Sao biển vẫn có thể bò về phía có miếng thịt bỏ trong bể nuôi.
Sao biển phân tính, có 5 đôi tuyến sinh dục chia nhánh ở gốc tay và
ống dẫn sinh dục ngắn đổ ra giữa tay.
b. Sinh sản, phát triển và sinh thái
Thụ tinh và phát triển ngoài, hình thành nên ấu trùng bipinnaria đặc 292
trưng cho Sao biển. Giai đoạn tiếp theo hình thành ấu trùng Brachiolaria.
Sau một thời gian chìm xuống đáy để hình thành Sao biển trưởng thành
(hình 11.17). Ngoài ra sao biển còn có khả năng tái sinh cao.
Bộ Phanerozenia có các giống Linckia, Astropecten ; Bộ
Forcipulata có giống Asterias; Bộ Spinulosa có giống Acanthaster
Ở biển Việt Nam đã gặp khoảng 60 loài Sao biển thuộc 2 bộ là
Phanerozenia và Spinulosa. Các họ thường gặp là Astropectinidae,
Luidiidae và Goniasteridae. Đại diện có loài như con chong chóng
(Astropecten velitaris), Luidia prionota, Crospidasterhesperus, Creaster
nodosus, Linckia laucigata, Linckia laevigate, Anthenea pentagonula
3.2.2 Lớp Đuôi rắn (Ophiuroidea)
a. Đặc điểm cấu tạo
Đuôi rắn có phần đĩa trung tâm và 5 tay khớp với đĩa trung tâm. Về
hình dạng khá giống với Sao biển, nhưng có sai khác quan trọng là các
phần nội quan không đi vào các tay như Sao biển. Hay nói cách khác là
cánh tay tách biệt với phần đĩa trung tâm. Xương của cánh tay rất phát
triển, đặc biệt 2 dãy tấm chân ống dính thành cột sống ẩn vào trong là các
ống xương gồm nhiều đốt khớp vào nhau (hình 11.18).
Cánh tay có thể uốn sóng khi di chuyển. Chân ống kém phát triển giữ
nhiệm vụ cảm giác và hô hấp là chính.
Nội quan: Hệ tiêu hoá kín (thiếu ruột sau), không có hậu môn và các
tuyến tiêu hoá. Hệ thần kinh cấu tạo theo kiểu 3 mạng. Hệ tuần hoàn và
xoang máu giả kém phát triển. Hệ sinh dục có sự hình thành 5 đôi túi sinh
dục ở mặt miệng, gần gốc tay, có thành mỏng, thông với bên ngoài qua
khe hẹp. Túi sinh dục vừa đảm nhận chức phận sinh dục vừa tham gia vào
nhiệm vụ hô hấp.
b. Sinh sản, phát triển, sinh thái
Phân tính, thụ tinh trong, có trường hợp phát triển thành con non
trong túi sinh dục. Phát triển trong nước qua giai đoạn ấu trùng
Ophiopluteus, bơi lội tự do. tiếp theo hình thành con non rồi chìm xuống
đáy để phát triển thành con trưởng thành. Có khả năng tái sinh cao, một số
loài trong giống Ophiactis có thể sinh sản vô tính bằng cách cắt đôi thân
qua đĩa thân, mỗi phần sẽ mọc thêm phần còn thiếu.
Ophiomastrix.
Ở vùng biển Việt Nam đã biết khoảng 90 loài Đuôi rắn. Các giống
có nhiều loài là Ophiothrix, Ophiactis, Ophiocoma, Ophiomastrix,
Amphioplus. Các loài phổ biến ở vịnh Bắc Bộ là loài Amphioplus
depressus thường sống ven bờ, loài Ophiactis savigni lúc là con non có 6
cánh, lúc trưởng thành còn lại 5 cánh, loài Ophiothrix oxigua có 2 đường
sọc đen và đường sọc màu trắng ở giữa mỗi cánh, thường sống ven bờ;
loài Trichaster palmiferus sống vùng đáy cát hay đá ở độ sâu khoảng 30 -
100m, thường gặp ở phía tây và phía nam của vịnh. Các loài phân bố rộng
là Ophiothrix longipeola; Ophiura crassa; Ophiscoma erinaeus
3.2.3 Lớp Cầu gai (Echinoidea)
a. Đặc điểm cấu tạo cơ thể
Cơ thể hình cầu, hình đĩa hay hình trứng, toả ra rất nhiều gai nhỏ ra
xung quanh nên có tên gọi là cà ghim hay nhím biển, có đối xứng toả tròn
bậc 5 (hình 11.19).
Cực tiếp xúc với giá thể được gọi là cực miệng, phía đối diện được
gọi là cực đối miệng. Do Cầu gai có hình cầu nên không có cánh. Từ cực
miệng đến cực đối miệng có 10 dãy đôi tấm xếp phóng xạ với 2 loại dãy 295
xen kẽ nhau. Năm dãy gồm có 2 hàng tấm tương đối bé, mỗi tấm có 2 lỗ để
chân ống từ trong thò ra ngoài nên tương ứng với dãy chân ống của Sao
biển, còn gọi là dãy phóng xạ. Ở cực đối miệng dãy tấm chân ống được kết
thúc bằng tấm mắt, có mắt đơn giản trên mỗi tấm. Xen kẽ với 5 dãy tấm
chân ống có 5 dãy gồm 2 hàng tấm lớn hơn, không có lỗ, được gọi là dãy
gian phóng xạ, dãy này tận cùng bằng tấm sinh dục, có lỗ sinh dục trên một
tấm. Một trong 5 tấm sinh dục là tấm sàng, có nhiều lỗ thông với hệ ống dẫn
nước. Như vậy là trên cực đối miệng có 5 tấm xếp xen kẽ với 5 tấm sinh
dục lớn bao quanh vùng hậu môn.
296 Hệ thần kinh giống Đuôi
rắn, cơ quan cảm giác có mắt
và cơ quan thăng bằng. Cơ
quan hô hấp chuyên hoá là 5
đôi mang phân nhánh nằm
quanh miệng. Hệ sinh dục cấu
tạo đơn giản, tuyến sinh dục
phân tính dạng vòng, bao
quanh ruột (con non), con
trưởng thì hình túi. Một cách
nhìn tổng quát, có thể hình
dung sơ đồ cấu trúc cơ thể của
Cầu gai là do cấu trúc cơ thể
các giống phổ biến như Clypeaster, Spatangus.
297 Hình 11.21 Cấu tạo của Cầu gai
(theo Pechnik)
A. Ecginus esculentus bỏ hết gai
ngoài; B. Cấu tạo trong của Arbacia
punctulata 1. Vùng phóng xạ;
2. Vùng gian phóng xạ; 3. Nhú gai;
4. Gốc của gai bi loại bỏ; 5. Gai;
6. Hậu môn; 7. Tấm sáng; 8. Lỗ sinh Các tấm xương tiêu giảm. Mặt lưng
ứng với 2 vùng phóng xạ, chân ống
tiêu giảm, còn mặt bụng ứng với 3
vùng chân ống phát triển. Thể xoang
tiêu giảm, nằm rải rác trong các tế bào
biểu mô liên kết. Thành cơ thể dưới
lớp biểu mô là lớp cơ dày, gồm có cơ
vòng ở ngoài và 5 bó cơ dọc nằm
tương ứng với các vùng phóng xạ.
Tiếp theo là biểu mô thành thể xoang
và xoang rộng.
Hệ tiêu hoá có ống ruột dài,
cuộn vòng, trước khi đổ ra hậu môn
thì phình to thành xoang huyệt. Thông
với xoang huyệt có 2 cơ quan đặc
trưng là phổi nước và cơ quan Cuvier.
ruột. Từ vòng máu quanh miệng xuất phát 5 mạch phóng xạ nằm giữa ống
nước phóng xạ và dây thần kinh. Cũng từ vòng máu quanh miệng có mạch
máu trên ruột và dưới ruột. Hệ hô hấp là phổi nước, là 2 túi lớn, chia nhiều
nhánh, nằm trong thể xoang ở 2 bên ruột. Phần cuối hai phổi đổ chung vào
một ống, rồi đổ vào huyệt. Nước biển vào và ra phổi rất nhịp nhàng để trao
đổi khí. Hải sâm không có cơ quan bài tiết riêng, các chất cặn bã được tập
trung bằng tế bào amip trong thể xoang rồi được tống ra ngoài sau khi lách
khỏi thành mỏng của phổi nước (hình 11.23). Hệ thần kinh có vòng thần
kinh phóng xạ. Tua miệng giữ nhiệm vụ xúc giác. Hải sâm không có mắt.
Một số Hải sâm có khoảng 10 (hay ít hơn) bình nang ở phía trước gần chỗ 299
xuất phát của dây thần kinh phóng xạ. Hải sâm khác với các động vật Da
gai khác là chỉ có 1 tuyến sinh dục, là một chùm ống dài, nằm cạnh màng
treo ruột. Phần lớn Hải sâm đơn tính, tuyến sinh dục hình chùm đổ vào ống
dẫn sinh dục rồi đổ ra ngoài lỗ sinh dục nằm ở vùng gian phóng xạ ở mặt
lưng và về phía trước. Một số Hải sâm không chân lưỡng tính, trứng và tinh
trùng của chúng tuy ở trong cùng một tuyến sinh dục nhưng được hình
thành ở các thời điểm khác nhau. Hải sâm thường phóng tinh trùng và trứng
vào buổi tối, trông như một giải khói trắng dưới nước.
ngày. Hải sâm ăn thực vật, động vật nhỏ (trùng lỗ, trùng phóng xạ, thân
mềm ) và mùn bã hữu cơ.
Hải sâm là nhóm động vật cho thực phẩm quý, hiện có khoảng 40 loài
là thực phẩm và dược liệu quý.
c. Phân loại
Hiện nay đã biết khoảng 1.100 loài, chia làm 5 bộ:
Bộ Tua miệng phân nhánh (Dendrochirota): Có tua miệng phân
nhánh, thường gặp ở các loài thuộc họ Cucumariidae ở ven bờ, phổ
biến là loài Leptopentacta typica.
Bộ Tua miệng trơn (Aspidochirota): Có tua miệng ngắn, đơn giản.
Có một số loài có giá trị kinh tế như Holothuria martensii, H. atra (Hải sâm
đen), H. scabra (Hải sâm trắng) thường sống ở vùng dưới triều, Stichopus
varienatus (Hải sâm gai). Trong bộ này còn có họ Hải sâm sống trôi nổi
(Pelagothuriidae) có tấm xương và chân ống điển hình, tua miệng biến đổi
thành nhánh bơi.
Bộ Không chân (Apoda): Cơ thể hình giun, không có chân ống, sống
ở độ sâu 10 - 15m, đáy cát hay bùn nhuyễn. Ở Việt Nam thường gặp
Protankyra pseudodigitata.
Bộ Chân bên (Elasipoda) có đại diện là giống Elaspidia…
Bộ Có đuôi (Molpadonia) có giống đại diện là Molpadia…
4. Tầm quan trọng của động vật Da gai
Hải sâm và Cầu gai được dùng làm thực phẩm, chúng được khai thác
tự nhiên hay gây nuôi. Nhiều nước đã xem Hải sâm phơi khô bỏ ruột là
nguồn thực phẩm quý giá (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, các nước
Đông Nam Á và Đông Phi). Cầu gai được sử dụng tuyến trứng là chủ yếu.
Sản lượng da gai được khai thác hàng năm trên thế giới là 60 - 70.000 tấn,
trong đó cầu gai chiếm 60%.
Một số động vật Da gai còn được khai thác để dùng làm dược liệu,
một số khác do có mật độ lớn nên được sử dụng làm phân bón. Bộ xương
của động vật Da gai hoá thạch là vật chỉ thị địa tầng rất quan trọng.
dây sống đều có 3 đôi túi thể xoang ở giai đoạn đầu và hình dạng của ấu
trùng mang ruột cũng rất giống ấu trùng dipleurula của động vật Da gai
(hình 11.25).
Hình 11.24 Cấu tạo tổ tiên Da gai giả thiết và hiện tượng mất đối xứng (theo
Davitachvili) 1. Miệng; 2. Hậu môn
Có thể cho rằng tổ tiên của động vật Da gai đã dùng phần trước
(phần đầu) bám vào giá thể. Cách lấy thức ăn từ chủ động chuyển sang thụ
động và lỗ miệng chuyển dần lên đỉnh là thích hợp với lối ăn mới này. Do
vậy ống tiêu hoá cũng uốn cong hình chữ U, lỗ miệng nằm gần với hậu môn 302
này là đúng. Sự hình thành các rãnh để đưa thức ăn đến miệng là một biến 303
đổi tiến hoá thích nghi với cách lấy thức ăn bằng lọc nước. Tự nhiên đã
chọn lọc theo hướng cố định các rãnh này theo đối xứng toả tròn bậc 5.
Khởi đầu đặc điểm đối xứng toả tròn thể hiện trên sự sắp xếp tấm xương,
sau đó chuyển dần vào cơ quan bên trong như hệ thống ống dẫn nước, thần
kinh, tuần hoàn và sau đó là tiêu hoá và sinh dục. Kết quả quá trình này là
cơ thể động vật Da gai chuyển từ đối xứng 2 bên sang đối xứng toả tròn.
Lớp Cầu biển (Cystoidea) là lớp nguyên thuỷ nhất trong ngành, rồi
đến các lớp khác trong phân ngành Pelmathozoa như Nụ biển (Blastoidea)
và Huệ biển (Crinoidea) tiến hoá theo hướng hình thành cánh.
Trong phân ngành Eleutherozoa thì Sao biển (Asteroidea), Đuôi rắn
(Ophiuroidea) có quan hệ gần gũi với nhau. Hải sâm còn giữ được đặc điểm
nguyên thuỷ như có tấm sàng và lỗ sinh dục trên cực miệng, chỉ có 1 tuyến
sinh dục, ruột hình ống chứng tỏ chúng rất gần với tổ tiên chung.
Cầu gai có vị trí chưa rõ, trong lớp này nhóm động vật Cầu gai không
đều có cấu trúc cơ thể trở lại đối xứng 2 bên, nhưng có thể là nhóm xuất
hiện sau cùng.
Do lối sống ít di động, phần lớn động vật Da gai hiện nay vẫn giữ cấu
tạo cơ thể đối xứng toả tròn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái. 1982. Động vật học không xương
sống tập 2. NXB Đại học và Trung học Chuyên nghiệp. Hà Nội.
2. Cleveland P. Hickman. 1973. Biology of the Invertebrates. The C.V.
Mosby Company.
3. Cleveland P. Hickman Jr., Larry S. Roberts, Frances M. Hickman.
1984. Intergrated Principle of Zoology (Senventh Edition). Times Mirror/
biến hết sức quan trọng trong phát sinh chủng loại, đưa động vật lên một
bậc thang tiến hoá mới. Từ khi hình thành động vật Đa bào có các bước
phát triển chính như sau:
Bước phát triển đầu tiên là động vật Thân lỗ (Porifera). Nhóm động
vật này có mức độ tổ chức cơ thể còn thấp như chưa hình thành mô, chưa có
hệ thần kinh, trong quá trình phát triển cá thể thì chưa có sự ổn định về vị trí
và hướng phân hoá các phôi bào của lá phôi ngoài và lá phôi trong Do
kiểu cấu trúc cơ thể như vậy nên chỉ có thể xếp động vật Thân lỗ vào một
nhóm động vật riêng là động vật Đa bào chưa hoàn thiện (Parazoa) tách
khỏi các nhóm động vật Đa bào hoàn thiện khác (Eumetazoa).
Bước phát triển tiếp theo là xuất hiện nhóm động vật có đối xứng Toả
tròn hay động vật Hai lá phôi. Tổ chức cơ thể của nhóm động vật này thể
hiện sự ổn định và vị trí và sự phân hoá tế bào của 2 lá phôi là lá phôi trong
và lá phôi ngoài.
3. Bước phát triển cao hơn là hình thành nhóm động vật đối xứng Hai
bên hay nhóm động vật Ba lá phôi. Cấu trúc cơ thể của nhóm động vật này
có ưu thế rõ rệt cho sự vận động, di chuyển và bắt mồi tích cực. Có sự định
hướng đầu đuôi, xác định mặt lưng và mặt bụng, bên trái, phải. Nhờ hệ thần
kinh, giác quan phát triển, sự hình thành hành loạt cơ quan mới có nguồn
gốc từ lá phôi thứ 3 (hệ cơ, hệ bài tiết, nhu mô, bao biểu mô ), do đó nhóm 305
động vật này ngày càng hoàn thiện về cấu tạo cơ thể và thích nghi với điều
kiện sống của môi trường.
Động vật Ba lá phôi được sắp xếp thành 2 nhóm lớn là động vật Có
miệng nguyên sinh (Protostomia) và động vật Có miệng thứ sinh
(Deuterostomia) khác nhau ở hàng loạt đặc điểm như:
+ Động vật Có miệng nguyên sinh (Protostomia): Miệng của con
trưởng thành được hình thành ở vị trí miệng phôi, lá phôi giữa được hình
phôi, đối xứng toả tròn, động vật Ba lá phôi chưa có thể xoang và động vật 306
Ba lá có thể xoang chính thức. Có thể thấy các mức độ tổ chức cơ thể như
trên ứng với các giai đoạn chính trong quá trình phát triển cá thể của động
vật Đa bào là trứng, phôi vị (gastrula) và phôi 3 lá.
II. Quan hệ phát sinh của các ngành động vật
Hiện nay đã biết khoảng 40 ngành động vật, mỗi ngành được đặc
trưng bằng một sơ đồ cấu trúc cơ thể riêng, ở một mức độ tổ chức nhất định.
Từ khi xuất hiện động vật Đơn bào nhân chuẩn đầu tiên (hoá thạch cổ nhất
là được biết có tuổi 1,8 - 1,9 tỷ năm), đến khi bùng nổ về động vật Đa bào ở
kỷ Cambri cách đây 530 triệu năm (hoá thạch động vật Đa bào phong phú
nhất so với thời kỳ trước đó) được coi là thời điểm mà sơ đồ cấu trúc chính
của cơ thể của các ngành động vật đã xuất hiện đầy đủ. Từ kỷ Cambri đến
nay động vật tiến hoá theo hướng làm phong phú thêm các đơn vị phân loại
trong từng ngành động vật chứ không xuất hiện thêm ngành mới nào.
Hình 12.1
Phôi hoá thạch của động vật đa
bào (theo Pechenik)
(đường kính khoảng 500μ, 570
triệu năm tuổi, phát hiện năm
1998)
nhánh (ngành), cành (lớp) Vì vậy người ta đã thể hiện mối quan hệ phát
sinh chủng loại trên sơ đồ một cây, một gốc, trên đó toả ra nhiều nhánh, rồi
các nhánh lại toả ra nhiều cành (hình 12.2). Trên hình 12.2 là một trong
các cây phát sinh động vật được xây dựng trên quan điểm đơn phát sinh 307
nhằm giới thiệu quan hệ phát sinh giữa các ngành động vật. Hình 12.2 Sơ đồ
q
uan h
ệ
hình thành thể xoang (phân tách hay lõm ruột), về số lượng của đôi túi thể
xoang (nhiều hơn 3 đôi hay ít hơn 3 đôi) và về quan hệ giữa miệng phôi với 308
miệng con trưởng thành (miệng con trưởng thành được hình thành từ miệng
phôi hay hình thành mới) vẫn được dùng để phân biệt 2 hướng tiến hoá
này (hình 12.3).
N
đổi vị trí hay độ lớn mà không ảnh
hưởng đến toàn bộ cơ thể, dịch thể
xoang có nhiều chức phận quan
trọng, hoạt động của thể xoang như
là mộ bộ xương nước giúp cho
nhiều oài động vật di chuyển
i
u
a
Đ
Đ
ạ
t
Hình 12.3 So sánh phát triển phôi của
ĐVCMNS và ĐVCMTS (theo
Campbell)
A. ĐVCMNS; B. ĐVCMTS; I.Phân cắt
trứng (a. Xoắn ốc và xác định; b. phóng
xạ và xác định); II. Cách hình thành thể
xoang (a. Bằng phân tách; b. Bằng lõm
ruột); III. Hình thành miệng con trưởng
thành (a. từ miệng phôi; b. hình thành
mới); 1. Khoang ruột nguyên thuỷ; 2.
Thể xoang; 3. Lá phôi giữa; 4. Miệng
phôi; 5. Lỗ miệng; 6. Hậu môn; 7. Ống t
l
Tuy nhiên nếu xét về quá trình hình thành xoang cơ thể thì ít nhất có 3
Barnes R.S.K., Calow P., Olive P.J.W. 1993. The Invertebrates: a new
synthesis. Blackwell Sci- Pub., 2
nd
edit. Oxford.
3. Cleveland P. Hickman Jr., Larry S. Roberts, Frances M. Hickman.
1984. Intergrated Principle of Zoology (Senven Edition). Times Mirror/
Mosby College Publishing St. Louis - Toronto - Sanatacla.
4. Sylvia S. Mader. 1887. Biology. Wm. C. Brown Publishers Dubuque.
Iowa.
5.
Westheide W., Rieger R. 1996. Spezielle Zoologie. Gustav Fischer
Verlag. Stuttgart.
310
Tài liệu tham khảo chính
1. Thái Trần Bái, Hoàng Đức Nhuận. 1988. Động vật học (Phần
Động vật Không xương sống). NXB Giáo dục. Hà Nội.
2. Thái Trần Bái. 2001. Động vật học Không xương sống. NXB
Giáo dục. Hà Nội.
3. Thái Trần Bái. 2003. Động vật học Không xương sống. NXB
Giáo dục. Hà Nội.
Fischer Verlag. Stuttgart.
311
Mục lục Trang
Lời nói đầu i
Chương 1 - Mở đầu
Động vật học là một khoa học 1
Sự đa dạng của động vật 1
Sự phân bố của động vật 2
Sơ lược về phát triển của thế giới động vật qua các kỳ địa chất 2
Vị trí của động vật trong sinh giới và hệ thống học động vật 3
Chương 2 - Phân giới Động vật nguyên sinh (Protozoa)
Đặc điểm chung của Động vật nguyên sinh 7
Hệ thống học Động vật nguyên sinh 10
Ngành Trùng chân giả (Amoebozoa) 12
Ngành Trùng lỗ (Foraminifera) 15
Ngành Trùng phóng xạ (Radiozoa) 17
Ngành Trùng mặt trời (Heliozoa) 19
Ngành Động vật cổ (Archaezoa) 19
NgànhTrùng roi động vật (Euglenozoa) 21
Ngành Trùng roi giáp (Dinozoa) 25
Ngành Trùng roi cổ áo (Choanozoa) 26
Ngành Trùng bào tử (Sporozoa) 27
Ngành Trùng bào tử gai (Cnidosporozoa) 30
Ngành Trùng vi bào tử (Microsporozoa) 31
Chương 5 - Động vật Không có thể xoang
(Acoelomata)
Ngành Giun dẹp (Platyhelminthes) 76
Đặc điểm chung của ngành Giun dẹp 76
Hệ thống học Giun dẹp 77 313
Lớp Giun dẹp Có tiêm mao = Sán lông (Turbellaria) 77
Lớp Sán lá Hai vật chủ (Digenea) 81
Lớp Sán lá Một vật chủ (Monogenoidea) 86
Lớp Sán dây (Cestoida) 87
Phát sinh chủng loại ngành Giun giẹp 90
Ngành Gnathostomulida 92
Ngành Giun vòi (Nemertini) 93
Đặc điểm cấu tạo và sinh lý 93
Đặc điểm sinh sản 95
Sinh thái, phân bố và đa dạng 97
Phát sinh chủng loại 97
Chương 6 - Các ngành Động vật có Thể xoang giả
(Pseudocoelomata)
Ngành Trùng bánh xe (Rotatoria) 99
Đặc điểm cấu tạo và sinh lý 100
Sinh sản và phát triển 101
Phân loại 102
Phát sinh chủng loại 103
Ngành Giun bụng lông (Gastotricha) 104
Ngành Kinorhyncha = Echinodera 105
Sinh sản và phát triển 146
Phân loạiChân rìu 147
Tầm quan trọng của Chân rìu 148
Lớp Chân thuỳ = Chân búa = Chân xẻng (Scapoda) 149
Lớp Chân đầu (Cephalopoda) 150
Đặc điểm cấu tạo và sinh lý 150
Sinh sản và phát triển 154
Phân loại và tầm quan trọng kinh tế 154